Xu Hướng 2/2024 # 10 Mẫu Thuyết Minh Về Cây Hoa Đào Hay Chọn Lọc # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 10 Mẫu Thuyết Minh Về Cây Hoa Đào Hay Chọn Lọc được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thuyết minh về hoa đào ngày Tết

Thuyết minh về cây hoa đào – Nhắc đến ngày Tết thì không thể không nhắc đến hoa đào hoa mai. Có thể nói hình ảnh hoa đào hoa mai đã trở thành linh hồn của ngày Tết cổ truyền. Trong bài viết này Wikihoc xin chia sẻ đến các bạn đọc các bài thuyết minh về hoa đào ngày tết hay và chọn lọc nhất, mời các bạn cùng tham khảo.

Thuyết minh về một loài hoa ngày Tết là dạng đề bài thường gặp trong chương trình Ngữ văn lớp 8. Nói về ngày Tết, chắc hẳn ai cũng nghĩ đến hoa mai hoa đào, những loài hoa đã làm nên đặc trưng về ngày Tết của 2 miền Nam Bắc. Vậy hoa đào có những loại nào, nguồn gốc ra sao? Trong bài viết này wikihoc xin chia sẻ đến các bạn đọc các bài văn mẫu thuyết minh về hoa đào, thuyết minh về hoa đào ngày Tết thật hay và ý nghĩa để các bạn hiểu rõ hơn về loài hoa truyền thống của dân tộc.

1. Mở bài:

– Giới thiệu về cây hoa đào: Là loài cây đặc trưng và không thể thiếu trong ngày tết của miền Bắc Việt Nam.

2. Thân bài:

– Giới thiệu chung về cây hoa đào (đặc trưng như thế nào? Là biểu tượng cho mùa xuân, …)

– Nguồn gốc của cây hoa đào:

+ Được biết đến là có nguồn gốc từ Ba Tư cổ nhưng cũng có thể xuất phát từ Trung Quốc

+ Là một loài cây thân gỗ, có hoa và quả

+ Sự tích về cây hoa đào: Được dùng như một loài cây để xua đuổi tà ma

– Đặc điểm và hình dáng của cây hoa đào:

+ Là một loài cây thân gỗ, ưa phát triển vào mùa xuân miền nhiệt đới

+ Một cây hoa đào bao gồm thân gỗ, lá, hoa và quả.

– Phân loại đào: Người ta có nhiều cách phân loại đào khác nhau:

+ Đào bích và đào phai

+ Đào cánh đơn và cánh kép

+ Ngoài ra còn có loại đào đặc biệt là đào cánh trắng.

– Công dụng của cây hoa đào:

+ Cây hoa đào có tác dụng làm đẹp, trưng bày trong ngày tết.

+ Hoa đào có tác dụng làm đẹp

– Cách thức gieo trồng và chăm sóc cây hoa đào:

+ Thường được gieo trồng bằng cành cây.

+ Đào sẽ ra hoa vào những tháng giáp Tết, chính vì vậy trước tết tầm hai tháng, người thợ vườn đào sẽ chăm sóc để hoa đào ra đúng dịp tết âm lịch.

+ Đào là loài cây ưa sự ấm áp pha chút lạnh.

– Ý nghĩa của cây hoa đào:

+ Là một loài cây không thể thiếu trong dịp Tết Nguyên Đán hằng năm của dân tộc.

+ Mang niềm vui, may mắn cũng như tài lộc vào nhà.

3. Kết bài:

– Khẳng định lại ý nghĩa của cây hoa đào

– Cây hoa đào là biểu trưng không thể thiếu của dân tộc ta.

1) Mở bài: Năm nào cũng vậy, cứ mỗi độ xuân về người ta thường thấy hoa đào nở rộ, một loài hoa đặc trưng cho Hà Nội.

2) Thân bài

a. Nguồn gốc: Phân loại: Ở Việt Nam, đào có rất nhiều loại, nhưng được biết đến nhiều nhất là đào bích, đào phai, đào bạch,… Một số người thích chơi đào vì cho rằng màu đỏ tượng trưng cho sự may mắn, phúc lộc đầu năm. Ở Hà Nội có hai vùng trồng đào đẹp nổi tiếng là Nhật Tân và Ngọc Hà. Một số người chơi đào lại thích đào Sapa vì cái vẻ xù xì, rêu mốc của cành, loáng thoáng nụ và hoa được ẩn trong lá một sức sống mãnh liệt thắng mọi thử thách.

b. Đặc điểm, hình dáng: Hoa đào có năm cánh, nụ hoa phô màu hồng xinh xắn. Cành đào khẳng khiu, lá thưa thớt mang một vẻ đẹp trang nhã, kín đáo.

c. Cách gieo trồng, chăm sóc: Cây đào chỉ trồng ở miền Bắc, là loài hoa chỉ nở vào mùa xuân. Nhưng muốn cho hoa nở đúng vụ lại là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi nhiều kinh nghiệm của người trồng hoa. Ngày nay, người ta có thể dùng kỹ thuật ghép để có được những cành đào tuyệt đẹp như ý muốn.

3) Kết bài: Hoa đào dịu hiền, hoa mai tươi thắm. Các loài hoa đều đua nhau khoe sắc với đất trời. Mỗi loài đều có màu sắc riêng, hương thơ riêng, vẻ đẹp riêng. Nhưng tất cả đều góp phần tô thắm cho sắc xuân thêm tươi vui, đầm ấm và mang niềm vui hạnh phúc đến cho muôn nhà vào ngày tết cổ truyền.

Trên thế giới có rất nhiều quốc gia cũng có hoa đào. Tuy nhiên đối với người Việt Nam hoa đào lại mang một ý nghĩa thật đặc biệt. Có thể nói, hoa đào là một loài hoa mang trọn vẹn nét đẹp của ngày Tết cổ truyền. Và không tự bao giờ, cứ thấy hoa đào nở là chúng ta lại biết Tết đã đến rồi.

Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, khi đi ngang qua các tỉnh miền núi phía Bắc chúng ta có thể nhìn thấy những cây đào nở rộ hoa ở ven sườn núi hay bên trong nhà dân bản. Đặc biệt ở các vùng ven đô và cận nội thành như vườn đào Quảng Bá, Nhật Tân. Những cây đào được các nghệ nhân chăm bón và tỉa cành tạo ra những cành đào thế có một không hai.

Cây hoa đào có nhiều giống, phổ biến nhất là đào bích, bông hoa nhiều cánh màu hồng thẫm, phủ từ gốc tới ngọn. Đào phai hoa màu hồng nhạt, đào bạch hoa màu trắng, tương đối khó trồng. Đào thất thốn cây thấp, hoa nhỏ màu độ thắm, thường được trồng vào chậu và uốn thành các dáng thế theo ý muốn. Các giống đào này đều chỉ cho hoa chứ không cho quả.

Cây đào ưa đất thịt, đất phù sa, phân mùn và cần nhất là không gian thoáng đãng, nhiều ánh sáng. Cây đào rụng lá hàng năm vào mùa đông, đến mùa xuân lại nảy lộc, ra hoa. Vì vậy, người trồng phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật để làm cho cây đào nở hoa đúng vào dịp Tết. Giữa tháng Chạp (12 Âm lịch), nụ hoa hé là vừa. Nếu trời trở gió nồm, thời tiết ấm lên thì hoa có thể nở sớm. Muốn hãm thì phải ngưng tưới để đất hơi khô.

Cách Tết độ vài ngày, hoa đào bắt đầu nở lác đác. Những cánh hoa hồng thắm chi chít khắp cành. Từng chùm lá non xanh như ngọc bích rung rinh trước gió. Sáng mồng Một Tết, hoa đào nở rộ, hương thơm nhẹ nhàng, thoang thoảng. Một màu hồng rực bao phủ khắp cây đào, tạo ngôn vẻ đẹp có sức quyến rũ lạ lùng. Nhìn hoa đào nở, lòng người hân hoan xúc động trước linh hồn của mùa xuân.

Trong hàng trăm ngàn loài hoa, hoa nào cũng có vẻ đẹp riêng, nhưng đặc biệt hơn cả là hoa đào mang tới cho con người sức sống rạo rực của mùa xuân. Màu hồng của hoa đào như một lời chúc tốt lành, đem lại sự may mắn trong năm mới. Cùng với hoa mai miền Nam, hoa đào miền Bắc đã góp phần tô điểm cho sắc xuân tuyệt vời của đất nước Việt Nam yêu dấu.

Như một vòng tuần hoàn của cuộc sống, đông qua, xuân đến. Chúa xuân mang đến cho vạn vật những tia nắng ấm áp sau một mùa giá lạnh, thổi vào cuộc sống hương vị ngọt ngào của mùa xuân. Nếu như hoa mai tượng trưng cho một cái Tết sung túc ở phương Nam thì hoa đào là biểu tượng cho một mùa xuân bất diệt ở miền Bắc.

Tuy có nguồn gốc xa xôi ở xứ Ba Tư, thế nhưng ngày nay hoa đào có mặt ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam đặc biệt là ở miền Bắc và mỗi khi Tết đến Xuân về.

Cây đào thuộc họ hoa hồng, thân gỗ nhỏ, cao khoảng từ năm đến mười mét, lá có hình mũi mác. Hoa mọc đơn độc, có màu hồng hoặc màu trắng, năm cánh mềm mại, mịn màng như nhung. Khi cây ra hoa ngắn, hầu như không có cuống, đài có ống hình chuông, thùy hình trứng, có nhiều nhị. Dòng họ của hoa đào rất đa dạng và phong phú.

Nếu xếp theo số cánh thì có thể chia đào thành hai loại là đào đơn và đào kép. Còn xếp theo màu sắc thì có thể chia đào thành đào phai, đào bích, đào bạch, đào thất thốn. Nhưng có lẽ đẹp nhất vẫn là đào bích. Đào bích cánh hoa màu hồng thắm, tán tròn nhiều cành cân đối. Đào phai màu nhạt, hồng tươi, trang nhã mà hấp dẫn như đôi má ửng hồng của người thiếu nữ khi thẹn thùng. Đào bạch ít hoa tương đối khó trồng. Đào thất thốn dáng nhỏ, hoa nhỏ, có màu đỏ thẫm.

Hoa đào chỉ trồng được ở miền Bắc và nở đúng vào mùa xuân. Nhưng muốn hoa nở đúng thời vụ thì đòi hỏi nhiều kinh nghiệm ở người trồng hoa. Và thi sĩ Xuân Sách đã dùng những lời thơ để nêu ra cách làm cho hoa nở đúng ngày Tết:

“Vặt trụi lá, bè trơ cành

Đê cây tức giận nở thành trăm hoa”

Vì vậy, muốn có đào chơi vào ngày Tết thì tháng mười một âm lịch người ta thường ngắt hết lá để nhựa cây tích tụ lên thân làm nụ. Rồi tùy theo thời tiết nóng hay rét nhiều mà người trồng đào phải thúc hay hãm hoa.

Nếu ở miền Nam, xuân về phải có mai vàng, một biểu tượng cho sự giàu sang, phú quý, hạnh phúc và sum vầy thì ở miền Bắc có hoa đào mới có mùa xuân. Người miền Bắc ưa chuộng chơi đào vào ngày Tết có lẽ vì màu hồng mang lại sự may mắn và phúc lộc đầu năm. Các cụ ngày xưa thường bảo, cắm một cành đào trong nhà là cản được gió độc và đuổi được tà khí. Và sân nhà ai có trồng đào thì đó là sân nhà phú quý.

Những nhà có điều kiện thường sắm cả một cây đào ghép ba tầng, những nhà nghèo hơn cũng có mua một vài nhánh đào chưng trong nhà. Đón xuân mà không có hoa đào cũng tẻ nhạt như thiếu bánh chưng xanh, câu đối đó, tràng pháo hồng. Vì vậy, Tết đến, dù bận việc đến mấy thì người dân miền Bắc cũng phải mua cho gia đình mình một vài nhánh đào.

Hoa đào không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn mang nét đẹp văn hóa đồng thời còn là một dược phẩm, mỹ phẩm độc đáo. Từ xưa, hình ảnh của hoa đào đã được đưa vào thơ ca làm xúc động lòng người. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du có nhắc đến hình ảnh của hoa đào trong sự luyến tiếc khi cảnh cũ còn mà người xưa không thấy: “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Và vẻ đẹp mơn mởn của hoa đào trong ngày Tết còn thể hiện qua câu thơ:

“Một đóa đào hoa khoe tốt tươi,

Tướng xuân mơn mởn thấy xuân cười”.

Mùa xuân năm Kỉ Dậu, vua Quang Trung sau khi đại thắng quân Thanh, đã mang một cành đào từ Thăng Long về Phú Xuân để tặng cho công chúa Ngọc Hân – người vợ yêu quý của người – để báo tin thắng trận. Trong lịch sử y học Á Đông, danh y Tuệ Tĩnh đã ghi lại nhiều phương pháp chăm sóc da mặt cho phụ nữ bằng hoa đào.

Cây đào không dễ trồng như cây mai. Nó là một loại cây ưa đất thịt, phân bón vừa phải, cần nhiều ánh sáng, thoáng và thông gió. Ở miền Bắc Việt Nam, người ta trồng đào để lấy hoa chơi Tết, sau ngày Tết, người ta tiếp tục trồng đào trở lại.

Xuân về mang đến bao nhiêu điều kì diệu. Đúng là muôn hồng, nghìn tía, cái đẹp đi đến từng người, từng nhà và hoa đào là một món quà mà thiên nhiên ưu ái dành tặng cho con người. Xuân đến rồi xuân đi, hoa đào nở rồi lại tàn, thế nhưng hình ảnh của hoa đào vẫn Còn sống mãi với thời gian như lời thơ của Chế Lan Viên:

“Một cành đào ứa nhựa

Nặng bàn tay anh cầm,

Nghe hương thầm lan tỏa

Qua màn sương thời gian”

Hàng năm mỗi độ tết đến xuân về, tiết trời ấm áp là lúc hoa đào bắt đầu nở rộ. Hoa đào sẽ tô thêm vẻ đẹp cho hương sắc của mùa xuân, khiến cho cái tết của mọi nhà thêm ấm áp. Hầu hết các tỉnh ở Bắc Bộ đều coi hoa đào là đặc trưng trong ngày tết của mình.

Người ta đã đặt cho đào với tên khoa học là Prunus Persica. Có nhiều giống đào nhưng đào bích được coi là giống đào đẹp nhất. Hoa đào bích có nhiều cánh xếp chồng lên nhau màu hồng thẫm, loại này được trồng để chỉ lấy hoa. Giống thứ hai là giống đào phai, hoa có năm cánh, cánh màu phớt hồng, được trồng để lấy quả. Giống đào bạch hiếm thấy, cây nhỏ ít hoa có màu trắng tinh khiết. Đào thất thốn có hoa màu đỏ thẫm, khó trồng, khó chăm sóc, nên ít được người ta trồng.

Mùa xuân đến hoa đào nở rộ, cánh đào mỏng mềm và mịn như nhung, có những năm khi tết đã đến, xuân về nhưng tiết trời lạnh, hoa đào không thể nở được. Đào mọc thành từng bông riêng lẻ chứ không mọc thành chùm. Hoa đào thường nở 4-5 ngày thì tàn. Để cho ra một cây hoa đào đẹp, người trồng đào phải mất rất nhiều thời gian và công sức để trồng đào.

Đào trồng để ăn quả thì không phải chăm sóc nhiều. Từ việc đốn cành tỉa lá uốn cây theo các thế khác nhau đều phải rất tỉ mỉ và khéo léo. Trước tết khoảng 15 ngày, người trồng đào phải tuốt lá để đào sai hoa vào đúng dịp Tết. Ngày tết mà có cảnh đào trong nhà, sẽ tạo nên sự ấm cúng, một năm mới đủ đầy của mỗi nhà.

Bên cạnh bánh chưng xanh, câu đối đỏ, mâm cỗ tất niên là cành đào nhỏ, góp phần tăng thêm hương vị cho ngày tết. Đào không chỉ góp phần tô đậm thêm cho hương sắc của mùa xuân mà còn là loại cây mang lại giá trị kinh tế cao. Tùy thuộc vào mức độ đẹp và to nhỏ khác nhau mà mỗi cây đào có giá khác nhau, chúng có giá từ vài chục nghìn đến vài triệu đồng.

Hoa đào cùng với bánh chưng xanh là thứ không thể thiếu trong dịp lễ tết cổ truyền của dân tộc. Khách du lịch đến Việt Nam coi cành đào là món quà mang giá trị tinh thần lớn, những người con xa xứ khi ngắm cành đào lại nhớ về quê hương, như được sống với không khí tết của quê hương mình.

Cây đào không chỉ để làm cảnh, lấy quả mà còn dùng để chế thuốc rất hiệu quả. Hoa đào được chế làm thuốc đắp mặt, đem lại là da mát, mịn màng, hồng hào cho người phụ nữ. Hoa đào còn được chế thành thuốc chữa bệnh bí đại tiện rất hiệu quả.

Xã hội phát triển, con người có nhiều thứ để bày trong ngày tết, nhưng hoa đào vẫn luôn được mọi người yêu thích. Dù có những lễ vật sang trọng đến đâu, người ta vẫn muốn có một cây đào đẹp trong ngôi nhà của mình vào dịp tết.

Bàn về ngày lễ ở Việt Nam, không thể quên nhắc đến Tết. Nhắc đến Tết không thể quên nồi bánh chưng và cành mai, cành đào. Hình ảnh hoa đào, hoa mai đã trở thành linh hồn của ngày Tết. Nói đến mai là miền Nam rực rỡ sắc vàng, còn đào lại là sắc hồng thắm của miền Bắc. Hoa đào đã trở thành nét riêng của miền Bắc Việt Nam.

Trước hết, có thể lí giải vì sao hoa đào là nét riêng của miền Bắc. Miền Bắc có khí hậu khá khác so với miền Nam. Miền Bắc vào mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc tràn về nên có nền nhiệt thấp, lạnh. Khi sang xuân, thời tiết ấm áp dễ chịu. Xuân sang cũng là lúc đào nở rộ. Cây đào rất kén nhiệt và nơi sinh sống.

Đào không chịu được nhiệt độ quá lạnh, cũng không chịu được quá nóng. Đào cần được trồng ở những nơi nhiều ánh nắng và thông thoáng gió. Ở nhiệt độ quá lạnh, đào sẽ không thể nở hoa và phát triển. Chồi hoa bị chết ở nhiệt độ -15 đến -25 độ C. Sau khi hoa tàn, quả đào sẽ phát triển và chỉ chín được vào mùa hè với nhiệt độ lý tưởng là 20 đến 30 độ C.

Quả đào là một loại trái cây được yêu thích. Đào có rất nhiều loại: đào bích, đào phai, đào bạch… Nhưng phổ biến nhất vẫn là đào bích. Đào bích có nhiều cánh, cánh hoa màu đỏ thắm. Đào phai có màu sắc nhạt hơn, cánh hoa đã chuyển sang màu hồng. Đúng như tên gọi, đào bạch màu trắng, là loài hoa hiếm và khó trồng nhất.

Hoa đào được trồng ở hầu hết các tỉnh miền Bắc như Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Nội.. Được ưa chuộng nhất vẫn là đào Nhật Tân. Nhật Tân là vườn đào nổi tiếng ở Việt Nam. Nơi đây nằm ở vùng đất ven sông Hồng ở Hà Nội. Vườn đào này nổi tiếng không chỉ bởi quy mô mà còn cả chủng loại và chất lượng đào. Hoa đào rất thích hợp với loại đất ven sông nhiều phù sa nên chất lượng đào ở Nhật Tân được đánh giá cao là vì thế. Cây đào có nguồn gốc từ Trung Quốc, được lựa chọn và lai giống để có màu sắc tươi và rực rỡ hơn.

Cây đào khá kén chăm sóc và tưới bón. Nếu không chăm sóc tốt, tưới tiêu phù hợp, đào sẽ không thể nở hoa đẹp hoặc nở đúng thời kỳ. Ngoài ra cũng còn dựa vào khí hậu thời tiết, đào sẽ ra hoa vào lúc nào. Cũng như mai, đào muốn nở hoa, người trồng đào phải tuốt lá trước khoảng hai tuần để nụ hoa đơm ra, hoa nở đúng mùa vụ. Mỗi năm, hoa đào chỉ nở một lần vào mỗi độ sang xuân.

Vào hè quả đào sẽ chín. Quả đào thường có vị chua, là loại trái cây yêu thích của nhiều người. Lá đào không giống lá mai. Lá đào dài hơn, có vân là răng cưa, màu xanh lá nhạt không đậm, rì như lá cây mai. Cành đào cũng mảnh và mỏng hơn so với cây mai. Cánh đào tương tự cánh mai, mỏng, nhẹ.

Hoa đào có nhiều cánh cứ đan xen vào nhau mang màu hồng thắm hoặc nhạt theo từng giống đào. Hoa đào nở rất nhanh, tàn cũng rất nhanh. Trung bình một bông hoa từ lúc thành nụ đến khi tàn là khoảng 2 đến 3 tuần. Khi đào nở bung chuẩn bị tàn, chỉ cần một làn gió nhẹ thổi qua, cánh hoa đào cũng sẽ rơi xuống hệt như hoa anh đào của Nhật Bản.

Tùy theo chủng loại, tuổi đời và cách chăm bón, cây đào có nhiều kích thước khác nhau. Có thể rất nhỏ hoặc rất lớn. Rễ cây đào là rễ cọc, luôn có thân giữa cứng cáp to lớn làm trụ. Trung bình một cây đào cao khoảng 1 mét trở lên. Cây đào có nhiều cành, cành mềm dẻo dễ uốn nắn. Vì thế mà người trồng đào có thể uốn nắn theo từng hình dáng, tướng tá khác nhau. phù hợp với thị yếu của người mua.

Hoa đào mang rất nhiều ý nghĩa. Trước đây, hoa đào mang tinh thần đuổi ma quỷ trong nhà. Ngày nay, hoa đào mang lại sự ấm cúng cho gia đình, mang lại sự an khang thịnh vượng. Vẻ đẹp đằm thắm, hài hòa và kín đáo của hoa đào mang lại niềm vui, niềm hi vọng mới. Không chỉ thế, hoa đào còn đại diện cho tình bạn thân thiết, của lòng hướng về gia đình. Bởi vậy mà những người con miền Bắc xa quê, những người bạn thân đến thăm nhau vào dịp tết thường chọn cành đào làm quà.

Hoa đào ngày nay đã trở thành tinh thần ngày tết, hồn dân tộc Việt. Vì thế, nên những người Việt xa quê, đón Tết tại nơi xứ người, luôn muốn tìm một cành đào để trang trí trong nhà, để họ cảm thấy một cái tết Việt Nam. Sắc hồng thắm nhẹ nhàng của đào là hương vị không thể thiếu của người Việt Nam. Thiếu đào, cái hơi thở của Tết chưa thật sự đúng nghĩa. Hoa đào, hoa mai là hình ảnh của Tết, là linh hồn của ngày Tết quê hương.

Đào khoe sắc thắm báo hiệu một năm đã qua, năm mới lại về. Năm mới với những thử thách mới, hi vọng mới, niềm tin mới. Sắc đào rộ lên là lúc báo hiệu thời khắc thiêng liêng của một năm lại tới. Người người ai ai cũng quây quần đoàn tụ với gia đình. Dù ai đi ngược về xuôi vẫn nhớ đến gia đình quê hương mà tìm về vào dịp Tết không quên mang theo cành đào, cành mai về làm quà.

Nói đến mùa xuân đất Bắc ta nghĩ ngay đến hoa đào – loại hoa đặc biệt mỗi dịp xuân về. Mùa xuân về trên những cành hoa ửng hồng duyên dáng và đất trời bồi hồi thổn thức, ấy là xuân, ấy là sắc hoa, Cây đào là loại hoa đặc biệt của Tết Nguyên Đán. Nhiều người chuộng chơi hoa đào tết vì hoa đào có màu đỏ sẽ mang lại sự may mắn trong năm.

Mặc dù nguồn gốc được cho ở xứ Ba Tư xa xôi nhưng ngày nay hoa đào có mặt khắp nơi trên đất nước ta, đặc biệt là ở miền Bắc mỗi khi Tết đến Xuân về. Người ta yêu loài hoa này vì những giá trị thẩm mỹ và văn hóa của nó. Nó là một loài cây sớm rụng lá, thân gỗ nhỏ, có thể cao tới 5-10m. Lá của nó có hình mũi mác, dài 7-15cm và rộng 2-3cm.

Hoa nở vào đầu mùa xuân, trước khi ra lá, hoa đơn hay có đôi, đường kính 2,5-3cm, màu hồng, ở nước ta đào được quan tâm nhiều đến hoa mỗi độ xuân về. Hoa đào ở Việt Nam có bốn giống thường thấy là: Đào bích có màu hồng thẫm, đào phai hoa màu hồng nhạt, đào phai hoa kép, sắc hồng phảng phất kiêu kì, đào bạch màu trắng ít hoa hơn, tương đối khó trồng; đào thất thốn cây thấp nhỏ, hoa nhỏ và nhiều màu, thường được trồng vào chậu uốn thành các dạng thế.

Đào bích là loài hoa đào phổ biến, cành hoa thắm sắc, hoa rải đều khắp các cành, các tán, xen lẫn nụ hoa xinh với những lộc xanh, chen lẫn những cánh hoa xòe tán với những nụ vừa nhú. Bích đào dù được cắm trong lọ để phòng khách, trên bàn tiếp khách hay vài cành nhỏ cắm trên bàn thờ gia tiên cũng đều đẹp.

Người chơi công phu thì chọn đào tết từ trước đó cả tháng. Nào thì thế phượng, thế rồng, nào thì đủ lộc đủ tán…còn kẻ mua hoa về cắm Tết cho đúng với khí xuân thì chỉ chăm chăm nhiều nụ nhiều lộc là được. Chọn được cành đào ưng ý mang về, phải có cái bình đẹp, đốt phần cắt cành để giữ lại nhựa mà nuôi sống thân cành, mà đơm cho hết những nụ hoa trên cành. Có nhà cầu kì chơi hoa đào từ sớm, qua Tết hết hoa, lại kiếm cành đào mới mà chơi cho đến tận rằm tháng Giêng. Ấy thế là mùa xuân cứ tưng bừng gần cả tháng trời.

Với văn hóa Việt Nam, hình ảnh hoa đào được gắn với hai vị thần Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây hoa đào khổng lồ che chở cho dân chúng. Hoa đào còn là hình ảnh những cô gái trẻ, mảnh mai, và yếu đuối, thể hiện qua thành ngữ “liễu yếu đào tơ”. Hoa đào còn có mặt trong văn học dân gian gắn bó với tình yêu và duyên nợ của trai gái:

“Mưa xuân, lác đác vườn đào

Công anh đắp đất, ngăn rào trồng hoa

Ai làm gió táp, mưa sa

Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn.”

Hay:

“Hoa đào héo nhụy anh thương

Anh mong bẻ lá, che sương cho đào.”

Ta còn bắt gặp hình ảnh hoa đào trong thơ Nguyễn Du, trong thơ Nguyễn Bính, thơ Vũ Đình Liên… và nhiều bài thơ hiện đại, tất cả đều tượng trưng cho mùa xuân, tuổi trẻ và sắc đẹp.

Hoa đào còn là một dược phẩm và mỹ phẩm độc đáo của nền y học cổ truyền. Từ xa xưa, sau dịp Tết Nguyên Đán, người ta thường thu hái hoa đào đem phơi khô trong bóng râm (phơi âm can) và bảo quản nơi cao ráo để làm thuốc dùng dần chữa nhiều chứng bệnh nhưng đặc biệt tốt với việc làm đẹp cho phụ nữ.

Hoa đào đã trở thành một loài hoa mang theo biểu tượng của mùa xuân. Và mãi mãi hoa đào mang xuân đến, mang niềm vui và may mắn, đồng hành cùng con người Việt Nam, bất chấp sự vô hạn của thời gian và sự hữu hạn của đời người.

Hà Nội vào xuân náo nức lòng người. Ngày Tết không thể thiếu hoa đào – một loài hoa biểu tượng cho mùa xuân và sức sống bất diệt của miền Bắc.

“Một đóa đào hoa khoe tốt tươi

Tường xuân mơn mởn, thấy xuân cười”.

Tiết xuân se lạnh, những hạt mưa xuân giăng nhè nhẹ tô thắm cho hoa, làm cho chồi non lộc biếc nở rộ trong các vườn hoa Nhật Tân, Quảng Bá, Thụy Khuê, Ngọc Hà. Hoa theo các cô hàng hoa tràn vào ba sáu phố phường Thủ đô.

Người ta chuộng chơi đào ngày Tết có lẽ vì hoa đào có màu hồng đỏ mang lại may mắn, phúc lộc đầu năm. Các cụ ngày xưa thường bảo cắm cành đào trong nhà là cản được gió độc, đuổi tà khí ra ngoài. Cây đào chỉ trồng được ở miền Bắc, hoa nở vào mùa xuân nhưng muốn cho hoa nở đúng thời vụ thì lại là một vấn đề phức tạp.

Nó đòi hỏi nhiều kinh nghiệm của người trồng hoa. Muốn có hoa đào chơi Tết, tháng mười một, cây đào đã phải chịu đớn đau, bị bỏ đi hết lá, để nhựa cây tích tụ vào thân làm nụ. Tùy theo thời tiết nóng hay rét nhiều mà người trồng đào phải thúc hay hãm (Thúc là bón cho cây phát triển nhanh hơn. Hãm là khía nhiều vòng quanh thân cho nó phát triển chậm lại).

Thường hoa đào là một trong các thú chơi dân gian của người Hà Nội. Người chơi đào thích đào Sa Pa vì cái vẻ xù xì rêu mốc của cành, loáng thoáng nụ và hoa được ăn trong lá thể hiện một sức sống mãnh liệt chiến thắng mọi thử thách. Từ xưa, hoa đào đã đi vào thơ ca làm xúc động lòng người. Trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhiều lần nói tới hoa đào, như:

“Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”

Mùa xuân năm Kỉ Dậu, vua Quang Trung sau khi đại thắng quân Thanh đã mang cành đào từ Thăng Long vào Phú Xuân tặng công chúa Lê Ngọc Hân – vợ yêu của mình để báo tin chiến thắng.

Trong lịch sử dược học Á Đông, hoa đào được dùng sắc uống lấy làm thuốc chữa bệnh thủy thủng và bí đại tiện. Nhân hạt đào có chứa dầu béo amydalin và men amusing. Danh y Tuệ Tĩnh đã nhiều lần nhắc đến tên các vị thuốc có hoa đào trong cuốn sách nổi tiếng “Tam dược thần hiệu”.

Tết miền Bắc có hoa đào mới là Tết. Cành đào là vẻ đẹp mùa xuân giống như trong Nam có mai vàng. Nhiều nhà có điều kiện có thể chơi một cành đào ghép mận ba tầng, giá trị bằng vài năm tiền lương, không thì một vài cành đào cũng xong nhưng không thể thiếu. Thiếu hoa đào cũng tẻ nhạt như thiếu bánh chưng xanh, câu đối đỏ, tràng pháo hồng.

Hoa đào không chỉ là vật trang trí, làm cảnh bình thường. Nó còn tượng trưng cho sự may mắn, phúc lộc. Người Việt Nam quan niệm có cành đào trong nhà thì sẽ xua đuổi được tà ma, ám khí. Vì thế, trong những ngày Tết, dù bận đến mấy, ai cũng cố mua cho gia đình một cành đào.

Mùa xuân thật kì lạ! Đúng là muôn hồng nghìn tía, cái đẹp đến từng nhà, từng người và hoa đào chính là phần thưởng xứng đáng của thiên nhiên, đất trời, ai cũng có thể hưởng và chắc chắn hoa đào sẽ còn lại mãi với thời gian như lời thơ của Chế Lan Viên:

“Một cành đào ứa nhựa

Nặng bàn tay anh nắm

Nghe hương thầm lan tỏa

Qua màn sương thời gian.”

“Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già”.

Hoa đào tự bao giờ đã đi vào thơ ca một cách rất tự nhiên. Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về có muôn trăm khoe sắc tỏa hương, đem đến bao sức sống mới về sự hồi sinh cho con người. Trong làn sương mỏng giăng mắc trên phố phường, làng xóm của phương Bắc có hình những bông hoa đào nở rộ đẹp đẽ và nổi bật.

Cây hoa đào thuộc họ hoa hồng xuất hiện ở nhiều nước Châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…Riêng ở Việt Nam rước kia hoa đào chỉ được trồng ở miền Bắc, ngày nay hoa đào được trồng rộng rãi ở nhiều nơi nhưng không đâu có hoa đào đẹp ở miền Bắc đặc biệt là làng đào Nhật Tân ở Hà Nội.

Cây hoa đào có nhiều giống, nhiều loại với nhiều màu sắc khác nhau thường nở vào mùa xuân. Đẹp nhất là loại đào bích, loại đào này có nhiều cánh màu hồng thẫm, nằm dọc theo cành, là giống đào được dùng chơi trong ngày Tết cổ truyền ở Việt Nam. Ngoài ra còn có giống đào phai, cánh hoa màu hồng nhạt, sai hoa, sai quả nhưng thường được trồng để lấy quả. Còn một số loại đào khác như đào bạch, hoa màu trắng, ít cánh, thưa hoa, loại này tương đối khó trồng.

Đào thất thốn, cây thấp nhỏ, hoa màu đỏ thắm thường trồng trong các chậu, tạo thế, dáng theo ý muốn của con người. Ở miền núi phía Bắc có một loại đào rừng còn gọi là đào mốc, sở dĩ có tên gọi như vậy vì loại đào này thân xù xì, rêu mốc, nụ và hoa ẩn hiện trong lá non. Đào mốc có nhiều ở Sơn La, Lai Châu.

Những năm gần đây đào mốc đã rời bản về xuôi ăn Tết với đồng bằng. Cây hoa đào ưa trồng đất thịt, đất phù sa và phân mùn. Cây rụng lá về mùa đông, đến mùa xuân nảy lộc ra hoa. Thân cây xù xì, nhiều mấu, màu nâu, lá đào nhọn, rìa á hình răng cưa. Hoa đào có năm cánh khi nở để lộ ra phần nhụy có màu vàng. Hương hoa đào man mác thoang thoảng.

Hoa đào mang theo vẻ đẹp của mùa xuân , người ta chuộng chơi hoa đào ngày Tết vì hoa đào có màu hồng đỏ đem lại sự may mắn, sinh lộc cho gia đình. Không những thế người Việt Nam ta còn có quan niệm ngày Tết có một cành đào nở rực trong nhà sẽ đuổi được tà ma, khí độc, vì thế mỗi dịp Tết đến xuân về cành đào lại xuất hiện trên bàn thờ hoặc ở một vị trí đẹp, thuận lợi trong nhà. Có lẽ Tết sẽ chưa trọn vẹn nếu thiếu một cành đào.

Trong lịch sử dược học Á Đông hoa đào còn được dùng để làm thuốc uống, chữa bệnh. Danh y Tuệ Tĩnh đã có lần nhắc tới tên các vị thuốc có hoa đào trong cuốn sách “Tam dược thần hiệu”. Với phụ nữ Á Đông hoa đào còn có tác dụng giúp có một làn da trắng đẹp, mịn màng.

Để có một cây hoa đào nở đúng vào dịp Tết cổ truyền đòi hỏi người trồng hoa có một quá trình chăm sóc cẩn thận, tỉ mỉ. Thường thì sau khi chơi Tết xong người ta đem hoa đào ra vườn để trồng, đốn toàn bộ cành lá, sau đó chăm sóc, tưới, giữ ẩm để đào nảy lộc tốt. Trồng đào khoảng 6- 7 tháng người ta vặt toàn bộ lá của cây để đào phát triển nụ, tùy thuộc vào thời tiết mà người ta có cách chăm sóc cây để cho hoa nở đúng dịp chơi Tết.

Nếu thời tiết nắng ấm nhiều, trời nồm, hoa có thể nở sớm, muốn hãm độ nở của hoa thì phải ngưng tưới nước để đất hơi khô hoặc tưới ít nước mát để cây phát triển chậm lại. Ngược lại nếu trời lạnh thì hoa nở muộn, người trồng phải dùng nước ấm để tưới, dùng ni lông chăng kín vườn trồng đào, thắp bóng điện để sưởi ấm. Ngoài trồng bằng gốc có thể chiết cành để trồng hoặc trồng bằng hạt.

Bên cạnh thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh… thì cây hoa đào vẫn mãi không thể thiếu trong ngày Tết. Hoa đào mãi đem lại cho con người những giá trị tinh thần to lớn để rồi chúng ta phải lưu giữ những nét đẹp cổ truyền dân tộc Việt.

Nếu mai là biểu tượng của mùa xuân phương Nam thì ở xứ Bắc, loài hoa vinh dự được chọn là hoa đào.

Cây đào có tên khoa học là Prunus persica. Cây đào chỉ có thể sống tốt trong một khu vực tương đối hạn chế, do chúng có các yêu cầu về độ lạnh mà các khu vực cận nhiệt đới khó có thể phù hợp, tuy nhiên chúng cũng chịu rét rất kém. Loài cây này có thể chịu được lạnh từ khoảng -26 °C tới -30 °C. Các chồi hoa thường bị chết đi ở khoảng nhiệt độ từ -15 °C đến -25 °C, phụ thuộc vào khoảng thời gian rét. Một vài giống thì dễ nhạy cảm với lạnh hơn trong khi các giống khác có thể chịu được nhiệt độ thấp hơn (vài độ). Ngoài ra, nó cần nhiều nhiệt trong mùa hè để quả có thể chín được, điều này có nghĩa là nhiệt độ cao nhất trong mùa hè có thể nằm trong khoảng 20 °C – 30 °C. Đào cần được trồng ở nơi có nhiều ánh nắng, với sự thông thoáng gió tốt. Điều này cho phép không khí lạnh bị thổi đi vào những đêm sương giá và giữ cho khu vực được mát mẻ vào mùa hè.

Tổ tiên ta thuở bình minh dựng nước trên đất Bắc, khi chọn hoa đào để làm thú tiêu khiển trong ba ngày tết, chắc hẳn đã nghĩ tới màu đỏ thắm rực rỡ của đào giống như viễn ảnh của một năm mới sắp tới cũng trong sáng đẹp đẽ như màu hoa. Sau những ngày đông giá lạnh, sắc hồng của đào như sưởi ấm lòng người và vạn vật. Dưới mưa xuân, những cây đào bích, đào phai càng quyến rũ hơn, giống như khuôn mặt yêu kiều của một cô gái được che phủ mờ mờ bởi một tấm khăn voan mỏng manh. Việc miền Bắc chơi đào, trong khi miền Nam chơi mai trong dịp Tết được giải thích là sau khi mở rộng bờ cõi về phương Nam vốn có khí hậu nóng hơn không thích hợp với việc trồng đào, mỗi khi Tết đến, những người đi mở đất nhớ đến cành đào ngoài Bắc nhưng không thể có được đã chọn mai (một cây hoa rất phổ biến ở trong Nam, đẹp, nhiều hoa lại nở đúng mùa Tết) để thay thế.

Nếu ngày Tết mà thiếu hoa đào thì thiếu hẳn hương sắc mùa xuân. Mỗi dịp Tết đến xuân về, đào nở rộ như nhắc chúng ta nghĩ về gia đình, về một năm cũ đã qua…

Top 10 Bài Văn Thuyết Minh Về Cây Bưởi Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 6

Ai xa quê hương trong lòng cũng nhớ. Nhớ về quê hương, người ta nhớ về cây đa bến nước sân đình – những sự vật thân quen gần gũi. Nhớ về quê hương, người ta cũng có thể nhớ về cây tre nơi rìa làng ngày ngày vươn cao như khí chất con người dũng cảm. Nhưng với riêng tôi, tôi nhớ về cây bưởi “sau nhà ngan ngát hương thơm”. Bưởi có thể không phải là một loài cây quá tiêu biểu cho làng quê, nhưng cũng là một loài cây quen thuộc nhiều giá trị.

Bưởi là một loài cây thuộc chi Cam chanh, có tên khoa học là Citrus grandis Osbeck, bắt nguồn từ khu vực châu Á và dần trở thành một loài cây khá phổ biến ở Việt Nam.

Về đặc điểm cấu tạo, bưởi là loại cây lâu năm, thuộc dạng thân gỗ, một cây trưởng thành có độ cao từ 3 – 4m. Khi còn non, thân và cành thường có màu xanh sẫm, khi lớn lên, thân cây to, rộng và chuyển sang màu xám nâu. Cây có nhiều cành, nhánh mọc từ thân chính, trên cành có những gai dài và nhọn, đây chính là điểm đặc biệt của loại cây này so với các cây ăn quả . Lá bưởi màu xanh sẫm, to bằng nửa bàn tay, hình trứng, hai đầu lá tù, dìa cánh to.

Nụ hoa bưởi trắng, hình tròn hơi bầu, hoa mọc thành từng chùm từ 6 -10 bông. Từng cánh hoa trắng nhỏ, mỏng manh chụm vào khi còn non và nở bung khi đúng thời điểm, tỏa ra hương thơm ngan ngát.

Rễ bưởi thuộc dạng rễ cọc, cắm sâu vào lòng đất để nuôi cây. Quả bưởi có dạng hình cầu, quả khi còn non thường có màu xanh nhẵn nhụi, khi chín, bưởi ngả màu vàng đẹp mắt. Cùi bưởi gần vỏ, màu trắng, sau lớp cùi bưởi chính là các múi bưởi. Một quả bưởi thường gồm nhiều múi nhỏ hơn, trong múi có những tép bưởi, mọng nước, chua ngọt thanh dịu. Ở Việt Nam có nhiều loại bưởi khác nhau, tuy nhiên, một số giống nổi tiếng được biết đến như bưởi năm roi, bưởi da xanh, bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn,… Bưởi năm roi có dạng quả lê, khi chín quả ngả vàng, bề mặt quả hơi nhám, vỏ dày. Tép bưởi dễ tách, nhiều nước, thịt mềm, vị chua nhẹ và rất ít hạt. Giống bưởi này cho năng suất rất cao từ 280 đến 300 quả/cây/ năm. Bưởi da xanh có đặc tính là từ khi còn non đến khi đã chín quả vẫn giữ màu xanh không đổi.

Đây là giống cây đặc sản tỉnh Bến Tre và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bưởi kích thước khá lớn, vỏ mỏng. Một quả có từ 13 – 14 múi, thịt quả ngọt, ít hạt hoặc không hạt. Bưởi Đoan Hùng là giống bưởi ngọt trồng lâu đời ở Đoan Hùng (Phú Thọ). Bưởi có vỏ mỏng, khi chín có màu vàng, ăn có vị ngọt, thơm mát. Bưởi Diễn có nguồn gốc từ bưởi Đoan Hùng song có mã đẹp hơn, cây sinh trưởng khỏe, múi bưởi dày và mọng nước, quả có vị mát thanh, ngọt dịu.

Loài cây ăn quả này mang nhiều giá trị với đời sống con người. Thân cây có thể dung làm thành than củi, chất đốt, có thể dùng để trồng nấm,..Lá cây có thể được đun nấu với các loại thảo dược khác: xả,…để xông chữa những bệnh cảm cúm, lá khô còn có thể trở thành chất đốt. Hoa bưởi thơm được ướp cho hương chè thêm thanh nồng, giúp thanh tỉnh tâm hồn người. Quả bưởi có thể dùng ăn trực tiếp bởi đó là loại quả có nhiều chất xơ, vitamin, ngừa ung thư, ngừa sỏi thận. Ngoài ra có thể dùng làm nguyên liệu chế biến nhiều món ăn hấp dẫn khác: cùi bưởi dùng để nấu chè, bưởi có thể làm nước ép, tinh dầu. Vỏ hạt bưởi có thể dùng làm thuốc cầm máu. Ngay cả gai bưởi từ xưa cũng được dung để các bà các mẹ xỏ lỗ tai hay dùng để khêu ốc,… Ngày nay, bưởi còn được trồng như một thú chơi, làm cây cảnh hay quả được bày biện trong nhiều mâm ngũ quả, không thể thiếu mỗi dịp lễ tết hay ngày rằm.

Bưởi là một loại cây ăn quả tương đối dễ trồng nên có thể trồng bưởi quanh năm. Tuy nhiên, để đảm bảo cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất, nên trồng cây và khoảng tháng 5 đến tháng 6. Cây bưởi dễ sống, ta không cần chăm sóc quá nhiều chỉ cần tưới nước hàng ngày và lựa chọn đất phù hợp, thường là những loại đất có khả năng thoát nước tốt, cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây phát triển sau này. Ngoài ra, cần sát sao phòng tránh những loại sâu bệnh cho cây,nên tỉa cành lá,…giúp cây có điều kiện sinh trưởng tốt nhất.

Cây bưởi có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của con người. Nó là loài cây gần gũi, gắn bó thân thiết với đời sống, sinh hoạt của nhân dân. Là loài cây có nhiều giá trị, ở nơi đâu cây bưởi cũng luôn được yêu quý, chăm sóc, bảo vệ.

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 10

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 6

Bưởi là một loại quả được trồng nhiều và phổ biến trên đất nước ta. Cũng bởi vì thứ quả này dễ trồng, thơm ngon và lợi ích kinh tế của nó đem lại là không hề nhỏ. Ở quê em, gia đình nào cũng trồng bưởi. Vì vậy bưởi là loại quả em thích ăn nhất.

Bưởi có rất nhiều loại: bưởi năm roi, bưởi cam đường, bưởi Tân Triều. Nhưng em thích ăn nhất là trái bưởi ở làng bưởi Tân Triều quê em. Trái bưởi Tân Triều là đặc sản nổi tiếng mà rất nhiều người biết đến. Vì bưởi đẹp, có vị ngọt đặc trưng mà không một loại bưởi nào có thể sánh bằng. Khi quả bưởi lớn nó nặng khoảng tám trăm gam đến hơn một kí. Nó có hình bầu dục. Phần sát cuống hơi nhỏ còn phần dưới thì phình to ra. Bưởi rất sai quả và nặng trĩu cành.

Lúc bưởi còn xanh thì vỏ của nó cũng xanh, sần sùi. Khi bưởi chín vỏ của nó không có màu vàng như những loại bưởi khác mà vỏ của nó cũng màu xanh. Bởi vậy chỉ có người trồng bưởi mới có thể biết được lúc nào là thời điểm mà bưởi chín có thể thu hoạch. Khi ăn phải để vỏ bưởi héo đi lúc ấy là lúc bưởi cho ta vị ngọt ngào nhất. Bổ quả bưởi ra, sau cái lớp vỏ xanh và lớp cùi màu trắng là những múi bưởi dần dần hiện ra. Múi bưởi to, dài ăn rất đã. Một thứ vị ngọt đậm đà mà rất đặc trưng tỏa khắp khoang miệng.

Tép bưởi mọng nước và có màu hồng đậm. Hạt bưởi nhỏ, thỉnh thoảng chỉ có vài cái hạt chứ không nhiều hạt như một số loại bưởi khác. Bày ra đĩa trông rất đẹp mắt và ai cũng muốn ăn thật nhiều. Chính vì bưởi ngon, nhiều vitamin lại đẹp nữa nên nó là món tráng miệng phổ biến trong các nhà hàng, tiệc cưới hỏi. Nó cũng là loại quả có giá thành cao. Mọi người hay mua để bày mâm ngũ quả ngày Tết. Nó là một loại quả đem lại lợi ích kinh tế cao cho những gia đình trồng bưởi.

Em vẫn nhớ những kỉ niệm ở làng bưởi Tân Triều quê em. Nhớ những buổi tối ngồi quây quần bên gia đình và cùng nhau thưởng thức những trái bưởi ngon lành ấy. Em càng yêu quê hương mình biết bao và trân trọng những thành quả lao động của người dân quê hương mình mang lại.

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 10

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 1

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 10

Cây bưởi là một trong những cây ăn quả quen thuộc và có lợi ích rất lớn trong kinh tế với con người. Vì thế theo một lẽ tự nhiên cây bưởi trở nên gắn bó và được mọi người yêu thích.

Bưởi có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Á, Đông Dương, Trung Quốc, Ấn Độ có tên khoa học là Citrus Grandis thuộc họ Cam quýt, ưa khí hậu nóng ẩm nên chỉ trồng được ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nóng. Các quần đảo Angti (thuộc vùng biển Caribê – Châu Mỹ) cũng có bưởi nhưng là bưởi chùm, tên khoa học là Citrus pradisi, còn gọi là bưởi Pômelô. Phương Tây ưa bưởi chùm ngược lại với phương đông chúng ta ưa bưởi ta vì mọng nước hơn.

Cây bưởi thuộc loại cây thân nhỏ, sống đa niên, có thể sống hơn 30 năm tuỳ vào giống cây và chăm sóc. Bưởi là loài cây to, cao trung bình khoảng 3-4 m ở tuổi trưởng thành, vỏ thân có màu vàng nhạt, ở những kẽ nứt của thân đôi khi có chảy nhựa. Từ thân cây chia thành ba cành lớn, từ ba cành lớn chia thành nhiều cành, cành có gai dài, nhọn. Lá bưởi có gân hình mạng, phiến lá hình trứng, dài 10 -12 cm, rộng 5-6 cm, hai đầu tù, nguyên, dai, cuống có dìa cánh to.

Hoa bưởi rất đẹp. Hoa bưởi màu trắng ngà ngà, là loại hoa kép có năm cánh nở uốn cong bao quanh nhị vàng như màu nắng mùa thu. Hoa bưởi không mọc đơn lẻ mà mọc thành từng chùm với nhau. Mỗi chùm có khoảng sáu đến mười bông hoa. Hoa bưởi rất thơm. Mùi hương nhè nhẹ không gắt mà thoang thoảng trong gió rất dễ chịu.

Quả bưởi hình cầu to, vỏ dày, màu sắc tùy theo giống. Da bưởi trơn, bóng. Nhìn xa trông những quả bưởi lúc lỉu thích mắt. Hạt bưởi màu trắng, dẹt, rất có lợi trong nhiều bài thuốc tốt.

Họ hàng nhà bưởi rất phong phú và đa dạng. Việt Nam là một trong những vùng nguồn gốc cây bưởi nên có rất nhiều giống bưởi, có nhiều giống bán hoang dại chua đắng, nhưng cũng có nhiều giống ngon như bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Thanh Trà, bưởi Năm Roi, bưởi da xanh, bưởi Biên Hòa…

Cây bưởi có rất nhiều lợi ích đối với đời sống chúng ta. Hoa bưởi thơm thường được dùng để tết thành vòng hoa, ướp chè. Chè ướp hương hoa bưởi trở thành thức uống đặc sản dân giã của con người Việt Nam. Hoa bưởi cũng được dùng cùng vỏ bưởi để nấu thành nước gội đầu cho các bà các mẹ các chị vì không chỉ gội rất sạch mà còn rất thơm.

Tháng Tám hàng năm là mùa bưởi chín. Những quả bưởi chín lúc lỉu được hái xuống mang lên thắp hương ngày Rằm. Những múi bưởi dưới bàn tay trang trí khéo léo được tạo thành những hình thù ngộ nghĩnh cho mâm hoa quả Trung Thu. Bởi vậy mùa thu nhắc tới gắn liền với cây bưởi.

Ngoài ra bưởi còn được chế biến thành nhiều thức ăn tốt cho sức khoẻ như salad, chè bưởi, nước ép bưởi,… Những món ăn đó có chứa nhiều vitamin có lợi cho da và hệ tiêu hoá. Vì thế bưởi còn được sử dụng trong các bài thuốc chữa các bệnh như đau bụng, ăn không tiêu, vàng da,…

Những người dân trồng bưởi muốn thu được vụ mùa cao phải có những bí quyết riêng của mình. Họ cần chú ý đến những yếu tố sau : Giống cây phải chuẩn, kỹ thuật chăm sóc cây phải khéo léo, chính xác,…Ngoài ra để cây sinh trưởng và phát triển tốt còn phụ thuộc vào những yếu tố tự nhiên như : Đất ẩm, kết cấu xốp, khí hậu ôn hoà, nguồn nước cung cấp cho cây phải sạch, phân bón vừa đủ, đúng lúc…

Cây bưởi có rất nhiều lợi ích trong cuộc sống chúng ta. Nó là loại cây đa năng góp phần tăng nguồn vốn sinh hoạt cho người dân. Vì thế cây bưởi luôn được mọi người yêu quý và trân trọng.

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 7

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 1

Nhắc đến Việt Nam, người ta thường chỉ nhớ đến những cây tre, cây chuối dân dã chứ ít ai nhắc đến cây bưởi, một loài cây cũng khá là quen thuộc với người dân Việt Nam từ xưa đến nay. Bưởi cho hoa thơm, quả ngọt, vỏ bưởi còn dùng để đun nước gội đầu cho các bà, các cô nữa. Đó là một loài cây có rất nhiều tác dụng.

Để trồng được một cây bưởi thì có rất nhiều cách, nhưng người ta thường chiết bưởi để trồng. Cách đó rất nhanh và hiệu quả. Khi chiết nên chọn những cành nhiều lá, không cần thiết là có quả, khi cành đó mọc rễ, ta có thể cắt và cắm xuống đất để trồng. Bưởi chiết khi mới trồng sẽ rụng hết lá để bắt đầu một cuộc sống mới, một năm sau bưởi ra lá và hai, ba năm sau nó đã cao to hơn trước rết nhiều, có khả năng ra hoa kết quả được. Có rất nhiều giống bưởi như bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi,…

Bưởi là loại cây ăn quả, rễ cọc, thân cành xù xì. Khi lớn bưởi có thể cao đến chục mét, có nhiều cành, xum xuê. Lá bưởi rất đặc biệt, lá nhỏ ở gần cuống, hình trái tim, lá to nối tiếp lá nhỏ hình bầu dục. Bưởi ra hoa kết quả vào hai mùa: mùa thu và mùa xuân. Hoa bưởi trắng, năm cánh, mịn, uốn cong xuống dưới để lộ ra nhị vàng, hoa cũng rất thơm, một mùi thơm dịu, nhẹ nhàng, tinh tế. Bưởi có quả tròn, nhỏ, nhưng cũng có quả rất to, thường để bày mâm ngũ quả.

Cây bưởi gắn liền với cuộc sống của người dân Việt Nam. Bưởi chua cho quả vào tháng tám âm lịch, tức là mùa Trung thu. Thật vậy, Trung thu phá cỗ mà không có bưởi là mất vui. Ngon nổi tiếng là bưởi Phúc Trạch ở Hà Tĩnh. Quả bưởi nhỏ, múi đều, ăn rất ngon. Vào đêm Trung thu, các nhà thường bày mâm ngũ quả lên bàn thờ và bưởi là thứ quả không thể thiếu. Tết âm lịch là mùa ra quả của bưởi ngọt. Ngày Tết, nhà nhà đều mua bưởi để ăn, để thưởng thức hết vị ngọt mát của bưởi. Cây bưởi còn có rất nhiều tác dụng khác nữa: lá bưởi, vỏ bưởi đun với hương nhu, lá sả có thể làm nước gội đầu cho thiếu nữ, rất sạch và thơm. Đó là thứ nước gội đầu được ưa chuộng chỉ sau nước bồ kết mà thôi. Hạt bưởi còn có thể chữa rụng tóc nữa. Vào một nhà dân mà vườn nhà đó trồng những cây bưởi sai trĩu quả, thưởng thức mùi thơm của hoa bưởi ta thấy trong lòng thật nhẹ nhõm.

Cây bưởi đúng là một loài cây không thể thiếu đối với cuộc sống của dân Việt Nam. Nó là một phần của những ngày lễ, ngày hội quan trọng. Nếu thiếu bưởi thì cuộc sống tinh thần của người dân Việt Nam sẽ vô vị đến mức nào.

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 2

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 7

Dạo bước trên con đường Nguyễn Chánh, hương thơm vấn vương, dịu nhẹ của hoa bưởi níu chân người qua đường. Mở ra trước mắt tôi là sắc trắng tinh khôi của những bông hoa bưởi e ấp trong gánh hàng rong của những người tiểu thương. Trong dòng người hối hả, vội vã giờ tan tầm, tôi chợt nhận ra mùa hoa bưởi đã về. Bưởi là loại cây quen thuộc mà chúng ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trên mỗi vùng quê Việt Nam, đó là thức quà ngọt lành của tự nhiên ban tặng cho con người.

Bưởi có tên khoa học là Citrus grandis Osbeck, đây là một loại cây thuộc chi Cam chanh. Bưởi có nguồn gốc ở Châu Á, bưởi ưa khí hậu nóng ẩm nên được trồng nhiều ở các quốc gia Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ. Tại Việt Nam, bưởi là cây trồng quen thuộc ở hầu hết các vùng quê, trong đó có một số giống bưởi ngon nổi tiếng như: bưởi da xanh Bến Tre, Bình Phước, bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn,…Bưởi không chỉ mang đến một thức quả ngon giàu dinh dưỡng mà còn có giá trị kinh tế cao.

Bưởi là thực vật thân gỗ, sống lâu năm, trung bình một cây bưởi có thể sống 20-30 năm tùy điều kiện đất đai và sự chăm sóc của con người. Cây bưởi trưởng thành cao từ 3- 4 mét, khi cây còn non thân và lá thường có màu xanh sẫm, khi cây trưởng thành, thân cây to, tán rộng, thân cây chuyển sang màu xám đậm.

Từ thân chính mọc ra rất nhiều nhánh, cành bưởi với tán lá xum xuê, xanh tốt, bởi vậy mà bưởi cũng có thể cho bóng mát, có thể che mưa, che nắng. Lá bưởi to bằng nửa bàn tay người lớn, mặt trước xanh sẫm, nhẵn bóng, mặt sau có những đường gân nổi lên rõ nét. Một đặc điểm khác chỉ có ở cây bưởi và họ hàng nhà bưởi, đó là những chiếc gai nhọn mọc trên cành và các nhánh của cây bưởi. Những chiếc gai nhọn, cứng có màu xanh đậm giống màu của những chiếc lá.

Hoa bưởi nhỏ, màu trắng tinh khiết và thường mọc thành chùm 6-10 bông. Hoa bưởi khi nở rộ cũng khi to bằng ngón tay người lớn, những cánh trắng nở bung khoe ra phần nhụy màu vàng cam rực rỡ bên trong. Những nụ bưởi chưa nở thì e ấm chụm lại đầy duyên dáng. Hoa bưởi không quá rực rỡ, hương thơm không quá ngào ngạt mà thoang thoảng vô cùng dễ chịu. Hoa bưởi cũng được coi là loài hoa của làng quê, đồng nội, vào tháng 3,4 hàng năm, trên những đường phố nhỏ lại xuất hiện rất nhiều những gánh hàng rong với những chùm hoa thanh khiết. Người ta thường mua hoa bưởi để trang trí và tạo hương thơm thanh mát cho ngôi nhà của mình. Hương thơm nhẹ nhàng, vấn vương của hoa bưởi vì thế cũng đi vào thơ ca bằng vẻ đẹp tự nhiên, bình dị ấy:

“Mỗi mùa xuân thơm lừng hoa bưởi

Rắc trắng vườn nhà những cành hoa vương

Em lại nhớ ngày xưa anh ra trận

Cũng giữa mùa hoa bưởi ngát hương”

Hay:

“Hương bưởi thơm cho lòng bối rối

Cô bé như chùm hoa lặng lẽ

Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu”.

Hoa bưởi rụng đi để lại những trái bưởi non có màu xanh, hình tròn với lớp da nhẵn nhụi. Quả bưởi khi chín phần vỏ sẽ ngả sang màu vàng vô cùng bắt mắt. Tùy từng giống bưởi mà kích thước quả bưởi khi trưởng thành cũng không giống nhau, bưởi Diễn thường có hình tròn, khi chín có màu vàng tươi, kích thước bằng một chiếc bát tô nhỏ. Giống bưởi da xanh khi chín lớp vỏ vẫn giữ nguyên màu xanh sẫm, lớp vỏ sần sùi và kích thước thường lớn hơn so với giống bưởi diễn. Bưởi là một loại quả giàu giá trị dinh dưỡng, bên trong lớp vỏ bưởi là phần cùi trắng, mềm, khi ăn có vị hơi hăng và đắng. Phần cùi này thường được dùng để làm món chè bưởi hoặc được dùng để phơi khô cùng với vỏ bưởi để gội đầu, dưỡng tóc. Phần ruột của bưởi là những múi bưởi xếp san sát với nhau thành hình cầu. Mỗi múi lại có rất nhiều tép nhỏ, mọng nước và có vị chua thanh.

Ở Việt Nam có rất nhiều những loại bưởi khác nhau, trong đó có nhiều loại bưởi nổi tiếng có giá trị kinh tế cao như: Bưởi năm roi, bưởi da xanh, bưởi Diễn, bưởi Đoan Hùng. Hiện nay, bưởi không chỉ được trồng để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà đã bắt đầu xuất khẩu sang nước ngoài, mang đến nguồn thu đáng kể cho người nông dân.

Là loại cây dân dã, quen thuộc nhưng bưởi lại mang đến giá trị vô cùng cao, hầu hết các bộ phận của cây bưởi đều có thể sử dụng. Bưởi là loại cây ăn quả giàu hàm lượng vitamin, bưởi cũng là loại quả không thể thiếu trong mâm ngũ quả ngày tết, thân cây bưởi có thể sử dụng làm than, củi, lá bưởi khi kết hợp với một số loại thảo dược khác có thể trị cảm cúm. Hoa bưởi dùng để trang trí, ướp trà giúp tinh thần con người trở nên thanh tỉnh.

Bưởi là loại cây tương đối dễ trồng, phù hợp với điều kiện khí hậu của nhiều vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, khi trồng cần chú ý chọn loại đất phù hợp, có khả năng thoát nước tốt, đất có dinh dưỡng để cho cây phát triển. Cây bưởi không cần tưới nước thường xuyên, bên cạnh đó người trồng cũng cần thường xuyên tỉa cành, phòng trừ sâu bệnh để cây sinh trưởng tốt.

Cây bưởi dễ trồng lại mang đến giá trị kinh tế cao. Hơn hết, với bất kì người dân Việt Nam nào cây bưởi cũng là loài cây gắn liền với kí ức tuổi thơ, là loài cây gợi nhớ về quê hương, xứ sở. Hiện nay, dù có rất nhiều loại cây ăn quả mới nuôi trồng, chăm sóc ở Việt Nam thì cây bưởi vẫn giữ nguyên vị trí và vai trò của nó trong đời sống sinh hoạt và tinh thần của con người.

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 2

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 8

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 2

Ở thành phố chắc bạn chỉ biết trái bưởi nhưng những người từng sống ở thôn quê và vùng ven thành phố ai cũng đều biết cây bưởi.

Cây bưởi, cái tên nghe mộc mạc, thân quen làm sao. Cái cây có họ với nhà chanh, cam cùng thuộc loài cây có múi, có dạng lá không lẫn vào đâu được, phần thùy trên của lá to đều, phần dưới qua vết thắt trở nên nhỏ hơn, cứng cáp hơn và cứ như là 2 chữ B trong chữ bưởi ráp vào nhau vậy.

Cây bưởi không chịu ngập, không ưa úng nhưng có thể chịu hạn. Nếu trồng vùng đất đồi hoặc vùng đất cao nhiều dinh dưỡng, cây bưởi chiết nhánh sẽ cho hoa lứa đầu sau chừng hơn 1 năm. Nếu trồng từ hạt thì phải 3 năm mới cho hoa trái lứa đầu.

Nói đến hoa, người ta không thể quên được cái vẻ “trắng ngần” của bông bưởi thường được đem ra ví với nước da trắng nõn nà của các thiếu nữ thôn quê. Cái mùi hoa bưởi cứ thoang thoảng, ngan ngát lan tỏa trong đêm. Sáng sớm bước ra vườn, không khí trong lành như được lọc sạch một cách tinh khiết bằng mùi hương hoa bưởi. Cái mùi hương ấy thường đi vào bánh trôi, bánh chay trong cái tiết Hàn thực tháng 3. Tinh dầu hoa bưởi thường được chọn bỏ vào chè, vào bánh và đặc biệt chiếc bánh dẻo đêm trung thu không thể thiếu mùi thơm hoa bưởi – dù chỉ là tinh dầu.

Con gái quê thường tự hào với mái tóc dài mượt mà thơm ngát mùi hoa bưởi. Cái nồi nước gội đầu mẹ nấu gồm bồ kết, lá bưởi, cỏ mần trầu và ít cánh hoa bưởi rụng sao mà thơm mà quyến rũ đến vậy, chẳng loại dầu gội dù sản xuất trong nước hay nhập ngoại nào sánh bằng. Lá bưởi cũng có mặt trong nồi nước xông lúc cảm, nồi nước tắm lúc giao thừa và trong những bó lá diệt tà của ngày tết Đoan Ngọ.

Mùa hè đến, những trái bưởi non rụng xuống thường được bọn trẻ chăn trâu hay trẻ em vùng quê chọn làm bóng đá. Cũng từ những trái bóng bưởi non này, nhiều cầu thủ chân đất đã trở thành những cầu thủ danh tiếng.

Qua mùa tu hú, những trái bưởi lúc lỉu, trĩu cành bắt đầu vàng rám da, hương bưởi nhè nhẹ trong trái bưởi căng da. Mùa trung thu, hiếm mâm cỗ nào lại vắng mặt trái bưởi. Nào là bưởi làm chó bông, bưởi làm thỏ trông trăng. Mẹ bảo trái bưởi vừa thơm, ngon, giàu dinh dưỡng, dễ ăn lại trị được nhiều bệnh. Ăn bưởi trị được bệnh tiểu đường, kích thích tiêu hóa, chống béo phì. Hạt bưởi dùng trị bệnh sạn thận, nếu phơi khô xâu dây rồi đốt cũng thật vui.

Cuối cùng, sau cả một vòng đời dài mấy chục năm tuổi thọ, cây bưởi lão hạ xuống sẽ giúp người nông dân làm cột làm cây chống rất tốt.

Có bao nhiêu giống bưởi để bạn lựa chọn, Nào là Bưởi Đoan Hùng, Bưởi Diễn, Bưởi Bố Trạch, Bưởi Biên Hòa, Bưởi 5 roi, Bưởi da xanh ruột hồng… Bạn thấy đấy, cây bưởi có ích như vậy, không trồng lấy được một cây thì thật là tiếc.

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 3

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 8

Ai được sinh ra và lớn lên ở những vùng nông thôn chắc hẳn sẽ không còn xa lạ với những vườn trái cây xanh mướt và thật sai quả. Mùa nào thức ấy. Trong tất cả các loại cây ăn quả thì em thích nhất là cây bưởi với những trái bưởi thật to, tròn và thật đẹp biết bao nhiêu.

Bưởi thường có hai loại nếu như phân loại theo hương vị là vị chua và vị ngọt. Học sinh chúng em thì thường thích ăn bưởi chua chấm muối ớt ăn sẽ rất ngon. Có nhiều người thích ăn bưởi Diễn vì nó rất ngọt. Khi bổ quả bưởi hết lớp vỏ bao bọc bên ngoài là lớp vỏ xanh ăn thật ngọt. Mẹ em khéo tay lắm! Mẹ thường lấy vỏ bưởi này để nấu chè. Chè bưởi ăn ngon và bổ, em có thể ăn được 2 cốc mà không ngán.

Tiếp theo là bên trong của lớp cùi trắng là rất nhiều múi nhỏ cong cong hình lưỡi liềm, cứ mỗi khi ăn ta thường tách những múi bưởi ra. Em còn nhận thấy được với những múi bưởi căng mọng và rất nhiều nước, thực sự trong các múi bưởi thì lại có hạt màu vàng. Và khi bóc múi bưởi để ăn ta phải bỏ hạt và vỏ đi.

Nghĩ đến hương vị thơm ngon và bổ dưỡng của nó khiến em không thể quên được. Em mong ước nhà em có một khu vườn nhỏ trồng thật nhiều bưởi để hàng năm em lại được thưởng thức những quả bưởi thơm ngon.

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 3

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 9

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 3

Sau những cơn mưa xuân đầu tháng 3, những chùm hoa bưởi bắt đầu nở trắng, mang theo mùi hương dịu nhẹ và rất quyến rũ lòng người. Đối với ở vùng thôn quê, chắc hẳn chẳng ai không biết được cây bưởi thế nào. Còn đối với người thành phố, mùa hoa bưởi được trở về trên những gánh hàng rong để biết được rằng, xuân vẫn đang hiện hữu nơi đây.

Cây bưởi là một loại cây có họ với nhà chanh, cam, quả bưởi to có màu xanh, lá bưởi cũng to hơn các loại lá cùng họ khác, phần mặt trên của lá to đều, phần dưới lại có một vết thắt nhỏ hơn. Cây bưởi rất dễ trồng, người ta thường chiết những cành bưởi, bọc một lớp đất sau đó được trồng xuống. Tùy thuộc vào từng loại bưởi khác nhau nhưng khoảng tầm một đến hai năm, cây bưởi đã bắt đầu ra hoa kết trái.

Bưởi là loại cây rễ cọc, chịu hạn rất tốt. Hoa bưởi trắng, mịn, thường kết thành từng chùm hoa trắng rất đẹp. Hoa mang đến một mùi hương rất dễ chịu, nhẹ nhàng. Có rất nhiều người yêu thích mùi hoa ấy, vậy nên cứ mỗi độ đến mùa hoa bưởi, ta lại bắt gặp hình ảnh những gánh hàng rong được mang ra bày bán những chùm hoa trắng tinh. Có người thì mua về để ướp chè mạn, hay hấp mía cho thơm. Đặc biệt, thời xa xưa, hoa bưởi cùng lá bưởi được các bà, các mẹ nấu cùng nước để gội đầu. Cái mùi hoa bưởi ấy đã làm say đắm biết cõi lòng biết bao con người. Hiện nay, cuộc sống trở nên hiện đại hơn, hoa bưởi còn được ép để lấy tinh dầu, dùng vào rất nhiều việc và mang đến cho tinh thần con người một cảm giác rất thư thái, dễ chịu.

Quả bưởi tròn, mềm, khi những trái bưởi non rụng xuống còn được các trẻ em thôn quê dùng làm quả bóng để đá banh. Còn những trái bưởi to già, khi chín mang đến một hương vị hơi chua chua ngọt ngọt, khiến người ăn chẳng thể nào quên được. Đặc biệt, trong những dịp lễ Tết như trung thu, tết nguyên đán, mỗi nhà đều cần phải có một quả bưởi thì mới gọi là đầy đủ, sung túc. Hiện nay, có rất nhiều các loại bưởi ngon ngọt, nổi tiếng còn mang lại lợi ích kinh tế rất lớn cho nhiều người dân. Nổi tiếng như loại bưởi da xanh, có nguồn gốc từ ấp Thanh Sơn, xã Thanh Tân, huyện Mỏ cày. Giá trị một trái bưởi được tính từ 80-100.000 VNĐ, mà một cây bưởi thường mang đến rất nhiều quả. Chính vì thế, giống bưởi này ngày càng được lan rộng và yêu thích trên khắp cả nước.

Bưởi cung cấp rất nhiều vitamin C, A1,…tăng cường sức khỏe cho con người, đặc biệt là những người bị bệnh tiểu đường, máu nhiễm mỡ,… khi ăn bưởi hàng ngày sẽ có tác dụng rất tốt đến việc thuyên giảm bệnh. Hạt bưởi được dùng để trị rụng tóc, điều trị bệnh sỏi thận,….

Trải qua biết bao đời nay, cây bưởi vẫn luôn là một giống cây trồng quen thuộc, dễ chăm ở vùng quê Việt nam. Với rất nhiều công dụng và lợi ích đặc biệt, cây bưởi cần được trân trọng, chăm sóc và nhân ra nhiều loại giống tốt để góp ích cho cuộc sống con người.

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 5

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 9

Bưởi là loại cây ăn trái thuộc chi Cam chanh. Một số tỉnh phía Bắc gọi bưởi là bòng. Trong tiếng Anh, bưởi gọi là Pomelo. Tuy nhiên nhiều từ điển Anh Việt ở Việt Nam lại dịch bưởi là grapefruit. Chính xác thì grapefruit là tên gọi bằng tiếng Anh của bưởi chùm (Citrus paradisi) – một giống cây được lai giữa cam và bưởi, quả nhỏ, vỏ giống quả cam, nhưng lại có mùi bưởi, ruột màu hồng, vị chua chua và hơi đắng. Sai lầm trong từ điển này đã dẫn đến lỗi tiếng Anh của nhiều người khác, từ đó tạo nên sự hiểu lầm trong tên gọi giữa bưởi chính thống và bưởi chùm (hay còn gọi là cam lai bưởi). Bưởi là loại cây thân gỗ, có tán lớn. Ở tuổi trưởng thành, cây bưởi cao trung bình 3 – 4m. Thân cây có màu nâu hơi ngả vàng nhạt. Ở những kẽ nứt trên thân cây đôi khi sẽ chảy mủ nhựa. Cành cây thường có gai dài, cứng và nhọn. Lá cây hình trứng, gan lá hình mang, có độ dài trung bình khoảng 10 – 12cm và rộng khoảng 5 – 6cm. Cuống lá có dìa cánh khá lớn. Hoa bưởi là hoa kép, mọc thành từng chùm khoảng 6 – 10 bông, có màu trắng. Mùi hương của hoa bưởi rất dễ chịu, có thể sử dụng để cắm hoa nghệ thuật hoặc xông hơi. Quả bưởi hình cầu, có màu xanh hoặc màu vàng tùy vào giống bưởi. Quả bưởi có múi, được hình thành từ các tép bưởi nhỏ li ti xếp cạnh nhau. Vị quả có thể chua, ngọt, the… tùy loại bưởi và thời điểm thu hoạch.

Ở Việt Nam có nhiều loại bưởi khác nhau, tuy nhiên, một số giống nổi tiếng được biết đến như bưởi năm roi, bưởi da xanh, bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn,… Bưởi năm roi có dạng quả lê, khi chín quả ngả vàng, bề mặt quả hơi nhám, vỏ dày. Tép bưởi dễ tách, nhiều nước, thịt mềm, vị chua nhẹ và rất ít hạt. Giống bưởi này cho năng suất rất cao từ 280 đến 300 quả / cây/ năm. Bưởi da xanh có đặc tính là từ khi còn non đến khi đã chín quả vẫn giữ màu xanh không đổi. Đây là giống cây đặc sản tỉnh Bến Tre và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bưởi kích thước khá lớn, vỏ mỏng. Một quả có từ 13 – 14 múi, thịt quả ngọt, ít hạt hoặc không hạt. Bưởi Đoan Hùng là giống bưởi ngọt trồng lâu đời ở Đoan Hùng (Phú Thọ). Bưởi có vỏ mỏng, khi chín có màu vàng, ăn có vị ngọt, thơm mát. Bưởi Diễn có nguồn gốc từ bưởi Đoan Hùng song có mã đẹp hơn, cây sinh trưởng khỏe, múi bưởi dày và mọng nước, quả có vị mát thanh, ngọt dịu.

Bưởi là một loại cây ăn quả tương đối dễ trồng nên có thể trồng bưởi quanh năm. Tuy nhiên, để đảm bảo cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất, nên trồng cây và khoảng tháng 5 đến tháng 6. Cây bưởi dễ sống, ta không cần chăm sóc quá nhiều chỉ cần tưới nước hàng ngày và lựa chọn đất phù hợp, thường là những loại đất có khả năng thoát nước tốt, cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây phát triển sau này. Ngoài ra, cần sát sao phòng tránh những loại sâu bệnh cho cây,nên tỉa cành lá,…giúp cây có điều kiện sinh trưởng tốt nhất. Không chỉ gắn bó mật thiết trong cuộc sống, trở thành một người bạn thân thuộc, một nét đẹp đặc trưng của làng quê Việt Nam xưa, cây bưởi còn đem đến những giá trị tinh thần khi không ít lần trở thành niềm cảm hứng:

“Bởi vì hoa bưởi ngát hương

Nên tôi hái tặng người thương gội đầu

Để hồn lạc bước vào nhau

Hương thơm quấn quýt nhớ nhau suốt đời.”

(Bởi vì)

Hương bưởi thơm đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca, đó như hương thơm tượng trưng cho những người yêu nhau thầm lặng:

“Khung cửa sổ hai nhà cuối phố,

Chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ,

Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp,

Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa

….

Nào ai đã một lần dám nói

Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối”

(Hương thầm)

Để rồi cũng từ hương bưởi vấn vương ấy, bài thơ đã được phổ nhạc thành bài hát da diết, nói hộ nỗi lòng gái trai thời trước. Bưởi còn đi vào thơ ca nhạc họa, là nguồn cảm hứng bất tận cho nghệ sĩ. Cây bưởi có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của con người. Nó là loài cây gần gũi, gắn bó thân thiết với đời sống, sinh hoạt của nhân dân. Là loài cây có nhiều giá trị, ở nơi đâu cây bưởi cũng luôn được yêu quý, chăm sóc, bảo vệ.

Đối với riêng tôi, cây bưởi có gắn với những nỗi niềm riêng, tôi nhớ những lần trèo cây hái hoa cài lên mái tóc, nhớ những lần bẻ gai bưởi để chụm đâu khêu mẻ ốc luộc mà chúng tôi mới bắt từ mương, nhớ những lần tách vỏ hạt làm khuyên tai cùng đám bạn,…Bưởi trong tiềm thức của tôi đã và sẽ luôn là người bạn thuở ấu thơ đẹp đẽ.

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 4

Bài văn thuyết minh về cây bưởi – mẫu 5

Nước Việt Nam ta được thiên nhiên ban cho nhiều thuận lợi về thời tiết và tự nhiên. Vì thế nước ta có thể trồng rất nhiều hoa quả hữu ích. Bên cạnh lúa gạo thì nước ta có rất nhiều cây hữu ích: cây nhãn, cây vải… Nhưng được nhiều người chuộng nhất là cây bưởi.

Cây bưởi, ở một số còn gọi với cái tên là quả bòng, chúng có tên khoa học là Citrus grandis (L.) Osbeck, thuộc họ Cam chanh (Rutaceae), là loại cây có nguồn gốc ở khu vực châu Á. Ngày nay, có nhiều loại bưởi xuất hiện tùy theo từng vùng, từng địa phương mà có các giống bưởi khác nhau về kích thước, mùi hương, vị ngọt…

Bưởi là một cây ăn quả rất thơm ngon và bổ dưỡng và có nhiều lợi ích cho con người. Cây bưởi thường cao từ ba đến năm mét. Thân cây không quá to nhưng khi đến mùa lại sai trĩu quả. Từng quả bưởi có kích thước khác nhau, quả to quả bé lúc lỉu trên cành. Thân cây và cành cây có rất nhiều gai nhọn, thân bưởi không thẳng và hơi sần sùi, vỏ cây thô cứng, màu nâu đen. Đã là cây thì phải có lá và cành. Lá cây không quá to chỉ bằng một bàn tay, màu xanh đậm và có nhiều gân, chia làm hai nửa hình tròn to nhỏ như chú lật đật.

Cành bưởi mọc ra xum xuê, xòe những tán lá rộng, bao trọn một bóng tròn dưới mắt đất. Đến mùa thu, cây bưởi sẽ ra hoa kết trái, lớn dần thành những trái bòng tròn, to như trái bóng. Hoa bưởi mang màu trắng tinh khiết và có mùi hương thơm. Mỗi mùa hoa đến, hương bưởi bay khắp mọi ngóc ngách trên làng quê, tạo nên không gian thôn dã, gần gũi với thiên nhiên vô cùng.

Trái bưởi không chỉ la đồ tráng miệng mà có rất nhiều công dụng hữu ích. Từ hoa bưởi đến lá bưởi, cùi bưởi, … Tất cả đều có thể tận dụng làm những bài thuốc, những đồ ăn thức uống thơm ngon, bổ dưỡng cho con người.

Cây bưởi không chỉ là một biểu tượng thân thuộc của làng quê mà mà còn là một hương vị rất riêng của đất Việt. Hiện nay, bưởi đang được trồng trên diện rộng, được lai giống nhiều loại và mang lại rất nhiều ích lợi cho người tiêu dùng và người bán. Hi vọng rằng bưởi sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ như thế, đem lại cho chúng ta một thức quả đặc biệt của đất Việt.

Đăng bởi: Phạm Đan Tâm

Từ khoá: Top 10 Bài văn thuyết minh về cây bưởi hay nhất

Thuyết Minh Về Núi Tà Cú ❤️️ 13 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Núi Tà Cú ❤️️ 13 Bài Văn Mẫu Hay Nhất ✅ Tuyển Tập Văn Đặc Sắc Giúp Học Sinh Luyện Tập Và Nâng Cao Kỹ Năng Viết.

Chia sẻ đến bạn đọc mẫu Dàn Bài Thuyết Minh Về Núi Tà Cú giúp các em có thể tham khảo và triển khai bài văn logic.

Mở bài

Giới thiệu đối tượng thuyết minh: Núi Tà Cú

Cảm nghĩ khái quát của em về danh lam thắng cảnh đó.

Thân bài

Giới thiệu khái quát: vị trí địa lí, địa chỉ, diện tích, phương tiện di chuyển đến đó,..

Giới thiệu về kiến trúc, cảnh vật: cấu trúc nhìn từ xa, chi tiết về cảnh vật, ..

Khí hậu tại nơi đây

Ý nghĩa về lịch sử, văn hóa của núi Tà Cú

Kết bài

Khẳng định lại một lần nữa giá trị, ý nghĩa của đối tượng thuyết minh.

Nêu cảm nghĩ của bản thân.

https://youtu.be/tZtgMHNV_84

Xem Thêm Bài ⏩ Thuyết Minh Về Núi Mẫu Sơn ❤️️ 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài văn Thuyết Minh Về Núi Tà Cú Bình Thuận được chúng tôi chọn lọc và chia sẻ đến bạn đọc sau đây.

Ngồi ca-bin cáp treo, lướt trên những ngọn cây dong hoa đỏ rực, du khách cảm thấy thật thư giãn và dễ chịu. Sau khi vượt qua đỉnh ngọn núi nhỏ và khu rừng già nguyên sinh, trước mặt du khách là biển Hàm Thuận Nam, bên trái là ngọn hải đăng Kê Gà nổi tiếng có hơn 100 tuổi, hằng ngày vẫn cần mẫn hướng dẫn tàu, thuyền đi lại trên biển ban đêm an toàn. Khu du lịch Núi Tà Cú nằm sát quốc lộ 1A, ở thị trấn Thuận Nam (huyện Hàm Thuận Nam), cách TP Phan Thiết 30km.

Kiến trúc toàn bộ khu du lịch cáp treo Núi Tà Cú hài hòa với khung cảnh thiên nhiên, hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc. Ði cáp treo, du khách được hòa mình cùng thiên nhiên, hương rừng, gió biển và ngắm nhìn những cánh rừng và đồng lúa.

Theo con đường mòn độ vài trăm mét, khách tham quan sẽ nhìn thấy một quần thể: chùa, tháp, tượng Phật và hang động. Ðáng lưu ý nhất là di tích “Song Lâm Thị Tịch” với tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn lớn nhất Ðông Nam Á, dài 49m, cao 11m và nhóm Tam Thế Phật đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Leo lên hàng trăm bậc đá, vãn cảnh chùa, thăm hang động, du khách còn thấy những giò lan rừng nở đầy hoa, thơm ngát, vắt vẻo trên những cây dầu, cây bằng lăng… trong rừng nguyên sinh. Khuôn viên nhà chùa trên núi vừa rộng, vừa mát có nhiều ghế đá, ghế gỗ là nơi ngồi để tận hưởng ngọn gió trong lành từ biển. Khách có thể rửa mặt từ những vòi nước trong vắt, mát rượi từ núi chảy ra và nghỉ ngơi ở đây. Khi theo cáp treo đi xuống cũng rất thú vị.

Từ trên cao, khách thấy những vườn thanh long thẳng hàng, xanh rì, dưới xa là những làng xóm mái ngói đỏ tươi. Nhìn toàn cảnh khu du lịch, khách sẽ ngạc nhiên và thú vị được chiêm ngưỡng ý tưởng độc đáo của các nhà kiến trúc khi xây dựng nơi đây như một tác phẩm nghệ thuật mang hình cây đàn nhị và cây đàn ghi-ta khổng lồ nối với nhau bằng một chiếc cầu xinh xắn. Khi du khách đi vào, xe điện êm ru chạy vòng theo nửa của hai cây đàn, lúc ra đi theo nửa còn lại.

Cái cổng lợp ngói âm dương kiểu cổ là nơi đón và tiễn chân du khách, tạm khép lại một chuyến tham quan thú vị. Anh Vũ Đức Phương, Phó Giám đốc khu du lịch Tà Cú cho biết, khu du lịch Núi Tà Cú chính thức được đưa vào sử dụng, khai thác từ giữa tháng 9/2003. Chỉ mới nửa năm mà nơi đây đã được đông đảo khách du lịch trong, ngoài nước biết đến.

Khu du lịch sinh thái Núi Tà Cú phát triển đã thúc đẩy các mặt kinh tế – xã hội khu vực thị trấn Thuận Nam phát triển, biến nơi đây trở thành điểm đến lý tưởng của du khách.

Xem Thêm Bài 🌹 Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Ở Địa Phương Em❤️️ Ngắn Hay

Thuyết Minh Giới Thiệu Về Núi Tà Cú Chi Tiết giúp các em có thêm nhiều tài liệu về địa danh nổi tiếng sau đây.

Người dân Phan Thiết thường giới thiệu về quê hương của mình bằng 2 câu thơ:

Bên phải chúng ta là dãy núi TÀ CÚ năm ở phía Nam thành phố Phan Thiết.

Cao 649 m, nằm ven Quốc lộ 1A, thuộc thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, cách Phan Thiết 28 km về phía Nam là một thắng cảnh kỳ thú và là một điểm leo núi hấp dẫn của tỉnh Bình Thuận.

Quanh năm không khí ở Tà Cú trong lành, mát mẻ. Nhiệt độ trung bình từ 18 đến 22°C. Xưa kia đây là một ngọn núi lửa thuộc đệ nhất nguyên đại nên trong đất có vàng sa khoáng và sulfur, trong nước suối có hoạt chất của các loại rễ cây thuốc như ngũ gia bì, thần xạ, đỗ trọng bắc… rất tốt cho những người bệnh gan hoặc bệnh ngoài da.

Để lên tới đỉnh ngọn núi nằm trong khu rừng cấm, du khách có thể cần 2 giờ để vượt qua 2.290 m đường dốc cheo leo, khúc khuỷu với những bậc đá có từ vài chục năm trước. Dọc ngang lối đi vô số những thân, rễ cây bò xuôi ngược. Bằng Lăng là đoạn dốc cao nhất, nghiêng 45°.

Du khách sẽ rất vất vả để leo qua đoạn đường này, nhưng bù lại có thể ngắm nhìn những thân bằng lăng cổ thụ rải đầy hoa tím lẫn với một loài hoa cánh trắng, trôi dạt trên dòng nước chảy men theo sườn núi. Cách đỉnh 1.250 m, đường đi đã dễ dàng hơn. Lúc này du khách có thể chiêm ngưỡng trời xanh thoắt ẩn thoắt hiện qua tán rừng và thung lũng mờ ảo bên dưới.

Tà Cú có phong cảnh hữu tình với những phiến đã muôn hình vạn trạng, những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi cùng khí hậu trong lành, thanh tịnh. Hoặc du khách có thể ngồi 10 phút trong cabin “bay” theo đoạn dây cáp dài 1.600 m ở độ cao 500m, ngắm nhìn khu rừng xanh bao la.

Nằm ở độ cao 563 m (chưa tới đỉnh) là hai ngôi chùa: Chùa Trên (Linh Sơn Trường Thọ) và chùa Dưới (Long Đoàn), cùng bậc thang đá cao và những ngọn tháp. Ở đây có bức tượng Phật Thích Ca nằm, làm bằng bê tông, quét vôi trắng dài 49 m nằm giữa bốn bề là núi non trùng điệp, xa xa là biển xanh. Đây là bức tượng lớn nhất Đông Nam Á, lớn hơn tượng Phật nằm, dài 45 m trong chùa Wat Po ở Bangkok.

Khi đã đứng trên đỉnh núi, du khách có thể thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên xung quanh đẹp như một bức tranh thủy mặc. Phía xa là bờ biển Hàm Tân trãi dài với một màu xanh biên biếc, những cây cổ thụ đứng trầm lặng dưới những áng mây. Ở trên cao, về phía Quốc lộ 1A, nhà cửa, ruộng vườn đan xen nhau thành từng vuông vức. Ngay từ 5 giờ chiều sương mù đã bắt đầu bảng lảng khắp thung lũng. Đêm xuống, những tảng sương dày đặc, bao phủ khắp núi rừng.

Vào giữa thế kỷ 19 nhà sư Trần Hữu Đức (1812-1887) pháp danh Thông Ân, pháp hiệu Hữu Đức từ Phú Yên vào Bình Thuận dựng một thảo am ở làng Kim Thạnh (Bàu Trâm) vừa tu hành vừa bốc thuốc. Ông đã từng tu hành và góp nhiều công sức chăm lo Phật sự ở nhiều chùa tại Bình Thuận như chùa Cổ Thạch, Linh Sơn (Tuy Phong), Phước Hưng (Phan Thiết) và một số chùa ở đảo Phú Quý.

Năm 1872 nhà sư lên núi Tà Cú tu hành trong một hang đá (sau này gọi là hang Tổ). Cho đến lúc mất, sư Hữu Đức không xuống núi nữa. Lúc đương thời nhà sư Hữu Đức là một thầy thuốc giỏi. Năm Tự Đức thứ 33 (1880) hoàng thái hậu bệnh nặng, chư thần tâu xin rước sư về giúp trị bệnh nhưng nhà sư từ chối, chỉ gởi người về triều.

Bệnh hoàng thái hậu hết, vua Tự Đức mới ban cho tên chùa là Linh Sơn Trường Thọ và nhà sư là “Đại lão hòa thượng”. Đến khi nhà sư Hữu Đức viên tịch (nhằm ngày 5 tháng 10 năm 1887 âm lịch) thì sư Tâm Hiền lập ngôi chùa mới ở phía dưới, sau này gọi là chùa Dưới hay chùa Long Đoàn và chùa Linh Sơn Trường Thọ là chùa Trên.

Phía trên chùa, cách hang Tổ khoảng 50 m là tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn dài 49 m, cao 7 m là pho tượng Phật nằm lớn nhất Đông Nam Á. Tác phẩm do ông Trương Định Ý chủ trì, được đúc bằng bê tông cốt thép trong đợt trùng tu năm 1963.

Cách pho tượng khoảng 50 m về phía dưới là nhóm tượng Di đà Tam tôn xếp thành hàng ngang, xây trên đài sen: tượng A Di Đà ở giữa cao 7 m, bên trái là tượng Quán Thế Âm và bên phải tượng Đại Thế Chí đều cao 6,5 m. Tháp mộ của Tổ và của các nhà sư trụ trì đã qua đời được chia thành hai cụm ở trước điện thờ và sau điện thờ. Tháp Tổ nằm trước điện thờ, bên cạnh có mộ con cọp tương truyền là đã được sư Hữu Đức thuần hóa.

Xem Thêm Bài 💦 Thuyết Minh Về Hồ Núi Cốc ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Khu Du Lịch Núi Tà Cú Đặc Sắc sẽ mang đến cho các em nhiều ý tưởng thú vị để hoàn thiện bài văn của mình.

Tại thị trấn Thuận Nam huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, có một ngọn núi luôn nổi bật trên nền trời xanh ngắt, giữa những vườn thanh long sai trĩu quả, đó là núi Tà Cú – một địa danh gắn liền với di tích lịch sử văn hóa chùa Linh Sơn Trường Thọ và tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn lớn nhất Ðông Nam Á.

Khu du lịch núi Tà Cú lâu nay vốn là nơi có khí hậu lý tưởng, rất thuận lợi cho việc nghỉ dưỡng với tổng diện tích hơn 250.000m2, bao gồm cả rừng, núi và biển trong quần thể sinh thái phong phú, đa dạng. Từ năm 2003 đến nay, núi Tà Cú còn nổi tiếng với hệ thống cáp treo, giúp du khách có thể vừa ngắm cảnh một vùng đồng bằng cực Nam Trung Bộ vừa tận hưởng không khí trong lành của vùng rừng nguyên sinh ngay bên dưới.

Cả tuyến cáp treo có 25 -35 cabin, đóng mở tự động, mỗi cabin chở được 6 người, di chuyển trên đường cáp dài 1.600m và cao 500m. Công suất tải khách lên xuống trong vòng 1 giờ có thể lên đến 1.000 lượt khách, chỉ mất từ 7-10 phút để đến ga trên.

Từ cổng khu du lịch, xe điện chở thẳng du khách đến trạm ga lên núi, cách đó khoảng vài trăm mét. Chọn cho mình và bạn đồng hành một cabin, du khách sẽ bắt đầu cuộc hành trình, bỏ lại phía sau không gian rộng lớn. Phía dưới chân là những ngọn cây cổ thụ với dây leo mọc um tùm, hoang sơ, gợi cho du khách cảm giác thật thư thái, dễ chịu. Đi lên cao nữa, trước mặt du khách sẽ là biển Hàm Thuận Nam, còn bên trái là ngọn hải đăng Kê Gà nổi tiếng, hơn 100 tuổi, bên những bãi đá tuyệt đẹp đang dập dềnh sóng vỗ.

Xuống trạm ga trên, không khí trở nên mát hẳn. Tiếp tục theo con đường mòn, rồi đi thêm hơn 100 bậc thang nữa, du khách ngỡ ngàng trước một tổng thể kiến trúc tượng Phật, tháp mộ, miếu thờ của di tích chùa Linh Sơn Trường Thọ nằm ngay trên đỉnh núi trong khi phía dưới và xung quanh, trời đất như đang ôm trọn lấy.

Đầu tiên là cảnh tịnh độ nhân gian với ba pho tượng Phật Di Đà, Quan Thế Âm và Đại Thế Chí, hiện là một trong bảy cấp của cảnh tịnh độ đạo tràng theo Quán kinh và Kinh Di Đà do sư trụ trì Thích Vĩnh Thọ phác thảo từ năm 1960. Màu vôi trắng toát của các pho tượng giữa màu xanh cây rừng tạo nên cảnh hùng vĩ siêu nhiên.

Tất cả được hình thành dựa theo thế núi nên chùa Trên, chùa Dưới đều quay mặt về hướng Đông Nam với đặc trưng kiến trúc chùa theo phái Bắc Tông, dù qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn giữ được nét riêng cổ kính, mái cong lợp ngói, lưỡng long chầu nguyệt đang nhuốm màu rêu phong. Gặp buổi sớm, khi những đám sương mù còn bao phủ lẫn vào lớp đá hoa cương thì khung cảnh này rất dễ đưa du khách phiêu bồng, ngỡ đây là cõi mộng của trần gian.

Tuy vậy, công trình mang tính đồ sộ và độc đáo nhất vẫn là di tích “Song Lâm Thị Tịch” với pho tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn lớn nhất Ðông Nam Á, dài 49m, cao 11m, trong tư thế nằm nghiêng, lưng tựa vào vách núi, gối đầu lên tay. Tượng được khởi công xây dựng từ năm 1962 và gần 4 năm sau mới hoàn thành. Từ đó đến nay, hàng triệu lượt du khách, Phật tử đã hành hương về đây viếng thăm, thắp hương cầu Phật trong khung cảnh hùng vĩ, oai nghiêm trên đỉnh núi Tà Cú.

Không chỉ là thắng cảnh du lịch, núi Tà Cú còn được biết đến là Khu rừng bảo tồn thiên nhiên quốc gia, có thảm động, thực vật phong phú với hơn chục loài quý hiếm, có tên trong sách Đỏ của thế giới như: thằn lằn đá Gekko takouensis sp. nov Ngô & Gamble, thằn lằn chân ngón Cyrtodactylus takouensis Ngô & Bauer, gà gô, diều núi, voọc bạc Trường Sơn, chà vá chân đen…, các loại cây quý như: Afzelia xylocarpa, Irvingia malayana… và trên 150 loại cây thuốc.

Đến đây vào mỗi độ Xuân về du khách thỏa thích ngắm hoa mai vàng, hoa vông đỏ nở thơm nức cả cánh rừng. Đặc biệt, dòng nước suối trong vắt tuôn ra từ những tảng đá trên núi mát lạnh, có vị ngọt lịm, vốc một hụm nước đưa lên miệng thưởng thức, cứ ngỡ đang tận hưởng nguồn nước Cam lộ, vốn chỉ có trong truyền thuyết…

Xem Thêm Bài 💧 Thuyết Minh Về Khu Di Tích Lịch Sử Pác Bó ❤️️15 Bài Hay Nhất

Bài Thuyết Minh Về Núi Tà Cú Điểm 10 để lại nhiều ấn tượng cho các bạn đọc với lối văn hấp dẫn, sáng tạo.

Núi Tà Cú nằm ven quốc lộ 1A tại thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, cách thành phố Phan Thiết 28km về phía Nam, là một địa điểm leo núi, một thắng cảnh kỳ thú của tỉnh Bình Thuận có đỉnh cao 649m so với mặt nước biển. Khung cảnh nơi đây hoang sơ, kỳ vỹ với núi non trùng điệp, thấp thoáng mái chùa cổ kính ẩn sau rừng cây.

Khí hậu ở Tà Cú quanh năm trong lành mát mẻ. Đến đây vào mỗi độ xuân về, du khách thỏa thích ngắm hoa mai vàng, hoa vông đỏ nở thơm nức cả cánh rừng. Nhiều loại cây như trắc, giáng hương, bằng lăng rợp cả ngọn núi. Đặc biệt, dòng nước suối trong vắt tuôn ra từ những khe đá trên núi mát lạnh, trong veo càng làm cho khung cảnh thiên nhiên trở nên kỳ thú.

Cách thứ 2 chỉ mất 15 phút đã có mặt trên đỉnh vừa nhanh lại vừa tiện là cáp treo. Ngồi trên cáp treo, ngoài việc không phải tiêu tốn bất kỳ giọt mồ hôi nào, du khách còn được tận hưởng cảm giác lướt trên những ngọn cây cổ thụ xanh um, cây vông nở hoa đỏ rực… ngắm nhìn khu rừng xanh bao la.

Đứng trên đỉnh núi cao, nhìn những đám mây lững lờ trôi trong cái không khí lành lạnh tưởng chừng như đang đứng dưới trời Đà Lạt, dường như những mệt mỏi đều tan biến.

Đọc Thêm Bài 💧 Thuyết Minh Về Khu Di Tích Lịch Sử Tân Trào ❤️️ 15 Bài Hay

Thuyết Minh Về Núi Tà Cú Ngắn Gọn và súc tích thể hiện qua từng câu văn, hình ảnh miêu tả chân thực và sinh động.

Một ngọn núi thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận được biết đến như một thắng cảnh quốc gia với hệ thực vật phong phú, đồng thời, nơi đây cũng là chốn linh thiêng đối với khách mộ đạo. Nơi đây không chỉ có thạch thất thông với mạch nước ngầm – nơi nhà sư khai sơn tu tập mà còn là nơi có nhiều tác phẩm điêu khắc tượng Phật nổi tiếng, trong đó có tượng Phật nằm lập kỷ lục châu Á…

Chùa thiêng trên ngọn núi thiêng

Năm 1872, Nhà sư Trần Hữu Đức (1812-1887) lên núi Tà Cú lập tịnh thất tọa thiền trong một hang đá. Nhờ công chữa bệnh cho hoàng thái hậu, vua Tự Đức đã ban 4 chữ Linh Sơn Trường Thọ cho ngôi chùa trên núi Tà Cú, nơi nhà sư tu tập.

Khi nhà sư viên tịch (ngày 5-10 Âm lịch năm 1887), ngôi chùa bên dưới Linh Sơn Trường Thọ, gọi là Linh Sơn Long Đoàn (chùa Dưới) được thành lập như một nơi để thờ cúng và ghi nhớ công ơn của người khai sơn.

Tương truyền, khi tọa thiền tại thạch thất (nay gọi là Hang Tổ), nhà sư dùng mạch nước ngầm thông với thạch thất để sinh hoạt hàng ngày, ăn rau rừng và không hề xuất sơn. Chính vì vậy, núi Tà Cú đến nay được xem là ngọn núi thiêng, có nhiều loại thuốc nam quý hiếm, là thắng cảnh của tỉnh Bình Thuận và danh lam thắng cảnh lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Khách thập phương đến đây để tận hưởng không khí trong lành, thanh tịnh của núi rừng, đồng thời, nơi đây cũng là “điểm hẹn” quen thuộc của khách hành hương.

Xem Thêm Bài 💧 Thuyết Minh Về Yên Tử, Chùa Yên Tử ❤️️15 Bài Văn Hay Nhất

Văn Thuyết Minh Về Núi Tà Cú Bình Thuận Hay nhất được nhiều bạn đọc quan tâm và chia sẻ rộng rãi đến mọi người cùng biết.

Có rất nhiều cách để chinh phục và khám phá núi Tà Cú. Tùy vào sở thích và sức khỏe của mỗi người mà tận hưởng cảnh vật, khí trời thiên nhiên theo cách riêng của bản thân. Đối với những người khỏe mạnh, thích phiêu lưu thì leo bộ lên đỉnh Tà Cú là một trong những lựa chọn vô cùng tuyệt vời.

Bằng cách này, bạn có thể tận được hưởng bầu không khí núi rừng trong lành, mát nẻ, cùng với thảm thực vật phong phú. Trên con đường bộ để lên núi, thỉnh thoảng, bạn vẫn có thể bắt gặp những loài động vật vô cùng độc đáo, nghe được tiếng chim hót líu lo hiền hòa…

Ngoài ra, nhìn toàn cảnh khu rừng già nguyên sinh bằng cách đi cáp treo cũng là một trong những lựa chọn được nhiều du khách hướng tới. Khi ngắm núi Tà Cú từ trên cao xuống, bạn sẽ có một cảm giác thích thú trước sự hòa quyện tuyệt vời giữa khung cảnh núi rừng và biển trời xanh thẳm, những tán cây to với nhiều hình hài khác nhau tiếp nối nhau giữa lưng chừng núi, những cổ thụ khổ lồ cao thẳng, sừng sững, hiên ngang giữa trời…

Sau khi đi hết một đoạn đường núi bằng đường bộ hoặc cáp treo, du khách sẽ phải bước qua rất nhiều bậc thang cao mới tới được cổng chùa. Tại đây, khí trời thanh sạch của núi, mát lành của gió biển sẽ kích thích toàn bộ giác quan, giúp tâm hồn và cơ thể bạn trở nên vô cùng thư giãn và sản khoái. Nghỉ mệt một chút, bạn sẽ vào ngồi chùa khấn niệm và tham quan.

Đi tiếp đến những bậc tam cấp là nhóm tượng Tam Thế Phật được xếp hàng ngang nhưng độ cao thấp không giống nhau. Đây là một trong bảy cấp của cảnh tịnh độ đạo tràng theo Quán Kinh và Kinh Di Đà do sư trụ trì Thích Vĩnh Thọ phác thảo từ năm 1960: Phật Di Đà cao 7m, Quan Thế Âm và Đại Thế Chí cao 6,5m.

Đi theo con đường mòn và những bậc thang lên núi, du khách được chiêm ngưỡng công trình đồ sợ và độc đáo, tượng Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn có chiều dài 49m, cao 11m nằm nghiêng, lưng tựa vào núi, gối đầu lên tay. Đây là tượng Phật niết bàn lớn nhất Đông Nam Á được khởi công xây dựng từ năm 1962 và hoàn thành năm 1966.

Rời bức tượng Phật, theo phía chân tượng phật nằm, ven bãi đá ngổn ngang mọc đầy những cây thuốc quí là một hang đá chứa đựng biết bao điều bí ẩn với câu chuyện huyền thoại về người khai sáng. Đó là hang Tổ được kết cấu bởi khá nhiều khối đá, và dẫn sâu xuống dưới khoảng 100m, ăn thông ra với các ngọn núi khác.

Khu du lịch núi Tà Cú sẽ để lại trong lòng du khách những cảm xúc thật khó quên. Đây là điểm leo núi hấp dẫn, một thắng cảnh kỳ thú, hữu tình cũng là nơi du lịch tâm linh quyến rũ.

Đọc Thêm Bài 💧 Thuyết Minh Về Côn Đảo, Nhà Tù Côn Đảo ❤️️15 Bài Hay Nhất

Thuyết Minh Về Khu Du Lịch Núi Tà Cú Hay Nhất sẽ giúp các em có thể học hỏi và trau dồi thêm cho mình nhiều kĩ năng viết hay.

Núi Tà Cú nằm ven quốc lộ 1A, thuộc thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Cách thành phố Phan Thiết 28km về phía Nam. Ngọn núi mang vẻ đẹp hùng vĩ và hoang sơ với núi non trùng điệp, thấp thoáng bóng dáng mái chùa Linh Sơn Trường Thọ cổ kính lâu đời. Núi Tà Cú là dãy núi dài nhất châu Á với đỉnh cao 649 mét, đá núi đủ hình dạng, bao bọc là trăm ngàn loại cây rừng lưu niên. Từ cảnh trí thiên nhiên đến những truyền thuyết như hòa quyện vào nhau để Tà Cú càng thêm bí ẩn và quyến rũ.

May mắn được thiên nhiên ưu ái, núi Tà Cú có khí hậu quanh năm mát mẻ, nhiệt độ từ 18 đến 20 độ C. Đặc biệt, du khách đến tham quan Tà Cú vào mỗi độ xuân về sẽ được tận hưởng tiết trời se lạnh xen vào những tia nắng đầu xuân ấm áp, mai vàng, hoa vông đỏ nở rực, thơm nức cả cánh rừng. Đặc biệt, dòng nước suối trong vắt tuôn ra từ những khe đá mát lạnh, trong veo càng làm cho khung cảnh thiên nhiên trở nên tuyệt mỹ.

Thứ nhất, từ dưới chân núi du khách sẽ đi bộ theo lối mòn với hơn 1000 bậc thang ngoằn ngoèo, băng xuyên qua cánh rừng già. Bạn sẽ mất khoảng 1 ngày mới leo đến được đỉnh núi. Hình thức này chỉ phù hợp với những bạn thích mạo hiểm, phiêu lưu và có sức khỏe bền bỉ.

Cách thứ hai được nhiều du khách lựa chọn hơn, đó chính là cáp treo. Với hình thức này bạn chỉ mất 15 phút để lên tới đỉnh núi Tà Cú, vừa nhanh, vừa tiện lợi. Ngồi trên cáp treo, ngoài việc không phải tiêu tốn bất kỳ giọt mồ hôi nào, du khách còn được tận hưởng cảm giác lướt trên những ngọn cây cổ thụ xanh um, cây vong nở hoa đỏ rực,… Ngắm nhìn toàn cảnh khu rừng xanh bao la.

Trên đỉnh núi Tà Cú gồm có 2 ngôi chùa nổi tiếng là Linh Sơn Trường Thọ và chùa Long Đoàn. Nơi đây rất phù hợp với các du khách có tín ngưỡng tâm linh, muốn thành tâm khấn Phật. Tại đây có pho tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn với chiều dài 49 mét, có thể coi là pho tượng Phật lớn nhất Đông Nam Á và mang giá trị nghệ thuật kiến trúc độc đáo. Rời bức tượng Phật tiến về phía Đông đỉnh núi, du khách sẽ bắt gặp một hang núi sâu thăm thẳm chứa đựng bao điều bí ẩn về huyền thoại người khai sáng đã tịnh độ nơi đây, hang Tổ.

Giới Thiệu Bài 💧 Thuyết Minh Về Đền Nghè ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Với độ cao 649m so với mặt nước biển, du khách đến Tà Cú có thể lên núi bằng cáp treo để ngắm nhìn toàn cảnh từ trên cao của cả ngọn núi, với xa xa là con đường quốc lộ 1A quanh co, nhộn nhịp xe cộ hay những vườn thanh long trái chín đỏ được trồng từng hàng thẳng tắp.

Hệ thống cáp treo tự động hiện đại theo công nghệ châu Âu được xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 2003. Mỗi cabin có sức chứa lên đến 6 người và chỉ mất khoảng 10 phút để đưa du khách đến đỉnh núi.

Nếu có nhiều thời gian hơn và muốn thử thách bản thân, du khách có thể lên núi bằng đường bộ với lộ trình hơn hai tiếng, trải qua hàng nghìn bậc đá quanh co và những con dốc cao. Du khách sẽ có dịp khám phá thảm động thực vật phong phú tại Tà Cú với hơn chục loài quý hiếm có tên trong sách đỏ của thế giới như thằn lằn đá, thằn lằn chân ngón, gà gô, diều núi, voọc bạc Trường Sơn, chà vá chân đen,… các loại cây thuốc, cây cổ thụ quý hiếm.

Điểm thu hút khách thập phương đến với Tà Cú chính là nơi đây có 2 ngôi chùa linh thiêng Linh Sơn Trường Thọ và Linh Sơn Long Đoàn. Trong đó, chùa Linh Sơn Trường Thọ được vua Tự Đức ban tên do tổ sư Trần Hữu Đức đã có công khai sơn và chữa bệnh cho Hoàng thái hậu Từ Dụ vào năm 1880.

Còn Linh Sơn Long Đoàn là nơi các đệ tử của tổ sư Trần Hữu Đức lập ra để tri ân công đức của người. Đến đây, khách thập phương có thể viếng cảnh chùa, thưởng thức cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và hoàn toàn quên đi những muộn phiền thường nhật.

Tiếp tục hành trình với hàng trăm bậc thang, du khách sẽ đi qua quần thể Tam Thế Phật bao gồm A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát để đến với tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn dài 49m với tư thế nằm nghiêng, lưng tựa vào vách núi, an nhiên gối đầu lên tay vừa thanh thoát uy nghiêm, vừa gần gũi, hiền hòa với không gian núi rừng. Tượng Phật nằm được xây dựng từ năm 1963 bởi điêu khắc gia Trương Đình Ý, được làm bằng xi măng cốt thép và quét vôi trắng bên ngoài.

49m chiều dài tượng Phật tượng trưng cho 49 năm từ khi Đức Thích ca thành đạo thuyết pháp độ đời đến khi nhập diệt. Đến bây giờ, câu hỏi về phương tiện thô sơ, sức người có hạn khi đó làm sao có thể vận chuyển hàng ngàn tấn thép, xi măng để hoàn thành tuyệt tác tượng Phật vẫn còn là điều bí ẩn. Vào năm 2013, tượng Phật này đã được tổ chức Sách kỷ lục Châu Á xác lập kỷ lục “Tượng Phật dài nhất trên đỉnh núi”.

Chia Sẻ Bài 🌹 Thuyết Minh Về Dinh Độc Lập ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài Văn Thuyết Minh Về Núi Tà Cú Đơn Giản giúp các em có thể học hỏi và có thêm cho mình những ý văn đặc sắc.

Núi Tà Cú nằm ven Quốc lộ 1A thuộc Huyện Hàm Thuận Nam , cao 649 m , trên ngọn có chùa Linh Sơn Trường Thọ mà thường gọi là Chùa Núi. Vào năm 1872 , một nhà sư lên đây lúc còn hoang sơ để tu hành trong một hang đá, nay gọi là Hang Tổ mà du khách hay ghé đến thắp nhang . Nhà sư này tu hành suốt đời không bao giờ xuống núi cho tới khi lâm chung. Phía lưng chừng núi về phía Tây Bắc có ngôi chùa gọi là Chùa Hố Dầu.

Ngày nay, du khách và tín đồ viếng chùa không còn phải đi bộ chinh phục núi như xưa mà sử dụng cáp treo rất thuận tiện. Bên cạnh đó, trên đỉnh núi của Chùa còn có tượng phật nằm dài 49m toạ lạc hoang vu giữa núi rừng, nhờ đó Núi Tà Cú trở thành điểm tham quan kết hợp với tín ngưỡng hấp dẫn nhất Bình Thuận.

Thuyết Minh Về Chùa Núi Tà Cú Đặc Sắc  là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các em ôn tập hiệu quả và đạt được điểm như ý.

Chùa núi Tà Cú ngụ trên đỉnh núi Tà Cú với cảnh sắc thiên nhiên,núi rừng hùng vỹ, bao la trầm mặc.Chùa Núi Tà Cú được lập dựng vào khoảng năm 1878-1880. Sư Tổ Trần Hữu Đức, húy hiệu Thông Ân, người ở xã An Dân,huyện Tuy An, Phú Yên, là người nuôi chí thoát trần, đến thiền tu ở hang động trên ngọn núi cao 694 mét này. Sư Tổ thiền tu, bốc thốc chữa bệnh cứu người. Non cao nơi đại ngàn Tà Cú thật là hùng vĩ, thơ mộng giữa rừng cây cồ thụ đại ngàn, xanh thẵm, quanh năm bốn mùa sương phủ. Nhiệt độ ở đây trong lành mát mẻ, từ 16-20 độ C. Với da dạng cảnh sắc thiên nhiên phong phú, động thực vật quý hiếm.

Chùa Núi Tà Cú, bức tranh tuyệt đẹp của núi rừng, Khu bảo tồn thiên nhiên ở Hàm Thuận Nam. Đến Tà Cú là đến với thế giới cõi phập trầm mặc, từ bi, đức độ, ưu ái trần gian. Với vị thế yên tĩnh, Chùa Núi Tà Cú ẩn mình trong rừng cây trùng điệp, mặt chùa hướng ra biển đông, không gian khoảng đảng, thanh tĩnh. Ngôi Chùa cổ này, hoà quyện vào cảnh sắc thiên nhiên, nơi lâm sơn, thị tịch. Bên tả, hữu của chùa là hai dòng suối nhỏ uốn quanh, nước trong vắt, chảy ra từ lòng núi, mang hương vị ngọt mát, của hương sắc núi rừng.

Tương truyền, thửa xưa, nơi Sư Tổ thiền tu là một hang sâu thăm thẵm, có nhiều mỏm đá hoa cương tuyệt đẹp, hang động trên đại ngàn có ngõ ngách, thông ra biển Kê Gà. Hang Tổ huyền bí trên núi ngàn Tà Cú, vẫn còn bí ẩn hàng trăm năm nay chưa được khám phá.

Phong cảnh “song lâm thị tịch, tịnh độ nhân gian” của ngôi chùa cổ Linh Sơn Trường Thọ là cảnh sắc độc đáo ở vùng non cao thăm thẵm. Giỗ Tổ khai sơn ở chùa, hàng năm được tổ chức vào ngày 5 tháng 10 âm lịch, để ghi nhớ công lao lập dựng ngôi chùa cổ này của Sư Tổ trên vùng núi cao, địa linh nhân kiệt.

Huyền thoại về Sư Tổ khai sơn xa xưa là người thiên tu huyền bí, quanh năm Ngài chỉ ăn hoa quả, hương hoa cây rừng, để tu hành nơi chốn cõi Phật. Sư Tổ từ bi đức độ, có tài bốc thưốc chữa bệnh, cứu người bằng lá cây rừng trên núi cao Tà Cú. Tương truyền niên hiệu Tự Đức thứ 33, vào khoảng năm 1848-1883, Hoàng Thái Hậu, tức bà Từ Cung, mẹ Vua Tự Đức, tại cung đình Huế lâm bệnh nặng, Vua ra chiếu cho quân thần và ban dân trong nước, nếu ai chữa trị thuốc thang, cứu được Hoàng Thái Hậu thì sẽ được Triều Đình trọng thưởng.

Sư Tổ Trần Hữu Đức bèn cho các vị sư, mang linh dược quý về chuẩn y, “cảm ứng đạo giao nang tư nghì”, cho Hoàng Thái Hậu uống. Được uống thuốc của Sư Tổ chữa trị bà khỏe hẳn. Vua Tự Đức ghi ơn, ân tứ cho Sư Tổ bằng việc ban tặng cho ngôi chùa cổ trên núi Tà Cú bằng cái tên quý giá “Linh Sơn Trường Thọ”. Ngôi Chùa cổ độc đáo này được mang tên linh thiêng của Vua ban từ đó.

Chùa Linh Sơn Trường Thọ xây dựng theo lối kiến trúc cổ của Phật giáo phương Đông, chùa cổ có nhiều cột, kèo, xuyên, trếng, được chạm trồ hoạ tiết tứ linh, “long, lân, quy, phượng” mái chùa lợp ngói âm dương, theo bảy góc uốm lượn hình rồng. Thề hiện sự thanh thoát trần gian, an hoà trong thế gian trầm mặc. Bằng kỹ xão điêu luỵện, bàn tay khéo léo của nghệ nhân cổ xưa, đã kiến tạo, ngôi chùa cổ Linh Sơn Trường Thọ, là kiệt tác về kiến trúc cổ độc đáo của Phật giáo còn lưu lại đến ngày nay.

Đặc biệt, nét độc đáo nhất của ngôi chùa cổ này là pho tựơng Thích Ca Mô Ni nhập niết bàn, nằm nghiêng, gối đầu lên tay, dài 49 mét, cao 11 mét, lưng tựa vào vách núi, mặt hướng ra biển đông, được xây dựng vào những năm 1960, thế kỹ XX, do kiến trúc sư Dương Đình ý, (người Việt Nam) kiến tạo.

Thích Nữ Ba La – Trụ trì Chùa Linh Sơn Trường Thọ cho biết: “Tựợng phật, là công trình kiến trúc đồ sộ, bao dung, nơi chốn sơn lâm tịnh mịch, an tư. Tượng trưng đủ hình tứ lục và bảy chúng Phật tử theo triết lý đạo Phật. Tượng Thích Ca nhập niết bàn dài 49 mét, ở chốn sơn lâm, tĩnh mịch, hoà quyện vào cảnh sắc thiên an hoà, là tâm linh của Phật giáo, luôn tĩnh tâm, hướng thiện”…

Vào những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, bằng nhiều công sức lao động, sáng tạo của dân chúng Phật tử. Họ vận chuyển thủ công bằng khuân vác, quang gánh, kéo dây để đưa hàng trăm tấn cát, xi năng, sắt thép, lên đỉnh núi cao Tà Cú, hoà trộn với đá hoa cương trên núi để sáng tạo nên công trình nghệ thuật tuyệt trần, tượng Phật Thích Ca Mô Ni nhập niết bàn, mang đậm bản sắc văn hoá, kiến trúc xây dựng của Phật giáo còn lưu lại cho muôn đời sau.

Anh Uzo igo – Du khách Nga nói: “Cảm nhận của tôi về tượng phận dài 49 mét này rất ấn tượng và độc đáo; bề thế về hình dạng và kiến trúc.Thể hiện bàn tay và khối óc của người Việt Nam đối với tâm linh Phật giáo”…

Thắng cảnh Chùa Linh Sơn Trường Thọ còn nổi tiếng với cụm tượng Tam Thế Phật độc đáo theo lối kiến trúc kỹ xảo, nằm phía dưới, cách tượng Phập Bà 100 mét.

Đó là pho tượng A-Di-Đà cao 7 mét, độ lượng bao dung, ưu ái trần gian; tượng Quan Âm và Thế Chí cao 6 mét được kiến tạo bằng chất liệu đá hoa cương và xi măng bê tông, nổi bật lên những đường nét kiến trúc tinh xão, trên một nền trắng tinh khiết, giữa phong cảnh núi rừng, xanh ngắt, trùng điệp đại ngàn. Quan Âm, Thế Chí là biểu tượng của lòng từ bi, đưa tâm linh con người hướng thiện,cầu siêu cho con người trần ai, đau khổ về thế giới hạnh phúc, an lành.

Để bảo tồn cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, cổ kính của Chùa Núi Tà Cú và di sản lịch sử-văn hoá quý giá này, hiện nay Chùa Linh Sơn Trường Thọ được Sư Thích Nữ Ba La, trụ trì trùng tu, xây dựng lại theo hướng bảo tồn tái tạo vóc dáng, đường nét độc đáo của ngôi chùa cổ ngày xưa.

Chùa có dáng vẻ uy nghi hơn song vẫn bảo tồn được những vẻ đẹp cổ kính của nét son Linh Sơn Trường Thọ Tự ban đầu. Phần chánh điện,tháp sen, mái chùa, nơi tôn thờ Phật Tổ, cầu kinh, niệm phật được xây dựng lại theo lối kiến trúc cổ, chạm trổ hình rồng “tứ linh” tạo thêm vẻ tôn nghiêm cổ kính. Những nghệ nhân khéo léo từ Huế vào thi công, xây dựng.

Đặc biệt hiện nay Chùa Linh Sơn Trương Thọ có thêm nét mới là những pho tượng Phật Tổ Thích Ca, tượng Sư Tổ, các vị tăng ni được tái tạo lại bằng những tuyệt tác điêu khắc bằng đá hoa cương trên núi Tà Cú. Những tảng đá hoa cương tuyệt đẹp trên núi ngàn, được bàn tay khéo léo của nghệ nhân từ Hội An, đến đây phục chế. Chùa Núi Tà Cú.

Đón Đọc Bài ❤️️ Thuyết Minh Về Hồ Hoàn Kiếm ❤️️ 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài Văn Thuyết Minh Về Núi Tà Cú Ấn Tượng được các bạn đọc yêu thích và chia sẻ rộng rãi trên các diễn đàn văn học nổi tiếng.

Núi Tà Cú là rừng bảo tồn thiên nhiên quốc gia có thảm động vật, thực vật phong phú với hơn chục loài quý hiếm có tên trong sách đỏ của thế giới như thằn lằn đá Gekko takouensis sp. nov. Ngô & Gamble, thằn lằn chân ngón Cyrtodactylus takouensis Ngô & Bauer, gà gô, diều núi, voọc bạc Trường Sơn, chà vá chân đen…

Các loại cây rất quý phải kể như Afzelia xylocarpa, Irvingia malayana…và trên 150 loại cây thuốc. Cứ mỗi độ xuân về hoa mai vàng, hoa vông đỏ nở thơm nức cả cánh rừng, triền núi có nhiều dòng suối tuôn nước trong ngần như vắt ra từ tảng đá và vị ngọt lịm của nước làm cho khách hành hương cứ tưởng là được uống nước Cam lồ trong truyền thuyết.

Địa chỉ: Thôn Nam Thành, Thị trấn Thuận Nam, Huyện Hàm Thuận Nam, Tỉnh Bình Thuận.

Từ thành phố Hồ Chí Minh dọc theo quốc lộ 1A vượt một đoạn đường khoảng 170km và dừng ở cây số 28 tính từ Phan Thiết vào có con đường rẽ về hướng biển chừng hơn 2 km là đến chân núi Tà Cú, một địa danh gắn liền với di tích lịch sử văn hóa Chùa Linh Sơn Trường Thọ mang đậm sắc cổ kính, nằm giữa khung cảnh rừng núi chập chùng lẫn khuất bóng mây. Du khách sẽ ngỡ ngàng khi đứng trước cảnh chùa cổ kính, tượng Phật trầm tư và dấu thiêng của Tổ sư từ buổi khai sơn cách đây trên 130 năm.

SCR.VN Gợi Ý 💦 Thuyết Minh Về Núi Voi ❤️️ 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Núi Tà Cú cao 649m so với mực nước biển, xưa kia là một ngọn núi lửa thuộc đệ nhất nguyên đại nên trong đất có vàng sa khoáng và sulfur, trong nước suối có hoạt chất của các loại rễ cây thuốc như ngũ gia bì, thần xạ, đỗ trọng bắc… rất tốt để chữa một số bệnh.

Núi Tà Cú được biết là rừng bảo tồn thiên nhiên quốc gia có thảm động thực vật phong phú với hơn chục loài quý hiếm có tên trong sách đỏ của thế giới như thằn lằn đá, thằn lằn chân ngón, gà gô, diều núi, voọc bạc Trường Sơn, chà vá chân đen… các loại cây quý như Afzelia xylocarpa, Irvingia malayana…và trên 150 loại cây thuốc.

Núi Tà Cú là một địa điểm leo núi với khung cảnh hoang sơ, thấp thoáng mái chùa cổ kính ẩn sau rừng cây. Khí hậu ở núi Tà Cú quanh năm trong lành mát mẻ. Đến đây vào mỗi dịp xuân về, du khách thỏa thích ngắm hoa mai vàng, hoa vông đỏ nở thơm nức cả cánh rừng, cây trắc, giáng hương, bằng lăng rợp cả ngọn núi và đặc biệt là dòng suối trong vắt tuôn ra từ những khe đá trên núi mát lạnh càng làm khung cảnh thiên nhiên trở nên kỳ thú.

Đường lên chùa Núi dài hơn 2500m, qua nhiều dốc cao với nhiều địa danh ấn tượng: đá Bàn Hạ, đá Bàn thượng, dốc Bằng Lăng hoa nở tím ngắt một góc rừng, dốc Yên Ngựa với khối đá lớn mặt phẳng như bộ phản nằm nghiêng bên khe suối… Tiến sâu hơn vào đỉnh núi, du khách sẽ được chiêm ngưỡng hàng loạt bức tượng phật, ấn tượng nhất là bức tượng phật nằm “Thích ca nhập niết bàn” dài 49m, cao 7m được xây dựng từ năm 1963 bởi điêu khắc gia Trương Đình Ý.

Đi về phía Đông của đỉnh núi, du khách sẽ đến một hang núi sâu thẳm chứa đựng biết bao điều bí ẩn với huyền thoại về người khai sáng đã tịnh độ ở đây được gọi là hang Tổ. Hang Tổ được kết cấu bởi khá nhiều khối đá, khá tối, lòng hang hẹp, thấp, mỗi bậc đá dẫn xuống hang cao non 1m và dẫn sâu xuống dưới khoảng 100m, ăn thông ra ngọn núi đằng sau.

Muốn chinh phục hang, mỗi nhóm phải có ít nhất 2 người để thay phiên nhau cầm đèn cầy, đèn pin. Bóng tối, những tảng đá trơn trượt, cảm giác không biết khi đặt chân xuống bậc đá thấp hơn có chạm phải con vật nào đó khiến nhiều du khách bỏ cuộc.

Chia Sẻ Bài 💦Thuyết Minh Về Đền Ngọc Sơn ❤️️15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Núi Tà Cú Lớp 8 giúp các em có thêm nhiều tài liệu để ôn tập và đạt được hiệu quả cao.

Núi Tà Cú ở Bình Thuận là một quần thể du lịch sinh thái tâm linh nổi tiếng, nơi có bức tượng Phật niết bàn lớn nhất châu Á. Sẽ là điểm dừng chân lý thú trên hành trình về với Bình Thuận – Về với nắng gió, cát, và những bãi biển hoang sơ tuyệt đẹp. Nhắc đến Bình Thuận, người ta sẽ nghĩ ngay đến Mũi Né – một trong những bãi biển đẹp và nổi tiếng nhất nước ta. Nhưng ở đó không chỉ có biển mà còn rất nhiều nguồn tiềm năng du lịch khác như núi, đồi cát…

Vì thế, nếu du lịch Phan Thiết – Mũi Né Bình Thuận mà không ghé qua khu du lịch núi Tà Cú – Một di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia thì sẽ là một thiếu sót lớn.

Núi Tà Cú cao 649m thuộc Thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Cách trung tâm thành phố Phan Thiết khoảng 30km về phía nam.

Từ lâu, ngọn núi này đã được xem là kì quan ở khu vực phía nam Bình Thuận. Đây là một dãy núi trẻ, án ngữ về phía đông là Quốc lộ 1A. Xưa kia, núi Tà Cú là một ngọn núi lửa thuộc đệ nhất nguyên đại nên trong đất có vàng sa khoáng và sulfur. Trong nước suối có hoạt chất của các loại rễ cây thuốc như ngũ gia bì, thần xạ, đỗ trọng bắc… rất tốt để chữa một số bệnh.

Đường lên núi tuy khó khăn, trắc trở nhưng sắc màu tươi mát và hương vị ngọt ngào. Âm thanh chốn rừng du dương, mây mờ huyền ảo, cảnh vật nên thơ sẽ làm bạn quên đi mệt nhóc, lòng tràn ngập hưng phấn khi đến viếng cảnh chùa. Toàn bộ cảnh chùa nằm trên một thung lũng. Nhìn từ phía Bắc, Đông Tây đều là núi đá và rừng cây ngút ngàn, tạo nên địa thế thiên nhiên hùng vĩ…

Đêm về, khi cảnh vật chìm sâu vào yên lặng, từ trên núi nhìn ra biển Đông ta thấy một rừng đèn câu nhấp nháy làm cho thành phố trở nên bồng bềnh, huyền ảo. Ngọn hải đăng trên núi Khe Gà tỏa sáng, định hướng cho một vùng biển mênh mông. Buổi sáng, khi nắng ban mai rực rỡ dưới đồng bằng thì chùa núi vẫn còn đắm mình trong sương mù. Ở nơi đây, cây cối rất phong phú và đa dạng. Nhiều loại như dừa, cam, mít, cau, bưởi, thanh long… quanh năm sai trái và có vị ngọt thanh hơn loại quả ở dưới đồng bằng.

Quanh sân chùa và tượng Phật, hàng trăm chậu kiểng trồng đủ loại hoa và cây cảnh quanh năm thay đổi màu sắc. Đặc biệt, khí hậu nơi đây rất thích hợp cho các loài hoa cúc, hồng, huệ, bất tử. Ngắm màu sắc hoa và cây cảnh đa dạng ở chùa núi, du khách cứ ngỡ mình đang du ngoạn ở xứ hoa Đà Lạt.

Trên núi Tà Cú còn có hoa rừng rất phong phú, phong lan, địa lan, dạ lan đua nhau cho hương sắc bốn mùa. Xuân đến mai vàng nở khắp cả cánh rừng. Đặc sắc nhất là giống mai có 12 tầng 6 cánh. Đất rừng Tà cú còn nuôi sống nhiều loại gỗ quý hiếm: giáng hương, cẩm lai, gõ, sến, xà cừ, căm xe, căm liên bằng lăng. Và nhiều loại thú như nai, kỳ đà, rắn, khỉ… ẩn mình sinh sống nơi rừng núi nguyên sinh này.

Mỗi lần du khách đến đây sẽ không khỏi ngỡ ngàng với cảm giác như đang bồng bềnh trên bồng lai tiên cảnh, bên hành trình về với nắng, gió, cát và những bãi biển dài tuyệt đẹp.

Tặng Bạn 🌵 Thẻ Cào Miễn Phí ❤️ Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Thuyết Minh Về Đôi Đũa ❤️️ 10 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Thuyết Minh Về Đôi Đũa ❤️️ 10 Bài Văn Ngắn Hay Nhất ✅ Một Vật Dụng Rất Quen Thuộc Trong Những Bữa Ăn Gia Đình Việt Nam.

Chia sẻ đến bạn đọc mẫu Dàn Ý Thuyết Minh Về Đôi Đũa chi tiết được nhiều bạn đọc nhiều quan tâm.

I. Mở bài:

Giới thiệu về đối tượng thuyết minh – đôi đũa.

Giới thiệu về đôi đũa cần thiết với em như thế nào, hiểu biết khái quát của em về nó.

II. Thân bài:

Miêu tả về đôi đũa: Chất liệu, màu sắc, tay cầm như thế nào.

Lợi ích của đôi đũa.

Con người sử dụng đôi đũa như thế nào?

III. Kết bài:

Cảm nghĩ của em về đôi đũa.

Khẳng định sự cần thiết và giá trị của đôi đũa.

SCR.VN Gợi Ý 💦 Thuyết Minh Về Đồ Vật, Đồ Dùng Sinh Hoạt ❤️️ 15 Mẫu Hay

Bài Văn Thuyết Minh Về Đôi Đũa Điểm 10 để lại nhiều ấn tượng cho các bạn đọc với lối văn logic và ấn tượng.

Mặc dù là dụng cụ ăn cơm phổ biến nhưng đôi đũa lại là một phần của văn hóa cổ xưa, xuất hiện trong rất nhiều truyền thuyết và phong tục dân gian khác nhau. Hiện có mặt khắp nơi bởi sự phổ biến của ẩm thực châu Á, đôi đũa từng là dụng cụ ăn cơm được lựa chọn ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam trong hàng ngàn năm.

Đôi đũa ra đời sớm nhất được làm bằng kim loại trong thời nhà Thương vào khoảng năm 1600 đến 1046 TCN, được phát hiện tại di tích khảo cổ Ân Khư, tỉnh Hà Nam. Sau đó, đũa ăn dần dần được sử dụng rộng rãi. Người ta thường cắt thực phẩm thành miếng nhỏ trước khi nấu để tránh sử dụng dao trên bàn ăn, điều được xem là thô lỗ.

Khổng Tử, triết gia sống ở thế kỷ thứ 6 TCN là người thông kim bác cổ nhưng sống giản dị, thanh đạm và an hòa. Ông đã khuyên mọi người không nên dùng dao trên bàn ăn bởi nó có thể khiến người ta nghĩ đến những việc sát sinh. Ông cũng không bao giờ cho phép dao xuất hiện trên bàn ăn của mình. Tư tưởng của Khổng Tử đã được nhiều người noi theo và đũa vì thế nhanh chóng phát triển và trở nên phổ biến.

Trên bề mặt, đôi đũa giải thích các nguyên lý cơ bản của triết học Trung Hoa, đáng chú ý nhất là nguyên lý nhị phân âm – dương. Hai chiếc đũa phải được dùng như một cặp, một chiếc làm trụ trong khi chiếc còn lại di chuyển để gắp thức ăn. Điều này phản ánh sự tinh thông về âm dương tương ứng với các yếu tố chủ động và thụ động, hình thành khái niệm về một tổng thể vận động không ngừng.

Hình dáng phổ biến của đôi đũa thường là một đầu tròn và một đầu vuông, tượng trưng cho trời và đất. Điều này có nguồn gốc từ bát quái, một tập hợp những nguyên tắc sử dụng để bói toán. Những ngón tay đặt ở giữa tượng trưng cho con người được nuôi dưỡng bởi trời và đất. Bởi vì tượng trưng cho sự hòa hợp của trời và đất nên đôi đũa được xem là điềm lành và thường được gói kèm vào của hồi môn trong đám cưới để chúc phúc cho những cặp đôi.

Theo truyền thống, độ dài tiêu chuẩn của một đôi đũa được đo lường bằng 7 thốn (1 thốn = 2,54 cm) và 6 phân (1 phân = 1 cm). Điều này đại diện cho thất tình lục dục được đề cập đến trong đạo lý của Phật giáo.

Khi cầm đũa đúng cách, những ngón tay tự nhiên đặt vào 3 vị trí: Ngón cái và ngón trỏ trên cao, ngón út và ngón đeo nhẫn ở dưới thấp, ngón giữa nằm ở giữa 2 chiếc đũa. Điều này không đơn giản chỉ là một quy ước bề mặt, nó còn tượng trưng cho quan niệm truyền thống của người Trung Hoa xưa về trời, đất và con người.

Những vật dụng vô cùng thân thuộc trong đời sống hàng ngày tưởng chừng như một sự phát hiện ngẫu nhiên, nhưng lại chứa đựng trong đó nội hàm sâu sắc về con người và vũ trụ. Và có thể thấy, sự hòa hợp giữa đất trời và con người luôn là yếu tố được tìm thấy trong những phát minh của người xưa.

Người xưa tin rằng có một mối liên kết tồn tại giữa thiên thượng và con người. Họ một lòng thờ kính Thần vì Thần là đấng tối cao sáng tạo ra hết thảy vạn sự vạn vật trong không gian vũ trụ này. Những niềm tin như thế đã thấm nhuần vào văn hóa và cuộc sống, từ những lễ nghi tín ngưỡng đến những phong tục dân gian lưu truyền từ thế hệ này đến bao thế hệ khác.

Cũng vì tấm lòng kính ngưỡng Thần, người xưa luôn coi trọng đạo đức và không ngừng tu dưỡng bản thân, vì họ luôn cho rằng: “Người đang làm, Thần đang nhìn”. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi văn hóa và đạo đức của người xưa đã đạt tới những đỉnh cao huy hoàng mà thời hiện đại khó lòng hình dung được.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Bài văn Thuyết Minh Về Đôi Đũa Ngắn Gọn và súc tích thể hiện qua từng câu văn, từ ngữ sinh động và sáng tạo.

Muôn đời nay, đôi đũa trở thành vật dụng không thể thiếu trong bữa cơm thường ngày của người Việt. Nhiều nghiên cứu cho rằng, đũa có nguồn gốc từ nền văn minh Trung Hoa, cũng có người lại khẳng định đũa thuộc văn minh lúa nước Đông Nam Á có cách đây cả mấy ngàn năm.

Ngày trước, tùy theo địa vị xã hội mà ông hoàng, bà chúa thường dùng đũa ngọc, ngà, quan lại dùng gỗ mun, còn người bình dân thì chỉ là đôi đũa tre, đũa gỗ đơn sơ, mộc mạc. Miền Bắc và miền Trung thường gắn với các lũy tre làng nên người dân thường lấy thân tre già chẻ vót làm đũa.

Ở miền Nam, người ta lại hay dùng cây dừa để làm nên đôi đũa. Đũa truyền thống Việt Nam có thân tròn và để mộc, một đầu vuông để các ngón tay cầm, một đầu được vót tròn để gắp thức ăn, không sơn quét, trang trí (trừ một số đũa chuyên dùng để thờ cúng). Tùy theo kích thước và công dụng mà đũa cũng được phân chia làm nhiều loại: đũa ăn chỉ dài độ 22-25 cm. Đũa lớn chuyên dùng để xào nấu dài khoảng 30- 35 cm để tránh hơi nóng và dầu mỡ không bắn dính vào tay.

Lại còn có những đôi đũa cả hay còn gọi là đũa bếp to dẹt, chuyên dùng để đảo, xới cơm trong những nồi lớn, dài tới 60-70 cm, dành cho cả hàng chục người ăn.

Dù chỉ là một vật dụng nhỏ bé nhưng đôi đũa lại chứa đựng trong đó cả một lịch sử lâu đời cùng những triết lý sâu sắc trong gia đình người Việt. Thông qua bữa cơm, đôi đũa đã trở thành một vật dụng để ông bà, cha mẹ có thể dạy con cháu những bài học về nền nếp, lễ nghĩa.

SCR.VN Giới Thiệu Bài 🍀 Thuyết Minh Về Đồ Dùng Trong Gia Đình ❤️️ 18 Bài Mẫu Hay

Bài văn Thuyết Minh Về Đôi Đũa Hay Nhất được chúng tôi chọn lọc và chia sẻ rộng rãi sau đây.

Đối với nhiều nước châu Á, đũa là một vật dụng rất quen thuộc trong bữa ăn. Tuy nhiên, văn hóa dùng đũa ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau về cách sử dụng lẫn quan niệm.

Đũa là vật dụng quan trọng và cùng quen thuộc với người dân Á Đông, nó trở thành một nét văn hóa của người Á châu. Và cùng với lịch âm, nến, giấy, mực… đũa là một trong những phát minh lớn của người Trung Quốc. Cách đây 3000 năm (thời Ân Thương) con người đã biết sử dụng đũa để gắp thức ăn thay cho việc bốc tay.

Thời gian đầu đũa ăn chưa được gọi là đũa, mà là “trợ” hoặc là “giáp”, đến thế kỷ thứ 6, 7 trước công nguyên đũa còn được gọi là “cân”. Sau đó vì một số quan niệm của người dân Giang Nam miền Đông Trung Quốc đã đổi tên thành “đũa”. Từ đó, đũa đã trở thành nền văn minh, bộ mặt của cả một nền văn hóa rộng lớn gồm nhiều nước châu Á.

Từ khoảng năm 1800 trước Công nguyên, những đôi đũa có kích thước lớn thường dùng để nấu ăn là chính. Đến khoảng năm 200 trước Công nguyên, đũa bắt đầu trở thành món đồ dùng phổ biến trong các bữa ăn.

Đối với người Việt, việc dùng đũa không chỉ đơn thuần chỉ là một công cụ để gắp thức ăn, nó còn thể hiện sự quan tâm, chia sẻ một cách tinh tế. Hầu như khi khởi đầu các bữa ăn, đặc biệt là trong các bữa tiệc, trước khi gắp đồ cho chính mình, họ thường dùng đôi đũa còn sạch để gắp đồ ăn mời mọi người quanh bàn. Còn trong suốt bữa ăn, nếu muốn tiếp đồ ăn cho người khác, phải đảo đầu đũa, đây là phép lịch sự tối thiểu nhất.

Nhìn chung, quy tắc dùng đũa của người Việt không quá khắt khe, trẻ nhỏ thường chỉ bắt đầu học cách sử dụng đũa khi đã lên 5 – 6 tuổi. Và cũng như nhiều quốc gia Á Đông khác, ngoài việc chống thẳng đôi đũa trong chén cơm bị coi là điềm gỡ, gắn liền với hình ảnh chén cơm cúng. Ở Việt Nam còn kiêng gõ đũa vào nhau, gõ đũa vào bát hay các vật dụng khác tạo tiếng động khi đang ăn. Họ quan niệm rằng, điều này sẽ khiến ma đói tìm tới quấy nhiễu, thêm vào đó đây là phép lịch sự mà người Việt rất đề cao.

Những đôi đũa truyền thống Việt Nam có thân tròn và để mộc, không sơn quét, trang trí, đầu đũa cũng thường không để quá nhỏ. Thông thường, ở miền Bắc đũa sẽ được làm từ tre còn ở miền Nam đũa thường được làm từ gỗ dừa.

Đọc Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Laptop, Máy Tính Để Bàn ❤️️ 15 Bài Mẫu Hay

Thuyết Minh Về Đôi Đũa Ăn Cơm, một vật dụng rất quen thuộc đối với mỗi người trong bữa cơm gia đình.

Mỗi vùng miền ở Việt Nam đều có nét văn hóa khác nhau nhưng điểm chung là đều sử dụng đũa. Ở miền Bắc có những lũy tre làng bao phủ nên người dân dùng thanh tre già để gọt đũa, miền Nam lại chủ yếu là những tán dừa nên sử dụng đũa dừa. Tuy nhiên, thông dụng nhất vẫn là đũa tre, đũa gỗ. Xưa người nông dân tự vót đũa thành thanh vuông, một đầu được vót tròn để dễ gắp thức ăn. Chính vì thế có câu ca dao về việc vót đũa trong dân gian:

Ở Việt Nam, thông dụng nhất vẫn là đũa tre, đũa gỗ.

Hiện nay để đáp ứng nhu cầu cho người dùng, ở Việt Nam có đa dạng các loại đũa hơn như đũa nhựa, đũa inox, đũa nhôm. Đũa nhựa cũng là dạng đũa phổ biến trong đời sống.

Cũng chỉ có ở Việt Nam mới có đũa để xới cơm từ nồi ra bát, đó là dạng đũa cả lớn, dẹt và làm từ tre hoặc gỗ. Trước khi xới cơm, muốn cơm không dính cần nhúng đũa cả vào nước; sau khi xới cơm dùng chiếc đũa nọ gạt cơm ra khỏi chiếc kia để đũa sạch cơm. Đây là cách sinh hoạt xưa kia ở các vùng nông thôn Việt Nam và hiện nay gần như không còn.

SCR.VN tặng bạn 💧 Thuyết Minh Về Cái Bát, Cái Chén, Cốc Nước 💧 10 Mẫu Hay

Văn Mẫu Thuyết Minh Về Đôi Đũa Chọn Lọc là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các em chuẩn bị tốt cho kì thi của mình.

Đôi đũa tre đơn sơ mộc mạc của văn hóa đất Việt luôn hiện diện trong mọi nhà người Việt, luôn âm thầm nhắc nhở họ về tình yêu quê hương đất nước, về sự đoàn kết và bình đẳng trong xã hội Việt Nam… Nhìn thật sâu vào đôi đũa tre, ta sẽ biết mình nên làm gì trong bổn phận và trách nhiệm của một người dân đất Việt.

Hễ là người Việt, dù giàu sang hay nghèo túng, không ai chưa từng biết đến đôi đũa tre mộc mạc mang đầy ý nghĩa đậm đà trong linh hồn dân tộc Việt Nam. Đôi đũa tre hầu như đã trở thành đặc điểm của văn hóa Việt Nam không kém gì chiếc áo bà ba thân thương, tà áo dài duyên dáng hoặc món ăn thuần túy canh chua cá kho tộ.

Từ đồng quê cho đến thành thị, từ những ngôi nhà lá chênh vênh đến những căn nhà cao tầng lộng lẫy, không có gia đình nào thiếu đôi đũa tre trong các bữa ăn.

Trên quê hương Việt Nam, lũy tre làng là một hình ảnh thơ mộng, hầu như được mọc khắp nơi, từ đầu ngõ, sau hè, bờ ao, cho đến bờ giậu hay đầu đình. Người dân Việt khi trồng tre, họ không nghĩ đến kinh tế hay việc làm đẹp mà vì lũy tre xanh ấy là bản thân, là linh hồn và đất nước quê hương của họ.

Vì thế, khi cầm đến đôi đũa tre, người dân Việt cảm thấy gần gũi với thiên nhiên và nguồn cội đất nước cha ông hơn. Đũa tre tuy đơn giản mộc mạc, nhưng đã nhắc nhở con cháu Việt Nam một cách âm thầm trong mọi bữa ăn về trách nhiệm yêu thương đùm bọc giống nòi và xứ sở của mình.

Ngày nay, ta thấy những loại đũa xuất hiện trên thị trường được làm bằng nhiều thứ quí giá như vàng, bạc, ngà, mun. Những người dân nếu có mua, thì cũng chỉ dùng để chưng bày, hay xài vào các dịp lễ lộc, còn hằng ngày các gia đình vẫn xài đũa tre đơn sơ để ăn cơm theo truyền thống.

Tiếp theo đón đọc 🍃 Thuyết Minh Về Cái Thùng Rác 🍃 10 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Bài Văn Thuyết Minh Về Đôi Đũa Ấn Tượng giúp các em có thể học hỏi và trau dồi thêm cho mình nhiều kiến thức hay.

Đũa, một cặp thanh có chiều dài bằng nhau, cỡ khoảng 15–25 cm, là dụng cụ ăn uống cổ truyền ở Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Đông Nam Á; còn được gọi là “các nước dùng đũa”).

Đũa thường làm bằng gỗ, tre, kim loại, xương, ngà voi, và ngày nay, cả bằng chất dẻo. Có thông tin cho biết đũa và đồ dùng ăn uống bằng bạc được dùng cho vua quan để phát hiện chất độc (oxide kim loại) trong thức ăn; nếu có chất độc, đũa sẽ có màu xỉn hay đen đi, do phản ứng thế.

Đũa cũng là một đòn bẩy, tuy nhiên không đem lại lợi thế về “lực” mà đem lại lợi thế về “đường đi”, đầu đũa có thể thu hẹp hoặc mở rộng được một khoảng cách khá lớn chỉ với một chuyển động nhỏ của các ngón tay.

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu của phương Tây, các nhà sử học Tây phương nói rằng đũa là loại hình thuộc văn minh Trung Hoa, văn minh đũa (civilisation des baguettes). Đôi đũa được phát hiện sớm nhất là một cặp kim loại trong triều đại nhà Thương (khoảng năm 1600-1046 TCN) được khai quật tại địa điểm khảo cổ Ân Khư.

Được phát minh vào khoảng thời gian cách đây từ 3000-5000 năm, đũa đã trở thành nền văn minh, bộ mặt của cả một nền văn hóa rộng lớn gồm nhiều nước châu Á. Đầu tiên được sử dụng bởi người Trung Quốc , đũa sau đó đã lan rộng sang các quốc gia văn hóa Đông Á khác bao gồm Nhật Bản , Hàn Quốc và Việt Nam.

Khi các dân tộc Trung Quốc di cư đến, việc sử dụng đũa làm dụng cụ ăn uống cho một số món ăn dân tộc nhất định đã trở nên phổ biến ở các nước Nam và Đông Nam Á như Campuchia, Ấn Độ, Lào, Nepal, Myanmar, Singapore và Thái Lan. Ở Ấn Độ (chủ yếu ở Himalayakhu vực), Lào, Myanmar, Thái Lan và Nepal, đũa thường chỉ được sử dụng để ăn mì.

Tương tự, đũa đã trở nên được chấp nhận nhiều hơn trong mối quan hệ với các món ăn châu Á ở Hawaii , Crookwell , Bờ Tây Bắc Mỹ và các thành phố có cộng đồng người châu Á ở nước ngoài trên toàn cầu. Riêng tại Thái Lan, đũa chỉ dùng cho súp và mỳ sợi, do vua Thái Rama V giới thiệu đồ dùng phương Tây từ thế kỷ 19.

Đón đọc 🌿 Thuyết Minh Về Cái Tủ Sách, Giá Sách, Tủ Quần Áo 🌿 10 Mẫu Hay

Đôi đũa cũng là một sản phẩm văn hóa ẩm thực Việt Nam được chọn làm “nhân vật” đưa lên tem bưu chính. Điều này khiến cho các hậu sinh thêm tự hào về trí thông minh, tài sáng tạo của tổ tiên, cũng như nhớ lại những thông điệp mà người xưa đã âm thầm gửi gắm về quan hệ ứng xử, nhân cách tự trọng, khiêm nhường, nhân nghĩa thủy chung, sự đoàn kết và giàu bản lĩnh của tâm hồn người Việt.

Trong khi người phương Tây lúc ăn phải dùng một bộ đồ ăn gồm dao, thìa nĩa, mỗi thứ thực hiện một chức năng riêng biệt, thì người phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam…) chỉ dùng một đôi đũa (gồm hai chiếc que làm thành) nhưng sử dụng một cách tổng hợp và cực kỳ linh hoạt với hàng loạt chức năng khác nhau: gắp, xé, và, dầm, trộn, vét…

Đứng ở góc độ vật lý, thì đôi đũa là một thứ công cụ chấp dài thêm ngón tay người và được vận dụng theo nguyên lý đòn bẩy một cách thần tình để gắp thức ăn xa. Về nguồn gốc đôi đũa, lâu nay không ít học giả phương Tây cho rằng văn minh đôi đũa (civilization des baguettes) là thuộc dạng Trung Hoa.

Tuy nhiên, theo sách Lịch sử văn hóa Trung Quốc do Đàm Gia Kiện chủ biên năm 1993 thì người Trung Quốc “Thời Tiên Tần không ăn dùng đũa, mà lấy tay bốc” (giống người Ấn Độ – đó là tập quán của các cư dân trồng kê, mạch, ăn bánh mì, bánh bao và thịt). Họ chỉ bắt đầu dùng đũa từ khi thôn tính phương Nam (đời Tần – Hán), ban đầu dùng một cách hạn chế để gắp thức ăn cứng từ các món canh, mãi về sau đôi đũa mới trở thành phổ biến.

Thế kỷ VI, đôi đũa mới du nhập vào Nhật Bản. Như vậy, thực ra, nó là sản phẩm của cái nôi trồng lúa nước Đông Nam Á – nơi có nền văn minh tre trúc là vật liệu. Ăn bằng đũa là cách ăn đặc thù, mô phỏng động tác của con chim nhặt hạt, xuất phát từ thói quen ăn những thứ không thể nào dùng tay bốc hoặc mó tay vào được (như cơm, cá, nước mắm,…) của cư dân Đông Nam Á.

Không chỉ trong văn học dân gian, mà tiếp mạch nguồn cảm xúc truyền thống đó, đôi đũa lại xuất hiện trong thơ ca hiện đại, với nhiều hình ảnh sinh động mới mẻ: “Bếp tập thể đậu kho và rau luộc, Em gắp cho tôi bằng đôi đũa cau rừng” (Phạm Tiến Duật). Đặc biệt, động tác so đũa đã cho ta thưởng thức nhiều tứ thơ hay cảm động: “…Bữa ăn sum vầy bên bếp lửa, Mẹ so đũa thừa lại nhớ đến ta” (Thu Bồn).

Bên cạnh tính cặp đôi mà hình tượng đôi đũa thể hiện thì nó còn phản ánh tính tập thể: bó đũa là biểu hiện của sự đoàn kết, của tính cộng đồng (trong câu chuyện dân gian về bó đũa chỉ sự đoàn kết là sức mạnh). Đôi đũa còn là minh chứng của sự thiêng liêng, khi thề độc, người xưa thường bẻ gãy đũa để thề.

Thậm chí khi chết đi, còn có đôi đũa cắm trên quả trứng, bát cơm đặt lên áo quan đưa tiễn người về nơi an nghỉ cuối cùng… Tất cả những điều này, khi đưa đôi đũa lên tem cũng tạo nên những sức mạnh, sự độc đáo của nó. Tem về đôi đũa không nhiều, người sưu tầm bắt gặp nó là nâng niu như báu vật.

Chia Sẻ Bài 💧 Thuyết Minh Về Bàn Chải Đánh Răng ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Bài vănThuyết Minh Về Đôi Đũa Chi Tiết giúp các em có thêm nhiều ý văn thú vị để hoàn thiện bài làm của mình.

Ở Việt Nam, đũa là một vật dụng được sử dụng hằng ngày trong những bữa ăn. Đũa cũng trở thành “linh hồn” trong bữa ăn để thể hiện nét văn hóa truyền thống và các quy tắc ăn uống đặc trưng của dải đất hình chữ S.

Việt Nam là một nước nông nghiệp với nền văn minh lúa nước. Trong mâm cơm của người Việt có hạt gạo mềm dẻo, có miếng cá, miếng thịt hay sợi rau dài, chính vì đôi đũa là sự lựa chọn phù hợp để gắp thức ăn thuận tiện. Dù sang giàu hay nghèo khổ, bất cứ ai sinh ra và lớn lên trên dải đất hình chữ S đều biết đến sự hiện diện của đôi đũa mộc mạc.

Đũa là một cặp thanh bằng nhau, có chiều dài khoảng 20-25cm, được các nước Đông Á sử dụng làm dụng cụ ăn uống.

Các nhà sử học Tây phương nói rằng đũa thuộc văn minh Trung Hoa, văn minh đũa hay còn gọi là civilisation des baguettes. Có giả thuyết cho rằng đũa được cho rằng ra đời cách đây 4.000 – 5.000 năm trước, trong triều đại nhà Thương (năm 1.600 – 1.046 TCN), đôi đũa đầu tiên bằng kim loại được tìm thấy tại điểm khảo cổ Ân Khư. Vị vua cuối cùng của triều đại nhà Thương là Trụ Vương đã sử dụng đũa ngà.

Gợi Ý 💦 Thuyết Minh Về Cái Phích Nước  ❤️️ 15 Bài Ngắn Gọn Hay

Bài Văn Thuyết Minh Về Cách Dùng Đôi Đũa Ngắn Hay với cách diễn đạt bài văn hấp dẫn, sử dụng hình ảnh miêu tả chân thực.

Trong gia đình Việt, việc dạy các thành viên sử dụng đũa là việc quan trọng, thể hiện một phần về trình độ giáo dục. Khi cầm đũa, chỉ sử dụng 3 đầu ngón tay: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Ngón áp út đặt dưới mặt đũa, ngón cái và ngón trỏ cố định đũa, để lại phần cuối đũa thừa khoảng 1 phân.

Trước khi cầm đũa phải so đũa, tức là xếp cho hai đầu đũa đều nhau. Người Việt cho rằng đôi đũa cũng như tình cảm lứa đôi, chỉ trọn vẹn khi có cặp có đôi; trong gia đình muốn êm ấm hòa thuận phải so đũa sao cho bằng.

Trong mâm cơm, người nhỏ tuổi nhất so đũa và đưa cho các thành viên bắt đầu từ người lớn nhất hoặc khách quý đến chơi. Người có vai vế lớn nhất sẽ cầm đũa trước và gắp thức ăn đầu tiên, sau đó con cháu bắt đầu dùng bữa. Nên dùng đũa mới để gắp đồ ăn mời người khác trước khi gắp cho mình; còn nếu dùng đũa của mình gắp cần đảo đầu đũa. Điều này không chỉ đảm bảo vệ sinh mà còn thể hiện tính lịch sự.

Bạn cần dùng đũa gắp thức ăn vào bát rồi mới đưa vào miệng, nếu trong bát còn thức ăn không nên gắp thêm vào. Khi gắp thức ăn, không nên dùng đũa để đảo đồ ăn tìm món mình thích; không khuấy vào bát nước chấm hay bát canh chung. Với người Việt, đũa không còn chỉ đơn giản là dụng cụ phục vụ ăn uống mà còn thể hiện văn hóa, sự khéo léo, tinh tế.

Gợi ý cho bạn 🌹Thuyết Minh Về Cái Kính, Mắt Kính ❤️️ 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Bài văn Thuyết Minh Về Đôi Đũa Lớp 8 ngắn sẽ mang đến cho các em học sinh những ý văn hay và phong phú hơn.

Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng đũa được ra đời dưới nền văn minh lúa nước (cách đây khoảng 10.000 năm). Khi xưa, tổ tiên người Trung Hoa đến từ phía Tây lưu vực sông Hoàng Hà và sống chủ yếu với nền văn minh nông nghiệp khô, tức là ăn bốc bằng tay mà không dùng đũa. Khi bắt đầu kéo quân về thôn tính vùng đất phương Nam – vùng Đông Nam Á – họ mới bắt đầu có nền văn minh lúa nước. Nền văn minh này sử dụng thức ăn chính là hạt gạo nhỏ, ngắn và thường dính với nhau, lúc này việc dùng đũa trở nên hiệu quả khi ăn.

Trong văn hóa Việt có một câu chuyện dân gian chứng minh cho sự ra đời rất sớm của đôi đũa, đó là sự tích Trầu Cau. Câu chuyện ra đời trước cả thời nhà Tần và trước thời 1.000 năm Bắc thuộc. Tương truyền, thời vua Hùng Vương, có 2 anh em tên là Tân và Lang rất yêu thương, đùm bọc nhau.

Họ theo học một đạo sĩ họ Lưu và người này có cô con gái cùng tuổi với 2 anh em. Trong một lần dọn cơm, cô chỉ dọn một đôi đũa để thử lòng hai anh em xem ai sẽ nhường trước. Người anh là Tân nhất mực nhường em nên cô gái đã đem lòng quý mến và sau đó 2 người yêu nhau, kết duyên vợ chồng.

Từ ngày có vợ, người em cảm thấy anh không quan tâm mình như trước, buồn bã và bỏ đi đến một con suối gục khóc và hóa đá. Người anh đi tìm em cũng chết bên bờ suối đó và hóa thành câu cau bên cạnh tảng đá. Người vợ đi tìm chồng rồi cũng buồn và hóa câu trầu leo vấn vít lên cây cau. Từ câu chuyện này có thể thấy đôi đũa đã xuất hiện lâu đời ở Việt Nam.

Có người cho rằng động tác dùng đũa gắp thức ăn ở Việt Nam phỏng theo con chim dùng mỏ để nhặt hạt. Những biểu tượng như chim hồng, chim hạc ở Việt Nam đều là loài có mỏ dài, sử dụng mỏ để mổ thức ăn.

Có nhiều câu chuyện khác sinh ra lý giải về nguồn gốc của đôi đũa. Trong đó, có giả thuyết cho rằng ở thời đại trước, khi dân số ngày càng gia tăng, lương thực trở nên khan hiếm, con người dùng cách chia thức ăn ra thành từng miếng nhỏ để nấu được nhiều bữa, tiết kiệm hơn. Và đôi đũa ra đời để có thể chia, gắp thức ăn thành nhiều mẩu bé.

Tham khảo văn mẫu 🌺 Thuyết Minh Về Nồi Cơm Điện ❤️️ 13 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Văn Mẫu Lớp 10: Thuyết Minh Về Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên (Dàn Ý + 9 Mẫu) Những Bài Văn Mẫu Lớp 10

Dàn ý thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Dàn ý số 1

I. Mở bài:

– Giới thiệu tác phẩm.

II. Thân bài:

a. Tác giả:

– Tác giả Nguyễn Dữ, có người gọi là Nguyễn Dư hoặc Nguyễn Tự, chưa rõ năm sinh năm mất, sống vào khoảng đầu thế kỷ XVI, quê ở tỉnh Hải Dương.

– Ông được xem là người đã đưa khái niệm “truyền kỳ” tiến vào văn học của nước ta.

– Để lại duy nhất tác phẩm Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyền kỳ khác nhau.

b. Khái niệm truyền kỳ:

– Các tác phẩm văn xuôi trung đại có các yếu tố hoang đường kì ảo. Ở đó có sự tương giao giữa thế giới con người với cõi âm, cõi tiên với sự xuất hiện của thánh thần, ma quỷ làm tăng sức hấp dẫn của tác phẩm, đồng thời góp phần phản ánh các nội dung cốt lõi trong quan niệm của tác giả.

c. Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục:

– Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục là một tập truyện gồm có 20 truyện khác nhau được viết bằng chữ Hán chứa nhiều yếu tố hoang đường kì ảo, ra đời vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVI.

d. Tóm tắt Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Tự tóm tắt).

e. Nội dung cốt lõi của tác phẩm:

* Sự kiên định chính nghĩa của nhân vật Ngô Tử Văn:

– Thể hiện trong thái độ và cách hành động của chàng khi đốt đền của yêu quái, trong việc chàng đối mặt với lời đe dọa của tên ác thần.

– Thái độ bình tĩnh của chàng khi bị bắt về cõi âm ti, với sự xuất hiện của các loài quỷ nanh ác, không gian rùng rợn ghê sợ.

– Sự chính trực, ngay thẳng, dũng cảm thể hiện trong việc chàng đấu tranh, minh oan cho bản thân trước mặt Diêm Vương.

– Kết quả: Giành được chiến thắng, mang lại sự yên ổn cho nhân dân, giải oan cho bản thân, lấy lại ngôi đền cho Thổ thần và được tiến cử chức phán sự đền Tản Viên, trở thành tiên.

* Ngụ ý phê phán:

– Hồn ma tên tướng giặc lúc sống làm quân xâm lược lúc chết đi lại làm yêu quái quấy nhiễu dân lành. Từ đầu tới cuối lên mang trong mình dã tâm xâm lược, đáng phải nhận sự trừng trị, tiêu diệt.

– Phản ánh sự bất công đầy rẫy trong xã hội phong kiến thối nát, thông qua chuyện tên tướng giặc hối lộ thánh thần, còn lực lượng thực thi công lý như Diêm Vương lại bị che mắt.

f. Nghệ thuật:

– Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, mở đầu bằng tình tiết khác lạ, xây dựng cao trào truyện đầy kịch tính lô-gíc, với các nút thắt, và cách giải quyết hợp lý, làm thỏa mãn người đọc.

III. Kết bài:

Nêu tổng kết.

Dàn ý số 2

1. Mở bài

– “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là một tác phẩm thành công trong việc xây dựng nên hình tượng người trí thức đất Việt khẳng khái, cương trực chống lại cái ác và gian tà.

– Cùng với những tác phẩm khác, truyện đã góp phần làm nên sức sống của Truyền kì mạn lục -một áng “thiên cổ kì bút”.

2. Thân bài

– Giới thiệu chung về tác phẩm:

Tác giả: Nguyễn Dữ.

Thể loại: Truyền kì có nguồn gốc từ Trung Quốc, được truyền vào Việt Nam cuối thế kỉ XV, đầu thế kỉ XVI. Truyện truyền kì Việt Nam mang đậm chất dân gian, yếu tố hiện thực và tính nhân văn sâu sắc.

Xuất xứ: được rút từ tập Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (xem lại ở đề 2).

– Giới thiệu về giá trị của tác phẩm

+ Giá trị nội dung:

Ngợi ca Ngô Tử Văn – hình ảnh một người trí thức nước Việt yêu nước, dũng cảm, khẳng khái chống lại gian tà, bảo vệ cho Thổ công đất Việt.

Gửi gắm ước mơ công lí, thể hiện niềm tin ở sự chiến thắng của cái thiện với cái ác, chính với tà.

Đặt vào bối cảnh lịch sử của thời đại, truyện còn mang một giá trị hiện thực sâu sắc.

+ Giá trị nghệ thuật :

Sự kết hợp thành công yếu tố ảo và thực.

Là sự tổng hòa các phương diện nghệ thuật từ cốt truyện đến bố cục, tình tiết.

– Đánh giá về đóng góp và giá trị của tác phẩm trong đời sống văn học và với mỗi người:

Đánh dấu bước phát triển quan trọng của văn xuôi tự sự bằng chữ Hán, của thể loại truyền kì.

Dạy ta về lòng dũng cảm, đem đến cho ta niềm tin vào cuộc sống, vào sự chiến thắng của chính nghĩa.

3. Kết bài

“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là bài ca chiến đấu và chiến thắng hào hùng của kẻ sĩ cương trực giữa đời.

Truyện còn cho ta bài học nhân sinh: Phải biết dũng cảm đấu tranh với cái ác, cái xấu cho cuộc sống của chúng ta ngày một tốt đẹp hơn.

Dàn ý số 3

1, Mở bài

Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Dữ (những nét cơ bản về con người, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác,…)

Giới thiệu vấn đề thuyết minh: Tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”.

2, Thân bài

a, Giới thiệu về thể loại truyền kì và tác phẩm “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ

– Truyền kì là một thể văn xuôi của thời trung đại, có nguồn gốc từ Trung Quốc và mang những đặc trưng riêng về nội dung và nghệ thuật.

– Tác phẩm “Truyền kì mạn lục”:

Gồm 20 truyện, ghi chép lại những truyện được lưu truyền trong dân gian dưới thời Lí, Trần, Hồ và Lê sơ.

Giá trị nội dung:

* Phản ánh bức tranh hiện thực xã hội phong kiến đương thời, đề cập đến số phận những người phụ nữ đức hạnh rơi vào tình cảnh éo le

* Đề cao tinh thần dân tộc, khát vọng của người tri thức dũng cảm, tâm huyết , trung trực đấu tranh để bảo vệ chính nghĩa.

+ Giá trị nghệ thuật: Sử dụng chi tiết vừa thực vừa ảo, vừa hoang đường, thế giới con người và thế giới cõi âm với những thần thánh và ma quỷ có sự tương giao.

b, Tóm tắt nội dung tác phẩm

– “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là câu chuyện kể về nhân vật Ngô Tử Văn – một con người với tính tình khảng khái, cương trực, là hình ảnh tiêu biểu cho người trí thức Việt Nam trong xã hội xưa.

+ Ngô Tử Văn và hành động đốt đền tà: tức giận trước việc “hưng yêu tác quái” của tên hung thần Bách hộ họ Thôi mà Ngô Tử Văn đã quyết định đốt đền với một thái độ dứt khoát, bất chấp hậu quả xấu cho bản thân.

Sau khi đốt đền, Ngô Tử Văn đã có cuộc gặp gỡ với hồn ma tên tướng giặc và Thổ công.

Chàng đã bị dẫn xuống âm ti để gặp Diêm Vương: ới sự khảng khái, cương trực của mình, không một chút lo lắng, sợ hãi, bằng những lời lẽ “rất cứng cỏi, ko chịu nhún nhường chút nào”, chàng đã vạch rõ tội trạng của tên tướng giặc và từng bước giành phần chiến thắng về mình.

Cuối cùng, Ngô Tử Văn được nhận chức phán sự ở đền Tản Viên.

– Giá trị nội dung của tác phẩm:

Đề cao tinh thần chính nghĩa, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn nói riêng và những người trí thức Việt nói chung.

Phê phán những ngang trái, bất công của xã hội đương thời và sự tham nhũng, lộng quyền của giai cấp phong kiến.

Thể hiện niềm tin, mơ ước của nhân dân về một xã hội công bằng.

c, Khái quát những đặc sắc về giá trị nghệ thuật

Cốt truyện giàu kịch tính cùng cách kể chuyện tự nhiên, lôi cuốn, có cao trào, thắt nút, mở nút.

Sử dụng nhiều yếu tố tưởng tượng, hoang đường, kì ảo

3, Kết bài

Khái quát những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của tác phẩm và nêu cảm nghĩ của bản thân.

Thuyết minh về Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Mẫu 1

Truyền kì mạn lục là một tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam, trong cuốn truyền kì này gồm nhiều tác phẩm hay, đặc sắc, đặc điểm chung của các tác phẩm này chính là đều thể hiện được quan điểm, tư tưởng của nhà văn Nguyễn Dữ về các vấn đề xã hội cũng như vấn đề nhân sinh. Một trong những tác phẩm hay nhất, độc đáo nhất của tập truyền kì này, đó chính là tác phẩm “Chức phán sự đền Tản Viên”, tác phẩm xoay quanh nhân vật Ngô Tử Văn, một con người có bản tính nóng nảy song rất cương trực, khẳng khái, dám đốt đền để diệt trừ những cái tà ác. Nhân vật Ngô Tử Văn được nhà văn Nguyễn Dữ xây dựng với nhiều nét đẹp về phẩm chất, thông qua nhân vật này, nhà văn như muốn thể hiện khát vọng về lẽ công bằng trong xã hội phong kiến xưa.

Ngô Tử Văn tên là Soạn, người huyện Yên Dũng, đất Lạng Giang. Chàng vốn là người có bản tính khẳng khái, cương trực, không chấp nhận được cái gian tà, càng không chịu luồn cúi trước cái ác: “Chàng vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được”. Xây dựng nhân vật Ngô Tử Văn với những đặc điểm này, chính là cách mà Nguyễn Dữ cho nhân vật của mình thực hiện một hành động vô cùng táo bạo mà không phải ai cũng làm được, không phải ai cũng dám làm, đó là đốt đền. Trong làng vốn có một ngôi đền nổi tiếng linh thiêng, đây cũng là nơi người dân thường xuyên lui tới hương khói để cầu những điều an lành, may mắn cho mình, cho gia đình.

Nhưng từ khi có tên tướng bại trận viên Bách họ Thôi tử trận gần đó, hắn ta đến ngôi đền tác yêu tác quái gây bao nhiêu phiền toái, tai họa cho dân làng: “Bộ tướng của Mộc Thạnh có viên Bách họ Thôi, tử trận gần đền, từ đấy làm yêu làm quái trong dân gian, có người dốc hết của cải, gia sản khánh kiệt cũng không đủ để cầu cúng”. Vốn là người nóng nảy, lại không thể chấp nhận được cái gian ác hoành hành trong nhân gian, Ngô Tử Văn đã có một quyết định liều lĩnh, táo bạo – Đốt đền. Ngô Tử Văn vốn là một kẻ sĩ, một người theo Nho học nên không mấy quan tâm đến những điều huyền diệu của thần linh, của Phật pháp. Những hành động đốt đền của Ngô Tử Văn hoàn toàn không phải là sự coi thường thần linh mà xuất phát từ tấm lòng nhân nghĩa, vì nhân dân mà ra tay trừng trị, diệt trừ cái ác, ngăn chặn nó hoành hành gây đau khổ, phiền toái cho người dân. Theo dõi tác phẩm, ta có thể thấy rất rõ, trước khi châm lửa đốt đền, Ngô Tử Văn đã tắm rửa chay sạch, “khấn trời rồi châm lửa đốt đền”, hành động “khấn trời” của chàng thể hiện sự thành kính với bậc thánh thần và mong trời cao có thể chứng nhận cho tấm lòng trong sạch, cho hành động nhân nghĩa của mình.

Như vậy, ta có thể thấy, Ngô Tử Văn đốt đền hoàn toàn không phải do bản tính nóng nảy, càng không phải hành động ngông cuồng nông nổi, nhất thời. Chàng hoàn toàn ý thức hành động mà mình muốn làm, sẽ làm. Chính vì vậy nên chàng mới cầu khấn, mong nhận được sự chứng giám của trời xanh. Ta cũng thấy, Ngô Tử Văn là người rất cứng cỏi, có trách nhiệm với những quyết định của mình, bởi sau khi đốt đền thì ai nấy cũng lo lắng cho chàng nhưng bản thân chàng lại không hề quan tâm đến những hậu quả mình sẽ phải đón nhận sau hành động đốt đền này: “Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, họ lo sợ thay cho Tử Văn, nhưng Tử Văn vung tay, không cần gì cả”. Tuy là kẻ sĩ nhưng tính cách ngang tàng, quật cường của Tử Văn không thua gì những bậc quân tử xưa.

Sau khi đốt đền về, Ngô Tử Văn bị lên cơn sốt: “Chàng thấy trong mình khó chịu, đầu lảo đảo và bụng run run”. Trong cơn sốt chàng đã gặp tên tướng giặc bại trận họ Thôi. Qua cách ứng xử của Ngô Tử Văn đối với tên tướng giặc, ta còn thấy chàng là một người vô cùng can đảm, tính cách cường ngạnh, đặc biệt là đối với cái ác. Nghe tên tướng bại trận chỉ trích hành động đốt đền, yêu cầu Tử Văn dựng trả đền cũ, nếu không làm theo thì khó tránh khỏi những tai họa. Nhưng Ngô Tử Văn lại tỏ ra vô cùng hờ hững, thậm chí là coi thường đối với viên tướng giặc, chàng không những không làm theo mà còn phớt lờ hắn ta: “Tử Văn mặc kệ, vẫn cứ ngồi ngất ngưởng tự nhiên”.

Qua đây ta thấy Ngô Tử Văn không chỉ khảng khái, can đảm mà còn có một bản lĩnh hơn người. Trong hoàn cảnh đầy hiểm nguy, có thể đe dọa đến tính mạng bất cứ lúc nào như vậy, không phải ai cũng bình tĩnh và làm được như chàng. Ngô Tử Văn không những không run sợ trước quyền thế của tên tướng giặc bại trận mà chàng còn rất hiên ngang, trực tiếp bộ lộ thái độ chán ghét, coi thường đối với hắn ta, thậm chí bày tỏ thái độ khiêu khích, sẵn sàng đấu tranh đến cùng với hắn ta. Ta cũng có thể thấy, Ngô Tử Văn không hề hối hận về việc mình đã làm, bởi chàng không thẹn với lương tâm, mục đích của chàng là hoàn toàn chính đáng. Điều này cũng thể hiện niềm tin của nhà văn Nguyễn Dữ về những điều chính nghĩa ở đời. Khi bị ốm run người, chân tay lạnh toát, dù biết đó là sự trừng phạt của tên giặc đối với mình, và mạng sống của mình có thể mất bất cứ lúc nào nhưng Ngô Tử Văn quyết không chịu thỏa hiệp, không chịu đầu hàng trước tên tướng bại trận.Việc xây lại ngôi đền để tên tướng giặc tác oai tác quái càng là điều không thể, dù có phải hi sinh cả mạng sống, ta cũng có thể thấy Ngô Tử Văn cũng không màng. Như vậy ta có thể thấy cái chí khí hơn người, bản lĩnh vững vàng mà khó ai sánh được của chàng.

Khi bị bắt xuống địa ngục, trước mặt Diêm Vương, bản tính khẳng khái, ngay thẳng của Tử Văn thể hiện ngay trong lời nói với Diêm Vương: “Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian, có tội lỗi gì xin bảo rõ chỗ, không nên bắt chết một cách oan uổng”. Chàng không hề tỏ ra nao núng, sợ hãi, dù ở một nơi đáng sợ như địa ngục, chàng vẫn tin vào hành động của mình, tin rằng hành động ngay thẳng ấy sẽ được Diêm Vương thấu hiểu, minh xét. Trước những lời cáo buộc, vu oan của tên tướng giặc họ Thôi, Ngô Tử Văn không hề buông xuôi, không chấp nhận mà phản kháng đến cùng, đấu tranh đến cùng với hắn.

Trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” nhưng Ngô Tử Văn vẫn vô cùng tỉnh táo để suy xét, để biện hộ cho mình, chàng nhớ tới lời dặn của vị thổ công: “Nếu nhà vua không tin lời tôi, xin đem giấy đến đền Tản Viên để hỏi hư thực, không có sự thực như thế, tôi lại chịu thêm cái tội nói càn”. Dù bị dồn vào thế bất lợi, nhưng vì lòng tin vào những điều chính nghĩa, tin vào sự minh xét, sáng suốt của Diêm Vương, Ngô Tử Văn đã cố gắng trình bày, đưa ra tất cả những lí lẽ có thể có để minh oan cho hành động chính nghĩa của mình. Đặc biệt, mục đích của chàng ở đây không chỉ là minh oan cho mình mà còn đòi lại lẽ công bằng cho viên thổ địa, cho nhân dân vô tội phải sống lầm than, kiên quyết bắt cái ác phải đền tội, phải quy hàng.

Sau khi đã được minh oan, tên tướng bại trận họ thôi phải chịu những trừng phạt thích đáng, Ngô Tử Văn đã được viên thổ địa đề cử làm chức phán sự ở đền Tản Viên. Đây là một phần thưởng thích đáng cho một con người ngay thẳng, khẳng khái như Ngô Tử Văn. Khi đã làm chức phán sự, chàng không hề tỏ ra kiêu căng, chàng vẫn hòa đồng, thân thiện và tỏ ra kính trọng đối với mọi người như trước đây: “…Tử Văn chỉ ngồi trên xe chắp tay thi lễ chứ không nói một lời nào, rồi thoắt đã cưỡi gió mà đi biến mất”.

“Chuyện chức phán sự ở đền Tản Viên” là một câu chuyện về tấm lòng ngay thẳng, về cuộc đấu tranh không khoan nhượng đối với cái ác, cái xấu xa. Ngô Tử Văn được nhà văn Nguyễn Dữ xây dựng như một người anh hùng với bao phẩm chất đáng quý, đồng thời, đây cũng là nhân vật tư tưởng nhà nhà văn xây dựng để thể hiện khát vọng về lẽ công bằng của mình.

Thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Mẫu 2

Trong kho tàng văn học Việt Nam, có rất nhiều tên tuổi nổi tiếng. Một trong những tác giả đã trở thành niềm tự hào của cả thời kỳ văn học là Nguyễn Dữ. Tên tuổi của ông gắn liền với danh tiếng của “thiên cổ kỳ bút” “Truyền kỳ mạn lục”. Trong đó “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là tác phẩm đặc sắc, ca ngợi tính cách dũng cảm, kiên cường, chính trực, dám chống lại cái ác đến cùng, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn – một trí thức nước Việt.

“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là tác phẩm thuộc thể văn xuôi truyền kỳ, viết bằng chữ Hán. Văn xuôi truyền kỳ là thể loại văn học dùng những yếu tố kì ảo hoang đường để phản ánh hiện thực cuộc sống. Nhân vật trong bộ truyền kỳ rất đa dạng, gồm cả người, ma quỷ, thần thánh,… có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể xâm nhập thế giới của nhau.

Bộ truyện “Truyền kì mạn lục” ra đời vào khoảng thế kỉ XVI, thời điểm xã hội phong kiến Việt Nam đang trong tình trạng suy thoái, khủng hoảng, nhân dân bất bình với tầng lớp thống trị, nhiều nho sĩ rơi vào tâm trạng hụt hẫng, nuối tiếc cho thời thịnh trị dưới sự cai trị của vua Lê Thánh Tông. Trong khoảng thời gian cái quan về ở ẩn, Nguyễn Dữ đã sáng tác bộ truyện này vừa để phản ánh tình trạng xã hội, vừa để bộc lộ quan điểm sống và tấm lòng của mình với cuộc đời.

Nội dung truyện kể về nhân vật chính Ngô Tử Văn. Ngô Tử Văn vốn là một kẻ sĩ khảng khái, chính trực. Trong làng nơi chàng ở có một ngôi đền vốn rất thiêng. Nhưng từ khi có một tên tướng giặc nhà Minh tử trận ở gần đền, hồn của hắn bắt đầu làm yêu làm quái trong dân gian, làm hại nhân dân. Tức giận, mặc cho lời ngăn cản của dân làng,Tử Văn châm lửa đốt đền để trừ hại cho dân.

Sau khi đốt đền, Tử Văn bắt đầu lên cơn sốt. Trong khi sốt mê man, chàng thấy tên hung thần đến đòi làm trả lại ngôi đền và đe dọa sẽ bắt Tử Văn xuống âm phủ để cho Diêm Vương trị tội.

Nhưng đến chiều tối, Thổ thần đến bày tỏ thái độ cảm phục trước hành động dũng cảm của Tử Văn. Chàng được Thổ thần mách bảo về tung tích và tội ác của tên hung thần, đồng thời chỉ dẫn cách đối phó.

Đến đêm, khi bệnh nặng thêm, Tử Văn thấy hai tên quỷ sứ đến bắt chàng xuống âm phủ. Trước mặt Diêm Vương, Tử Văn đã tố cáo tội ác của tên hung thần với đầy đủ chứng cứ. Cuối cùng, công lý được khôi phục, Diêm Vương trừng trị tên hung thần (đem nhốt vào ngục Cửu U), cho Thổ thần được phục chức, sai lính đưa Tử Văn về trần gian (nghĩa là Tử Văn được sống lại). Một tháng sau, Tử Văn thấy Thổ thần đến cảm ơn. Để đền ơn nghĩa, Thổ thần đã tiến cử Tử Văn giữ chức phán sự đền Tản Viên.

Qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng khi chống lại cái ác trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Nguyễn Dữ đã vạch bộ mặt gian tà của những kẻ quen “chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược”. Ông lên án bộ phận quan lại đương thời, tố cao mạnh mẽ hiện thực “rễ ác mọ lan, khó lòng lay động” mà bênh vực cho kẻ gian tà và hiện thực của xã hội phong kiến lúc bấy giờ có quá nhiều kẻ hữu danh vô thực, lợi dụng địa vị, quyền thế làm điều bất chính. Truyện kết thúc có hậu, thể hiện truyền thống nhân đạo của nhân dân ta, tà không thể thắng chính, cái thiện chắc chắn sẽ chiến thắng cái ác.

Về nghệ thuật, Nguyễn Dữ đã kết hợp khéo léo yếu tố ảo và thực trong truyện để truyền tải nội dung. Thế giới âm cung với những hồn ma, bóng quỷ, người chết đi sống lại từ dương gian xuống địa phủ, từ cõi âm lại về cõi dương làm nên yếu tố kỳ ảo cho câu chuyện. Nhưng đồng thời, tác giả dẫn họ tên, quê quán và thời gian, địa điểm diễn ra sự việc một cách cụ thể, đưa yếu tố thực đan xen yếu tố kỳ ảo. Kỳ ảo và hiện thực cùng kết hợp với nhau khiến câu chuyện vừa ly kỳ, hấp dẫn, vừa mang ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Bên cạnh đó, với cốt truyện giàu kịch tính, cách xây dựng nhân vật sắc nét, ngôn ngữ kể chuyện trau chuốt, súc tích, truyện đã ca ngợi nhân vật Ngô Tử Văn, một trí thức nước Việt khảng khái, nhân cách cứng cỏi, cao đẹp, qua đó bộc lộ niềm tin vào công lý, vào việc chính thắng tà.

Với những giá trị đó, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên đá trở thành một tác phẩm nổi bật trong thời kỳ văn học trung đại Việt Nam, góp phần làm nên tên tuổi Nguyễn Dữ. Để rồi rất nhiều năm sau, tác phẩm ấy vẫn còn nguyên giá trị.

Thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Mẫu 3

Cùng với các thể loại truyện cổ tích, truyền thuyết, thì truyền kỳ cũng là một trong những thể loại phổ biến và được yêu thích trong văn học dân gian Việt Nam . Nội dung các thể loại này chủ yếu xoay quanh cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, ca ngợi vẻ đẹp nhân phẩm, trí tuệ của con người đồng thời khẳng định, cũng như phản ánh niềm tin của nhân dân ta về chân lý vững bền cái thiện luôn chiến thắng cái ác. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của tác giả Nguyễn Dữ cũng là một trong số những truyền kỳ phổ biến mang nội dung như vậy.

Tác giả Nguyễn Dữ, có người gọi là Nguyễn Dư hoặc Nguyễn Tự, chưa rõ năm sinh năm mất, sống vào khoảng đầu thế kỷ XVI, quê ở tỉnh Hải Dương. Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, từng đi thi và ra làm quan một thời gian ngắn rồi lui về ở ẩn, lấy cớ là phụng dưỡng mẹ già. Ông được xem là người đã đưa khái niệm “truyền kỳ” tiến vào văn học của nước ta, mở ra một hướng đi cho thể loại này trong nền văn học trung đại Việt Nam. Về sự nghiệp sáng tác, thì đến nay người ta chỉ biết ông để lại duy nhất tác phẩm Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyền kỳ khác nhau.

Khái niệm truyền kỳ là để chỉ các tác phẩm văn xuôi trung đại có các yếu tố hoang đường kì ảo. Ở đó có sự tương giao giữa thế giới con người với cõi âm, cõi tiên với sự xuất hiện của thánh thần, ma quỷ làm tăng sức hấp dẫn của tác phẩm, đồng thời góp phần phản ánh các nội dung cốt lõi trong quan niệm của tác giả.

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một trong số 20 truyện của tập Truyền kỳ mạn lục. Chuyện kể về việc tên tướng giặc bại trận họ Thôi trên đất Việt ta sau khi chết đi trở thành yêu quái, chiếm đền của Thổ thần, tác oai tác quái khiến nhân dân khổ cực, lầm than. Ngô Tử Văn, nhân vật chính của câu chuyện đã ra tay đốt ngôi đền kia, dẫn đến kết quả là chàng bị hồn ma tên tướng giặc hại chết, và bị dẫn xuống âm phủ hỏi tội. Diêm Vương nghe những lời tố cáo dối trá của tên tướng giặc định xử tội Ngô Tử Văn, nhưng may mắn nhờ có sự giúp đỡ của Thổ thần, và dựa vào bản lĩnh kiên định, bình tĩnh mạnh mẽ đấu tranh, cuối cùng chàng đã chiến thắng, vạch trần tội ác của tên tướng giặc họ Thôi. Ngô Tử Văn sống lại, trở về dương gian ít lâu thì nghe theo lời của Thổ thần, rời bỏ cõi dương đến nhậm chức phán sự đền Tản Viên, hưởng cuộc sống tiên nhân.

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên có hai nội dung chính yếu. Thứ nhất là sự kiên định chính nghĩa của nhân vật Ngô Tử Văn, thể hiện trong thái độ và cách hành động của chàng khi đốt đền của yêu quái, trong việc chàng đối mặt với lời đe dọa của tên ác thần. Thái độ bình tĩnh của chàng khi bị bắt về cõi âm ti, với sự xuất hiện của các loài quỷ nanh ác, không gian rùng rợn ghê sợ. Sự chính trực, ngay thẳng, dũng cảm của chàng còn thể hiện trong việc chàng đấu tranh, minh oan cho bản thân trước mặt Diêm Vương. Cuối cùng nhờ sự cương trực, dũng cảm, hết mình đấu tranh cho chính nghĩa chàng đã giành được chiến thắng. Mang lại sự yên ổn cho nhân dân, giải oan cho bản thân, lấy lại ngôi đền cho Thổ thần và được tiến cử chức phán sự đền Tản Viên, trở thành tiên. Kết quả đó đã khẳng định niềm tin chính nhất định sẽ thắng tà. Mặt khác nhân vật Ngô Tử Văn còn đại diện cho anh tài đất Việt giành chiến thắng trước kẻ thù xâm lược (tên tướng giặc họ Thôi vốn là tướng sĩ của quân Minh bại trận). Từ đó nêu cao tinh thần dân tộc, sự anh dũng, mạnh mẽ của nhân dân ta trong quá trình chống giặc ngoại xâm, chống lại cái ác cái xấu.

Nội dung thứ hai mà tác phẩm muốn thể hiện đó là ngụ ý phê phán sâu sắc cái ác, hồn ma tên tướng giặc lúc sống làm quân xâm lược lúc chết đi lại làm yêu quái quấy nhiễu dân lành. Từ đầu tới cuối lên mang trong mình dã tâm xâm lược, đáng phải nhận sự trừng trị, tiêu diệt. Tiếp nữa, truyện còn phản ánh sự bất công đầy rẫy trong xã hội phong kiến thối nát, thông qua chuyện tên tướng giặc hối lộ thánh thần, còn lực lượng thực thi công lý như Diêm Vương lại bị che mắt.

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một trong những truyền hay và có ý nghĩa sâu sắc, phản ánh những mặt trái của xã hội đương thời, ca ngợi vẻ đẹp phẩm chất trí tuệ của con người, đồng thời thể hiện ước mơ về một xã hội công bằng, công lý được thực thi của nhân dân ta. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên cũng như Truyền kỳ mạn lục xứng đáng có được vị trí là một mẫu mực của thể loại truyền kỳ, cũng như danh xưng “áng thiên cổ kỳ bút” mà người đời ca tụng.

Thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Mẫu 4

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là một tác phẩm thành công trong công việc xây dựng nên hình tượng người trí thức đất Việt khẳng khái, cương trực chống lại cái ác và gian tà. Cùng với những tác phẩm khác, truyện đã góp phần làm nên sức sống của Truyền kì mạn lục – một áng “thiên cổ kì bút”.

Tác giả Nguyễn Dữ là người Gia Phúc, Hồng Châu, nay thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, là học trò giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm, sống vào khoảng cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI. Cha ông là tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu. Nguyễn Dữ thi đỗ Hương tiến (tương đương với Hương công, cử nhân), làm quan ở Thanh Tuyền. Chưa đầy một năm, ông từ quan với lý do về phụng dưỡng mẹ già, từ đấy không hề bước chân tới thành thị. Tương truyền Truyền kì mạn lục được viết trong thời gian ông ở chốn lâm tuyền này.

Truyện được viết theo thể loại truyền kì. Đây là loại truyện có nguồn gốc từ Trung Quốc, được truyền vào Việt Nam, cuối thế kỉ XV, đầu thế kỉ XVI. Truyện truyền kì Việt Nam mang đậm chất dân gian, yếu tố’ hiện thực và tính nhân văn sâu sắc.

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên được rút từ tập Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Truyền kì mạn lục viết bằng chữ Hán, gồm 20 truyện, ra đời ở nửa đầu thế kỉ XVI. Tên tác phẩm có nghĩa là: Tập sách ghi chép tản mạn những truyện kỳ lạ được lưu truyền nhưng tác phẩm thực sự là một sáng tác văn học với sự gia công, hư cấu, sáng tạo, trau chuốt của Nguyễn Dữ. Các truyện hầu hết đều lấy bối cảnh hiện thực ở thời Lý, Trần, Hồ, Lê. Bóc đi cái vỏ hoang đường là hiện thực xã hội phong kiến mà tác giả muốn vạch trần phê phán. Qua tập truyện, người đọc thấy được số phận bất hạnh của người phụ nữ, đồng thời đề cao tinh thần dân tộc, phẩm chất của người trí thức. Truyền kì mạn lục là một tác phẩm đứng đầu trong thể loại truyền kì ở Việt Nam.

Nhân vật chính của truyện là Ngô Tử Văn – một người khẳng khái, chính trực, thấy sự gian tà thì không chịu được. Căm giận tên quái vốn là tướng giặc họ Thôi đã chiếm đền của Thổ Công để nhiễu hại dân lành, Tử Văn châm lửa đốt ngôi đền đó. Tử Văn về nhà và lên cơn ốm sốt. Trong cơn mê, chàng đã mơ thấy bách hộ họ Thôi đến đòi xây trả ngôi đền, nếu không hắn sẽ kiện tới Diêm Vương. Sau đó, Thổ Công cũng hiện tới nói rõ sự thật và bày cho chàng cách đối phó với yêu quái. Tử Văn bệnh nặng rồi mất. Quỷ sứ đã đưa linh hồn chàng xuống gặp Diêm Vương. Đứng ở công đường chốn minh ti, Tử Văn khảng khái đến cùng để vạch trần bộ mặt giả dối của. tên tướng giặc bại trận. Tên yêu quái hoảng sợ giảng hòa nhưng Diêm Vương đã sai người điều tra và trừng phạt hắn, bia mộ hắn bị nổ tung. Tử Văn trở về nhà chưa được một tháng thì Thổ Công đến đề nghị chàng nhận chức phán sự ở đền Tản Viên. Tử Văn sau đó không bệnh mà chết. Có một người quen cũ tình cờ đã nhìn thấy chàng “chắp tay thi lễ” trong xe ngựa của quan Phán sự rồi thoắt cái lại biến mất trong sương.

Tác phẩm còn gửi gắm ước mơ công lí, thể hiện niềm tin ở sự chiến thắng của cái thiện với cái ác, cái chính với cái tà. Cuộc đấu tranh quyết liệt không khoan nhượng giữa Tử Văn và hồn ma tên tướng bại trận có một kết thúc có hậu giống như trong chuyện cổ tích: người thiện (Tử Văn) cuối cùng chiến thắng, được giữ chức phán sự ở đền Tản Viên. Còn kẻ gian tà (hồn ma tên tướng giặc) bị nhốt vào ngục Cửu u, hài cốt tan thành như cám. Nhận chức phán sự, Tử Văn trở thành người bảo vệ công lý, đó chính là mơ ước cao nhất của nhân dân muốn có một người quang minh chính đại, đại biểu của nhân dân và bảo vệ công lý cho nhân dân.

Đặt vào bối cảnh lịch sử của thời đại Nguyễn Dữ (khoảng cuối thế kỉ XV – đầu thế kỉ XVI), khi chế độ phong kiến bắt đầu suy tàn, nội chiến Lê – Mạc xảy ra, truyện còn mang một giá trị hiện thực sâu sắc. Thế lực ma quỷ, thần linh trong truyện phần nào phản ánh thế lực cường quyền phong kiến bè phái với nhau hãm hại dân lành. Đồng thời, truyện còn lên án lũ giặc ngoại xâm đã chết vẫn còn quấy nhiễu nhân dân.

Với những nội dung trên, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên mang một giá trị nhân văn cao đẹp. Bên cạnh đó, truyện còn phản ánh được tư tưởng tích cực, tiến bộ của Nguyễn Dữ về cuộc sống qua hình tượng kẻ sĩ tích cực – Ngô Tử Văn. Tuy lui về ở ẩn chốn lâm tuyền, nhưng tâm hồn Nguyễn Dữ vẫn gắn bó với cuộc đời.

Giá trị nghệ thuật đặc sắc của truyện là ở sự kết hợp thành công yếu tố ảo và thực. Câu chuyện diễn ra đầy tính chất li kì bởi sự xuất hiện của thế giới âm cung với những hồn ma, bóng quỷ với những việc khác thường: người chết đi sống lại từ dương gian xuống địa phủ, từ cõi âm lại về cõi dương. Nhưng chuyện lại có vẻ như rất thật bởi cách dẫn người, dẫn việc cụ thể đến cả họ tên, quê quán và thời gian, địa điểm diễn ra sự việc (lai lịch tên tướng giặc cho thấy bối cảnh câu chuyện diễn ra vào thời giặc Minh xâm chiếm nước ta vào năm 1407 – 1427; Tử Văn đi nhận chức phán sự vào năm Giáp Ngọ 1417). Yếu tố kì ảo giúp câu chuyện thêm phần li kì, hấp dẫn. Yếu tố thực làm tăng tính xác thực, làm câu chuyện có ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Với những giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật đặc sắc, “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” đã đem đến thành công cho Truyền kì mạn lục và đánh dấu bước phát triển quan trọng của văn xuôi tự sự bằng chữ Hán, của thể loại truyền kì. Truyện hấp dẫn với mỗi chúng ta bởi nó dạy ta thế nào là lòng dũng cảm và vì sao phải dũng cảm đấu tranh chống lại cái xấu và cái ác. Truyện đem đến cho ta niềm tin vào cuộc sống, vào sự chiến thắng của chính nghĩa.

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên là bài ca chiến đấu và chiến thắng hào hùng của kẻ sĩ cương trực giữa đời. Hơn thế nữa, truyện còn đem đến cho ta bài học nhân sinh: phải biết dũng cảm đấu tranh với cái ác, cái xấu cho cuộc sống của chúng ta ngày một tốt đẹp hơn.

Thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Mẫu 5

Nguyễn Dữ là một trong số những tác giả tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam và “Truyền kì mạn lục” là một trong số những tác phẩm xuất sắc của ông. “Truyền kì mạn lục” bao gồm 20 truyện nhỏ và trong số đó, “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là tác phẩm tiêu biểu nhất viết về người trí thức Việt Nam trong xã hội xưa.

Như chúng ta đã biết, “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là một trong số 20 truyện của tác phẩm “Truyền kì mạn lục” – một tác phẩm xuất sắc của nền văn học, ra đời vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVI, bởi vậy tác phẩm thuộc thể loại truyền kì. Truyền kì là một thể văn xuôi của thời trung đại, có nguồn gốc từ Trung Quốc và mang những đặc trưng riêng về nội dung và nghệ thuật. Là một tác phẩm thuộc thể loại truyền kì, “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn Dữ đã thể hiện khá rõ nét, đầy đủ những đặc trưng của thể loại này. “Truyền kì mạn lục” đã ghi chép lại những truyện được lưu truyền trong dân gian dưới thời Lý, Trần, Hồ và Lê sơ. Thông qua những câu chuyện ấy, tác giả đã phản ánh bức tranh hiện thực xã hội phong kiến đương thời, đề cập đến số phận những người phụ nữ đức hạnh rơi vào tình cảnh éo le đồng thời đề cao tinh thần dân tộc, khát vọng của người tri thức dũng cảm, tâm huyết , trung trực đấu tranh để bảo vệ chính nghĩa. Thêm vào đó, tác phẩm hấp dẫn người đọc bởi tác giả đã khéo léo đưa vào trong tác phẩm của mình nhưng chi tiết vừa thực vừa ảo, vừa hoang đường, thế giới con người và thế giới cõi âm với những thần thánh và ma quỷ có sự tương giao.

“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là câu chuyện kể về nhân vật Ngô Tử Văn – một con người với tính tình khảng khái, cương trực, là hình ảnh tiêu biểu cho người trí thức Việt Nam trong xã hội xưa. Với bố cục bốn phần, mỗi phần với những chi tiết, sự kiện tiêu biểu, qua đó tác giả đã làm bật nổi, sáng tỏ nhân vật Ngô Tử Văn, đồng thời thể hiện tư tưởng, quan điểm của mình.

Tính tình cương trực, khảng khái của Ngô Tử Văn trước hết được thể hiện ở hành động đốt đền của anh. Lẽ thường, đền chính là nơi thờ những người có công với đất nước, với nhân dân thế nhưng, ở đây đền lại để thờ ma, thờ quỷ – thờ Bách hộ họ Thôi, một tên tướng giặc bại trận. Vì tức giận trước việc “hưng yêu tác quái” của tên hung thần Bách hộ họ Thôi mà Ngô Tử Văn đã quyết định đốt đền với một thái độ dứt khoát, bất chấp hậu quả xấu cho bản thân. Hành động ấy của Ngô Tử Văn cho thấy Ngô Tử Văn là người cương trực, yêu chính nghĩa, không chấp nhận gian tà, điều ngang trái, vô lý tồn tại trong xã hội, nhất là hại đến dân lành.

Sau khi đốt đền, Ngô Tử Văn đã có cuộc gặp gỡ với hồn ma tên tướng giặc và Thổ công, đồng thời chàng cũng phải chịu hậu quả như mọi người lo sợ, chàng ốm nặng rồi trong cơn mê tỉnh, chàng thấy hai tên quỷ sứ đến bắt đi rất gấp, kéo ra ngoài thành vế phía đông” – chàng đã bị dẫn xuống âm ti để gặp Diêm Vương. Nơi âm phủ, Diêm Vương chỉ nghe câu chuyện từ một phía và kết tội cho Ngô Tử Văn nhưng với sự khẳng khái, cương trực của mình, không một chút lo lắng, sợ hãi, bằng những lời lẽ “rất cứng cỏi, ko chịu nhún nhường chút nào”, chàng đã vạch rõ tội trạng của tên tướng giặc và từng bước giành phần chiến thắng về mình.

Sau khi được minh oan và trở về từ minh ti, không lâu sau đó, Thổ công lại tới gặp chàng và báo cho chàng nhận chức Phán sự ở đền Tản Viên. Thổ công đã nói với Tử Văn những lời lẽ thật chí lý, chí tình ”người ta sống ở đời, xưa nay ai chẳng phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau” và khuyên Văn nên nhận chức quan ấy. Tử Văn đã vui vẻ nhận lời. Đây chính là phần thưởng sự khẳng khái, chính nghĩa, cương trực của Ngô Tử Văn đồng thời thể hiện ước muốn của nhân dân ta về một vị quan công bằng, chính trực, thanh liêm

Như vậy, thông qua câu chuyện về nhân vật Ngô Tử Văn, tác giả Nguyễn Dữ đã đề cao tinh thần khẳng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn nói riêng và những người trí thức Việt nói chung. Đồng thời, qua đó, tác giả đã lên tiếng phê phán những ngang trái, bất công của xã hội đương thời và sự tham nhũng, lộng quyền của giai cấp phong kiến. Cùng với đó, tác giả đã thể hiện niềm tin, mơ ước của nhân dân về một xã hội công bằng.

Thêm vào đó, “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” còn hấp dẫn người đọc bởi nghệ thuật đặc sắc. Sự đặc sắc ấy về nghệ thuật trước hơn hết thể hiện ở cốt truyện giàu kịch tính cùng cách kể chuyện tự nhiên, lôi cuốn, có cao trào, thắt nút, mở nút. Đặc biệt, truyện còn sử dụng nhiều yếu tố tưởng tượng, hoang đường, kì ảo. Chính những yếu tố này đã làm cho câu chuyện thêm phần đặc sắc và cuốn hút.

Tóm lại, “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là một trong số những tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Dữ nói chung, văn học trung đại nói riêng bởi những yếu tố đặc sắc vả về nội dung và nghệ thuật. Dẫu trải qua nhiều thế kỉ nhưng tác phẩm vẫn còn mãi giá trị, không bị phai mờ bởi lớp phủ của thời gian.

Thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Mẫu 6

“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” là truyện ngắn xuất sắc trong tập “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ. Đây là tác phẩm đặc sắc, ca ngợi tính cách dũng cảm, kiên cường, chính trực, dám chống lại cái ác đến cùng, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn-một trí thức nước Việt.

“Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” viết bằng chữ Hán theo thể văn xuôi truyền kỳ. Đây là thể loại văn học phản ánh hiện thực cuộc sống qua những yếu tố kì ảo hoang đường. Nhân vật trong bộ truyền kỳ gồm cả người, ma quỷ, thần thánh, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể xâm nhập thế giới của nhau. Bộ truyện “Truyền kì mạn lục” được sáng tác vào khoảng thế kỉ XVI, lúc xã hội phong kiến Việt Nam rơi vào suy thoái, khủng hoảng, nhân dân bất bình với tầng lớp thống trị, nhiều nho sĩ rơi vào tâm trạng hụt hẫng, nuối tiếc cho thời thịnh trị dưới sự cai trị của vua Lê Thánh Tông. Nguyễn Dữ sáng tác bộ truyện trong khoảng thời gian ông đã cáo quan ở ẩn vừa để phản ánh tình trạng xã hội, vừa để bộc lộ quan điểm sống và tấm lòng của ông với cuộc đời.

Nhân vật chính của tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”. Ngô Tử Văn được giới thiệu là người tính tình cương trực, thẳng thắn, khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được. . Minh chứng rõ ràng cho tính cách cứng cỏi của Ngô Tử Văn là hành động đốt đền tà của chàng. Trong khi mọi người đều lắc đầu, lè lưỡi, không dám làm gì quỷ thần ở ngôi đền gần làng quấy hại nhân dân thì Tử Văn cương quyết, công khai, đường hoàng, ung dung, tắm rửa sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt hủy ngôi đền. Hành động đó xuất phát từ ‎ muốn diệt trừ yêu ma, trừ hại cho dân, từ lòng tự tin vào chính nghĩa của Ngô Tử Văn, chứng tỏ cốt cách khảng khái của kẻ sĩ.

Sự cương trực, khảng khái của Ngô Tử Văn còn bộc lộ rõ qua thái độ của chàng với hồn ma tên tướng giặc. Tướng giặc khi sống là kẻ xâm lược nước ta, tàn hại dân ta, khi chết rồi vẫn quen thói ỷ mạnh hiếp yếu, cướp nơi trú ngụ của thổ thần nước Việt, lại còn gian trá bày trò đút lót rồi tác yêu tác quái với nhân dân trong vùng. Hắn bị Tử Văn đốt đền là đáng đời nhưng lại hiện hình, xảo quyệt làm như mình là kẻ bị hại, dùng tà phép khiến cho chàng bị sốt nóng sốt rét, đầu lảo đảo. Hồn ma tướng giặc buông lời mắng mỏ, đe dọa, quyết kiện Tử Văn xuống tận Diêm Vương. Trước sự ngang ngược trắng trợn, quyền phép đáng sợ của hồn ma tướng giặc, Ngô Tử Văn vẫn điềm nhiên, không hề run sợ mà tự tin, không coi những lời đe dọa ra gì, thậm chí chẳng thèm tiếp lời hồn ma tướng giặc. Do Tử Văn dũng cảm, trừ hại cho dân nên thần linh mới phù trợ giúp đỡ chàng.

Chàng bị lôi xuống địa phủ. Cảnh địa phủ rùng rợn với quỷ sứ hung ác, con sông đầy gió tanh sóng xám. Tử Văn bị bọn quỷ sai lôi đi rất nhanh, bị phán xét lạnh lùng là kẻ “tội sâu ác nặng, không được liệt vào hàng khoan giảm”, bị kết thêm tội ngoan cố bướng bỉnh nhưng chàng chẳng hề run sợ, không hề nhụt chí, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, minh bạch. Khi đối diện trước Diêm vương uy nghiêm, Tử Văn đấu tranh vạch tội tên tướng giặc bằng những lí lẽ cứng cỏi, bằng chứng không thể chối cãi, giọng điệu rất đanh thép vững vàng. Chàng đã bảo vệ lẽ phải mà bất chấp tính mạng của mình, không chịu khuất phục trước uy quyền, kiên quyết đấu tranh cho công lý và lẽ phải đến cùng. Kết quả, chàng đã chiến thắng hồn ma gian tà của tên tướng giặc, bảo toàn được sự sống của mình, được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên, chịu trách nhiệm giữ gìn bảo vệ công lý. Chiến thắng ấy của Ngô Tử Văn có ‎ nghĩa vô cùng to lớn, đã trừng trị đích đáng hồn ma tướng giặc xảo trá, làm sáng tỏ nỗi oan khuất, phục hồi chức vị cho thổ thần nước Việt, giải trừ tai họa cho nhân dân.

Qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng, chống lại cái ác, Ngô Tử Văn đã nổi bật lên là người chính trực, khảng khái, dũng cảm bảo vệ công lý đến cùng, là một kẻ sĩ cứng cỏi của nước Việt. Từ đó, tác giả Nguyễn Dữ đã khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà, thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc, bộc lộ quyết tâm đấu tranh triệt để với cái xấu cái ác.

Truyện thông qua cuộc đấu tranh của Ngô Tử Văn còn ngầm phản ánh thế giới thực của con người với đầy rẫy sự việc xấu xa như nạn ăn của đút,tham quan dung túng che dấu cho cái ác hoành hành, công lý bị che mắt.

Truyện gây ấn tượng bằng một loạt những chi tiết kì ảo, cốt truyện giàu kịch tính, cách xây dựng nhân vật sắc nét, ngôn ngữ kể chuyện trau chuốt, súc tích. Truyện ca ngợi nhân vật Ngô Tử Văn, một trí thức nước Việt khảng khái, nhân cách cứng cỏi, cao đẹp, qua đó bộc lộ niềm tin vào công lý, vào việc chính thắng tà.

Thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Mẫu 7

Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã ra làm quan. Sau vì bất mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó “trải mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành”.Ông đã viết tập truyện chữ Hán nổi tiếng trong cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại.

Truyền kỳ mạn lục một tác phẩm được đánh giá là “thiên cổ kỳ bút”. Truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ nôm.

Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là tác phẩm viết bằng chữ Hán gồm 20 truyện, ra đời vào nửa đầu thế kỉ XVI. Lục là sách, mạn là ghi chép tản mạn, truyền kì là chuyện lạ kì lưu truyền trong dân gian.

Truyền kì mạn lục là sách ghi chép lại những câu chuyện lạ trong dân gian. Tác phẩm thực sự là một sáng tác văn học với sự gia công, hư cấu, sáng tạo, trau chuốt, gọt giũa của Nguyễn Dữ chứ ko phải chỉ là một công trình ghi chép đơn thuần. Trong Truyền kỳ mạn lục Nguyễn Dữ viết về các nhân vật, các sự việc kỳ lạ xảy ra thời Lý, Trần, Hồ và thời Lê sơ. Bằng trí tưởng tượng phong phú và bằng một bút pháp linh hoạt, tác giả Truyền kỳ mạn lục đưa người đọc vào một thế giới huyền bí vừa có người, vừa có thần, vừa hư, vừa thật nhưng xuyên qua các lớp mù linh ảo, ly kỳ được thêu dệt ra một cách tài giỏi ấy vẫn hiện rõ một thế giới thật của cuộc đời mà ở đó nhan nhản những kẻ có quyền thế độc ác, đồi bại.

Tuy nhiên, bên cạnh sự tung hoành của cái xấu cái ác, tác giả Truyền kỳ mạn lục vẫn nhìn thấy những phẩm cách lương thiện, trung thực, những tâm hồn thanh cao, những tình người tình yêu của nhân dân, của cái thiện vĩnh hằng và Nguyễn Dữ đã mô tả nó thật đẹp đẽ, mỹ lệ. Trong số đó có tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” đã đề cao tinh thần khẳng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác, trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn; đồng thời thể hiện niềm tin công lí, chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng gian tà.

Advertisement

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên kể về Ngô Tử Văn người vốn khảng khái, nóng nảy,thấy sự gian tà thì ko thể chịu được. Mọi người vẫn thường khen Văn là người cương trực. Ở làng Tử Văn sống trước có một ngôi đền linh ứng nhưng giờ đã thành ngôi đền có hồn của tên giặc xâm lược tử trận gần đó làm yêu quái trong dân gian. Trước sự việc ngôi đền bị uế tạp và yêu quái có thể làm hại dân, “Tử Văn rất tức giận, một hôm tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt đền”. Sự khẳng khái, nóng nảy của Tử Văn đã dẫn đến một hành động dũng cảm vì dân trừ hại. Sự tức giận của Tử Văn ko phải là sự tức giận cho riêng mình mà là sự tức giận cho mọi người dân đang bị yêu quái quấy nhiễu. Vì thế mà việc làm của Tử Văn là đáng ca ngợi.

Sau khi đốt ngôi đền,Tử Văn ốm nặng rồi “thấy hai tên quỷ sứ đến bắt đi rất gấp, kéo ra ngoài thành vế phía đông”. Lúc ở chốn âm cung, do chỉ nghe bên nguyên,Diêm Vương – vị quan tòa xử kiện- người cầm cán cân công lý cũng đã có lúc tỏ ra mơ hồ. Khi đứng trước công đường Ngô Tử Văn càng tỏ ra mình là người có khí phách. Chàng ko chỉ khẳng định:” Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian” mà còn dũng cảm vạch mặt tên bại tướng gian tà với lời lẽ “rất cứng cỏi, ko chịu nhún nhường chút nào”. Chàng chiến đấu đến cùng vì lẽ phải. Từng bước, từng bước Ngô Tử Văn đã đánh lui tất cả sự phản công, kháng cự của kẻ thù, cuối cùng đã hoàn toàn đánh gục tên tướng giặc.

Sau khi được minh oan ở minh ti, Tử Văn trở về nhà chưa được 1 tháng thì Thổ công đến bảo Tử Văn nên nhậm chức phán sự ở đền Tản Viên. Thổ công nói:”người ta sống ở đời, xưa nay ai chẳng phải chết, miễn là chết đi còn được tiếng về sau” và khuyên Văn nên nhận.Thế là Văn vui vẻ nhận lời. việc được nhận chức ở đền Tản Viên đã nói lên thắng lợi của chàng trong cuộc đấu tranh với tên hung thần xảo quyệt. Sự thắng lợi này đã khẳng định chàng là người tốt, chính nghĩa, dám đấu tranh để thực hiện công lí. Con người của chính nghĩa đã được đứng ra để thực hiện công lý là một thắng lợi có ý nghĩa sâu sắc, khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà.

Trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, tác giả đã vạch trần bộ mặt gian tà của ko ít kẻ đương quyền “quen dùng chước dối lừa, thích làm trò thảm ngược”. Ngòi bút của Nguyễn Dữ ko chỉ lên án một số quan lại mà còn tố cáo mạnh mẽ hiện thực “rễ ác mọ lan, khó lòng lay động” mà bênh vực cho kẻ gian tà. Trong câu nói buột miệng của Tử Văn “Sao mà nhiều thần quá vậy?” cũng cho ta thấy một hiện thực của xã hội phong kiến lúc bấy giờ: xã hội có quá nhiều kẻ hữu danh vô thực, lợi dụng địa vị, quyền thế làm điều bất chính. kết thúc có hậu của câu chuyện thể hiện đúng truyền thống nhân đạo của dân ta chính nghĩa nhất định thắng gian tà.

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên Nguyễn Dữ đã kết hợp thành công yếu tố ảo và thực. Câu chuyện diễn ra đầy tính chất li kì bởi sự xuất hiện của thế giới âm cung với những hồn ma, bóng quỷ với những việc khác thường: người chết đi sống lại từ dương gian xuống địa phủ, từ cõi âm lại về cõi dương. Những chuyện lại có vẻ như rất thực bởi cách dẫn người khác, dẫn việc cụ thể đến cả họ tên, quê quán và thời gian, địa điểm diễn ra sự việc. yếu tố kì ảo giúp câu chuyện thêm phần li kì, hấp dẫn. yếu tố thực làm tăng tính xác thực, làm câu chuyện có ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Câu chuyện đề cao nhân vật Ngô Tử Văn đại diện cho tầng lớp trí thức nước Việt giàu tinh thần dân tộc, chuộng chính nghĩa, dũng cảm, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác trừ hại cho dân. Truyện còn thể hiện niềm tin công lý, chính nghĩa nhất định sẽ thắng gian tà.

Thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Mẫu 8

Nguyễn Dữ là một trong những nhà văn nổi tiếng thời kỳ trung đại. Tên tuổi của ông được gắn liền với tác phẩm “Truyền kì mạn lục” vang danh. Trong đó không thể không kể đến “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”. Đây là tác phẩm đặc sắc, ca ngợi phẩm chất chính nghĩa cương trực, khảng khái dám đứng lên chống lại cái ác, đòi lại công bằng xã hội của một trí thức Việt họ Ngô.

Tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” được viết bằng chữ Hán qua lối văn xuôi truyền kỳ. Đây là lối viết sử dụng những chi tiết kì ảo hoang đường để phản ánh hiện thực cuộc sống. Trong truyện không có ranh giới giữa ma quỷ con người, thần thánh mà chỉ còn thiện và ác. Câu truyện chính là bức tranh thu nhỏ hiện thực phong kiến khủng hoảng cuối thế kỉ XVI đồng thời là cái nhìn và tấm lòng sâu sắc tác giả muốn gửi gắm đến cuộc đời.

Như đã đề cập, nhân vật chính của tác phẩm tên là Ngô Tử Văn. Chàng vốn là một tri thức Việt, khảng khái, dũng cảm, cương trực, nổi tiếng khắp bốn phương trời. Mở đầu với những dòng ngợi ca tác giả đã phân nào định hướng cho người đọc về mạch chuyện sắp tới. Minh chứng rõ nét cho con người của Ngô Tử Văn đó là hành động đốt đền của chàng. Trong khi mọi đầu đều lo sợ, lắc đầu lè lưỡi, không dám đụng chạm gì mà chỉ biết cung phụng quỷ thần làm mưa làm gió ở ngôi đền thi Tử Văn lại khẳng khái cầm lửa thiêu đền. Với chàng, đó là hành động diệt trừ yêu ma, quấy nhiễu dân lành thì chả có gì phải lo phải sợ. Chàng không hổ thẹn với lòng, với lương tâm của mình. Cốt cách thanh cao, khảng khái của kẻ sĩ không thể bị cái ác lu mờ.

Sự cương trực, khảng khái của Ngô Tử Văn còn được thể hiện qua lời đáp trả quyết liệt của chàng với hồn ma tên tướng giặc. Tên tướng giặc khi sống thì tàn ác, hung bạo; khi chết quen thói bạc nhược quấy nhiễu dân lành; ỷ mạnh hiếp yếu; chiếm đất của thổ địa; bày trò gian ác hoành hành trong vùng. Hắn bị Tử Văn đốt đền là xứng đáng ấy vậy mà lại hiện hình, dùng lời lẽ xảo trá cho rằng mình là kẻ bị hại; còn dùng bùa phép khiến Tử Văn nóng sốt; huênh hoang đòi kiện Tử Văn xuống tận diêm vương. Dù bị đe dọa, cái chết cận kề nhưng Tử Văn lại chẳng hề có chút run sợ chùn bước ngược lại còn hừng hực khí thế, tâm kiên quyết, vững vàng trước luận điệu sai trái của kẻ xấu.

Chính bản lĩnh và tấm lòng yêu nước thương dân của chàng đã khiến thần linh cảm động và ra tay giúp đỡ, bày cho chàng đường đi nước bước để vạch mặt yêu tà. Sự dũng cảm của chàng còn được phác họa trên con đường xuống âm phủ. Đoạn đường xuống địa phủ đầy rẫy những quỷ dữ hung ác, con sông đầy gió tanh sóng xám, những lời lẽ phán xét thét gào uy quyền, ghê rợn nhưng Tử Văn vẫn giữ cho mình khí thế hiên ngang, không khuất phục, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, công bằng, rõ ràng. Đứng trước Diêm Vương hung rợn, kẻ giặc tàn ác với những lời lẽ buộc tội xảo trá, một tay che trời Tử Văn chả mảy may lung lay ý chí, luống cuống mà lại chỉ rõ sai trái, đưa ra lập luận đanh thép, chứng cứ rõ ràng, vạch trần kẻ gian. Chàng bất chấp tính mạng, dùng cả tâm huyết và sức lực để chống lại cái ác, diệt trừ hậu họa, đòi lại công bằng, ấm no cho nhân dân, đất nước.

Trời đâu phụ lòng người, với tất cả tấm lòng, sự hi sinh và cả công lý xã hội Tử Văn đã chiến thắng tên hồn ma tướng giặc gian ác. Chàng được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên, được người người đời đời trọng vọng ghi nhớ, biết ơn.

Truyện được xây dựng với những chi tiết kỳ ảo, hấp dẫn, chứa đựng nhiều tình tiết bất ngờ, ngôn ngữ giản dị, cô đọng, súc tích, nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật đặc sắc kết hợp với nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tài tình,… Tất cả đã tạo dựng nên một cốt truyện rõ ràng, giàu tính tạo hình; để lại nhiều ấn tượng trong lòng độc giả và được lưu truyền rộng rãi trong dân gian qua nhiều thế kỉ.

Câu chuyện chỉ là một khía cạnh nhỏ hư ảo về cuộc sống nhưng đã phần nào toát lên được ý đồ của tác giả. Nguyễn Dữ phải chăng đang muốn khắc họa lại hiện thực thối nát của chế độ phong kiến cuối TK XVI. Đó là một xã hội mà cái ác luôn hoành hành , xâm lấn xã hội bất cứ lúc nào. Cái ác hiện diện nhưng mấy ai là người dám đứng lên đấu tranh. Một xã hội mà đồng tiền có thể làm lu mờ phẩm chất con người qua vấn nạn đút lót, tham quan dung túng.

Chiến thắng của Ngô Tử Văn không chỉ ngợi ca phẩm chất chính trực, trung kiên, dũng cảm của trí thức đất Việt mà còn thể hiện chân lý ngàn đời của dân tộc: cái thiện, cái chính nghĩa dù có bị vùi lấp đến đâu cũng luôn sáng soi, tiêu diệt và chiến thắng cái gian ác, xấu xa. Ngô Tử Văn chính là biểu tượng cho dân tộc Việt Nam, cho khí thế trời Nam, cho khát vọng ngàn đời dân tộc về hình tượng các vị quan-anh dũng đầy khảng khái, thanh liêm, chính trực.

Thuyết minh Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Mẫu 9

Nguyễn Dữ là một cây bút nổi tiếng với tập “truyền kì mạn lục”, trong đó để lại rất nhiều ấn tượng cho người đọc câu chuyện về Ngô Tử Văn khẳng khái, trung thực nhưng nóng nảy. Chuyện Chức phán sự đền Tản Viên chính là những trang viết rõ nét nhất về nhân vật này.

Nhân vật chính của chuyện là Ngô Tử Văn được Nguyễn Dữ khái quát bằng câu văn giản dị rằng anh ta là “tính tình cương trực, thẳng thắn, khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được.” Và toàn bộ nội dung của truyện “Chức phán sự đền Tản Viên”, Nguyễn Dữ đã củng cố những chi tiết để khẳng định phẩm chất tốt đẹp của nhân vật này. Mỗi chi tiết nhỏ như làm sống dậy trên trang sách tính cách cứng cỏi của Ngô Tử Văn là hành động đốt đền tà của chàng. Trong khi mọi người đều “lắc đầu, lè lưỡi, không dám làm gì” quỷ thần ở ngôi đền gần làng quấy hại nhân dân dẫu vô cùng muốn diệt trừ nó thì Tử Văn cương quyết, công khai, đường hoàng, ung dung, tắm rửa sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt hủy ngôi đền. Hành động đó, trước hết xuất phát hoàn toàn từ tấm lòng của người khảng khái, cương trực, không chịu cúi đầu, khuất phục trước cái xấu, cái ác mà sẵn sàng hi sinh vì cộng đồng để giúp bảo vệ lợi ích của tập thể, để giữ gìn được sự bình an cho nơi mình sinh sống.

Thế nhưng, càng về sau diễn biến của truyện càng trở nên gay cấn khi mà sau khi đốt ngôi đền,Tử Văn ốm nặng rồi “thấy hai tên quỷ sứ đến bắt đi rất gấp, kéo ra ngoài thành vế phía đông”. Hắn vô cùng xảo quyệt làm như mình là kẻ bị hại, dùng tà phép khiến cho chàng bị sốt nóng sốt rét, đầu lảo đảo. Hồn ma tướng giặc buông lời mắng mỏ, đe dọa, quyết kiện Tử Văn xuống tận Diêm Vương. Trước sự ngang ngược, ngậm máu phun người của hồn ma tướng giặc, Ngô Tử Văn vẫn điềm nhiên, khảng khái, coi thường những lời đe dọa, thậm chí chẳng thèm tiếp lời hồn ma tướng giặc. Khi bị điệu lên trước nơi tra khảo Ngô Tử Văn càng tỏ ra mình là người có khí phách. Chàng ko chỉ khẳng định “Ngô Soạn này là một kẻ sĩ ngay thẳng ở trần gian” mà còn dũng cảm bóc trần bản mặt giả dối, tàn độc của tên bại tướng gian tà với lời lẽ “rất cứng cỏi, ko chịu nhún nhường chút nào”. Ngô Tử Văn dù bị đặt trong tình thế nguy hiểm, bị buộc tội bởi những lời lẽ lang sói, vẫn cương quyết đứng về lẽ phải, bảo vệ chân lý đến cùng.

Thuyết Minh Về Hòn Khoai ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Hay Nhất

Thuyết Minh Về Hòn Khoai ❤️️ 15 Bài Giới Thiệu Hay Nhất ✅ Đón Đọc Tuyển Tập Văn Mẫu Đặc Sắc Và Cùng Khám Phá Một Địa Danh Đẹp Của Đất Nước.

Việc lập dàn ý thuyết minh về Hòn Khoai sẽ giúp các em học sinh phân tích đề và định hướng triển khai bài viết. Tham khảo mẫu dàn ý chi tiết như sau:

I. Mở bài:

Giới thiệu chung về địa danh Hòn Khoai.

Cảm nghĩ khái quát về Hòn Khoai.

II. Thân bài:

a) Giới thiệu tổng quan về Hòn Khoai:

Vị trí địa lí

Diện tích

Khung cảnh xung quanh

b) Giới thiệu về lịch sử hình thành Hòn Khoai:

Nguồn gốc hình thành

Thời gian phát hiện

c) Giới thiệu về không gian, cảnh vật ở Hòn Khoai:

Đặc điểm tự nhiên của Hòn Khoai

Chi tiết cảnh quan của Hòn Khoai

d) Ý nghĩa về văn hóa, du lịch của Hòn Khoai:

Thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước, quảng bá hình ảnh du lịch.

Góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế địa phương và cả nước trong lĩnh vực du lịch biển.

Là niềm tự hào của đất nước, khẳng định vẻ đẹp đặc sắc của biển Việt Nam.

III. Kết bài:

Khẳng định lại một lần nữa giá trị, ý nghĩa của Hòn Khoai.

Nêu cảm nghĩ của bản thân về Hòn Khoai.

SCR.VN tặng bạn 💧 Giới Thiệu Về Một Danh Lam Thắng Cảnh 💧 17 Bài Văn Hay

Đón đọc bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh Hòn Khoai để tìm hiểu nhiều hơn về hòn đảo được mệnh danh là tiền tiêu của Tổ quốc.

Nằm ở phía đông – nam Mũi Cà Mau, Hòn Khoai sừng sững như một trạm tiền tiêu canh giữ cả vùng trời. Với những chứng tích lịch sử và cảnh đẹp kỳ thú, nơi đây đã trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn, làm say lòng biết bao du khách.

Cụm đảo Hòn Khoai có diện tích khoảng 4 km2, cách đất liền 14,6 km về phía tây nam thị trấn Năm Căn, thuộc xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Từ thành phố Cà Mau, du khách đến làng đánh cá Trần Đế (làng đánh cá cực Nam của Tổ Quốc) và đổi thuyền đi tiếp ra đảo Hòn Khoai.

Hòn Khoai không chỉ là danh lam thắng cảnh của Cà Mau mà còn là di tích cách mạng nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ. Này 13/12/1940, Phan Ngọc Hiển lãnh đạo khởi nghĩa Hòn Khoai giành thắng lợi. Ngày 13/12/1940, ngày Khởi nghĩa Hòn Khoai được chọn làm Ngày truyền thống cách mạng của Đảng bộ và quân dân Cà Mau. Hòn Khoai được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích Lịch sử và Thắng cảnh Quốc gia vào ngày 27/4/1990.

Ngoài ra, tháng 9/2013, Cụm đảo Hòn Khoai được xác lập Kỷ lục cụm đảo gần xích đạo nhất. Với vị trí đặc biệt, cụm đảo Hòn Khoai có tiềm năng phát triển kinh tế biển, đảo với dịch vụ hàng hải, dịch vụ đánh bắt hải sản, nuôi trồng hải sản, du lịch sinh thái và nghiên cứu.

Hòn Khoai có nhiều tên gọi khác như Đảo Giáng Tiên, hòn Độc Lập, hay đảo Poulop vào thời Pháp. Nhưng người dân địa phương quen gọi là Hòn Khoai vì hình dáng đảo nhìn xa như một củ khoai lang khổng lồ. Cụm đảo Hòn Khoai gồm: Hòn Lớn, Hòn Nhỏ, Hòn Tượng, Hòn Sao, hòn Đồi Mồi.

Độ cao nhất tính từ đỉnh hòn so với mặt nước biển là 318m. Cụm đảo Hòn Khoai có thảm rừng nguyên sinh phủ dày. Trong đó, hệ thực vật rất đa dạng, với hơn 1.400 loài gồm cây ăn trái, cây lấy gỗ, cây làm thuốc… Động vật cũng khá phong phú với các loài khỉ, gà rừng, trăn hoa, kỳ đà, sóc bụng trắng… và hơn 20 loài chim qúy. Đặc biệt, khi mùa xuân về trên Hòn Khoai, hoa mai nở vàng rực khắp đảo.

Trên đảo Hòn Khoai có 2 bãi biển, gồm Bãi Lớn ở phía đông nam và Bãi Nhỏ ở phía bắc, với những viên đá cuội nhiều hình dáng đẹp mắt, chồng chất lên nhau chạy dài khắp bãi. Đường đi lại trên đảo có một con đường chính từ Bãi Lớn đến đỉnh đảo, dài khoảng 3 km đã được trải nhựa phẳng phiu, rợp bóng cây xanh mát.

Đỉnh đảo Hòn Khoai có ngọn hải đăng do Pháp xây dựng từ 1920, hình khối vuông, mỗi cạnh dài 4m, cao 12.5m, kết cấu bằng đá hộc và xi-măng, công suất quét sáng bán kính 35km. Hải đăng Hòn Khoai là một trong những công trình đèn biển có mặt sớm nhất tại hải phận Việt Nam, trải qua thời gian nhưng kiến trúc vẫn còn nguyên vẹn, và nằm trong hệ thống đèn biển Cần Giờ – Côn Đảo – Hòn Khoai – Phú Quốc, chiếu sáng cho tàu thuyền qua lại trên biển.

Đến Hòn Khoai, du khách được chiêm ngưỡng vẻ đẹp nên thơ của những bãi biển cát vàng óng ả, đầy đá cuội tròn như trứng ngỗng, được leo núi, băng rừng, trực tiếp ngắm nhìn một thảm rừng nguyên sinh cực kỳ quý hiếm ở nước ta và hàng trăm giống chim thú vẫn còn nguyên vẹn. Ngoài việc khám phá thiên nhiên, Hòn Khoai còn chinh phục du khách bởi sản vật tươi ngon, phong phú của biển.

Với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp hoang sơ, khí hậu mát mẻ trong lành, cùng những món ăn độc đáo, Hòn Khoai là điểm đến lý tưởng dành cho những bước chân thích khám phá, là địa điểm nghỉ dưỡng hấp dẫn với du khách gần xa.

Chia sẻ 🌼 Thuyết Minh Về Một Danh Lam Thắng Cảnh Ngắn Gọn 🌼 15 Mẫu Hay Nhất

Tham khảo văn mẫu thuyết minh về Hòn Khoai Cà Mau và cùng khám phá những thông tin thú vị về địa danh này.

Những ai đã một lần đến thăm Cà Mau chắc đã một lần đến thăm hòn Khoai – một trong những cụm đảo xinh đẹp nhất của miền cực Nam Tổ quốc. Hòn Khoai không chỉ có một đảo nhỏ mà nó được tạo thành bởi 5 hòn đảo nhỏ xinh: Hòn Khoai, Hòn Đồi Mồi, Hòn Đá Lẻ, Hòn Tương có diện tích 4km2. Hòn Khoai còn có nhiều tên gọi khác đó là Giáng Hương, hòn Độc Lập… tuy nhiên người dân ở đây vẫn quen gọi là Hòn Khoai vì nhìn từ xa vào trông nó giống như một củ khoai khổng lồ.

Hòn Khoai nằm cách đất liền chừng 14 km. Nếu du khách muốn ra thăm đảo chỉ cần mất 3h đi tàu vượt biển là đến nơi. Càng gần đến nơi các hòn đảo các hiện lên rõ dần trước tiên là hòn Tượng, hòn Sao… rồi đến hòn Khoai trông như những viên ngọc xanh giữa mênh mông của biển cả. Đá núi hàng triệu năm bị sóng biển đánh mòn khuyết dưới chân, tạo thành những hình thù độc đáo, thỏa trí tưởng tượng của du khách.

Nếu muốn lên những đỉnh đồi, du khách phải đi qua những con đường đất gồ ghề và qua những cánh rừng nguyên sinh. Tuy có đôi chút vất vả nhưng bù lại du khách sẽ chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp hoang sơ của những khu rừng nhiệt đới hải đảo với những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Bên trong rừng còn có nhiều loại cây ăn quả do người dân trồng như chuối, xoài, ổi… vào mùa nào cũng sai quả và ẩn hiện trong màu xanh của cây cối là một chút sắc đỏ, sắc tím của hoa vong hoa bằng lăng. Đặc biệt vào mùa xuân, trên khắp các cánh rừng lại rực rỡ màu vàng của hoa mai.

Từ trên ngọn hải đăng thông qu kính viễn vọng có thể nhìn xa hơn 40 hải lý, bao quát được một vùng không gian rộng lớn. Toàn bộ khung cảnh xinh đẹp trên đảo như nằm gọn trong tầm mắt của du khách . Đặc biệt bạn có thể hướng tầm quan sát của mình về mũi Cà Mau để có thể một lần chiêm ngưỡng mảnh đất thiêng liêng nơi cực Nam của tổ quốc, mà không dễ ai có cơ hộ nếu không đến Hòn Khoai.

Đến Hòn Khoai không chỉ được khám phá thiên nhiên, tham quan các di tích lịch sử những món ăn thơm ngon của vùng biển Cà Mau như: Tôm, ghẹ, sò nướng… Đặc biệt những món ăn được chế biến từ những loại hải sản vừa được đánh bắt từ biển khơi nên vẫn giữ được vị tươi ngon nhất sau khi qua sơ chế sẽ được phục vụ cho du khách ngay trên bờ biển hay trên những tán cây xanh mát giữ rừng. Chính và vậy, du khách đến đây không chỉ được thưởng thức các món ăn ngon mà cảm nhận được sự gần gũi của thiên nhiên và con người trên đảo.

Ở Hòn Khoai hình như không thiếu gì, có thiếu chăng, là bóng dáng con người! Khách về đất liền. Đồn trưởng, đồn phó và các chiến sĩ đứng trên bến vẫy tay tiễn đến khi tàu khuất dạng. Tấm bảng nền xanh lá cây có chữ “Đồn biên phòng 700“ xa dần rồi mờ nhạt trong bóng chiều trên biển.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Bài văn thuyết minh về Hòn Khoai hay nhất sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc và các em học sinh.

Hòn Khoai chẳng những là danh lam thắng cảnh của Cà Mau mà còn là di tích cách mạng nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ. Năm 1994, Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Hòn Khoai là di tích – thắng cảnh cấp quốc gia. Với diện tích khoảng 4 km2, Hòn Khoai cách đất liền hơn 14 km, thuộc xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển. Xưa kia, địa danh này còn được gọi với nhiều cái tên khác nhau như: Hòn Giáng Hương, Hòn Ðộc Lập. Tuy nhiên, bởi hình dạng giống như một củ khoai khổng lồ mà người địa phương vẫn quen gọi với cái tên là Hòn Khoai cho đến tận ngày nay.

Lần đầu tiên đặt chân đến nơi đây, du khách sẽ không khỏi choáng ngợp bởi những cảnh sắc tuyệt đẹp. Bãi biển Hòn Khoai hoang sơ và thơ mộng, đá chen cát, sóng chen đá, hòa quyện với làn nước biển trong xanh tạo nên cảnh tượng kỳ vĩ vô cùng.

Xung quanh hòn còn có nhiều hòn khác như Hòn Lớn, Hòn Nhỏ, Hòn Tượng, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi. Hòn Khoai có 2 bãi cát, gồm Bãi Lớn ở phía Đông – Nam và Bãi Nhỏ ở phía Bắc. Ðường lên đảo uốn theo hình trôn ốc bám theo sườn đồi với những tán cây xanh mướt rợp lối đi.

Nhìn từ trên cao, Hòn Tượng trong giống như một chú voi khổng lồ đang ngâm mình dưới biển. Bãi Lớn hiện ra như một Nha Trang thu nhỏ. Hòn Đồi Mồi, Hòn Sao thì xanh mơ, mượt mà. Biển trong xanh, xa xa sóng gợn lăn tăn, lấp lánh đan xen với những rừng cây, đá núi tạo nên một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp.

Bên cạnh đó, nơi đây còn nổi tiếng bởi hệ sinh thái vô cùng phong phú và đa dạng. ngoài việc du khách chiêm ngưỡng vẻ đẹp nên thơ của những bãi biển đầy đá cuội với đủ mọi hình thù, du khách còn có dịp leo núi, băng rừng, trực tiếp ngắm nhìn một thảm rừng nguyên sinh cực kỳ quý hiếm ở Hòn Khoai với trên 221 loài thực vật bậc cao, thuộc 78 họ đang sinh sống.

Từ các loại cây ăn quả như: mít, xoài, dừa…đến những cây cổ thụ, cây hoa rừng xanh tốt quanh năm. Ở đảo còn có nhiều chim quý, ngoài những bầy chim nhạn, chim én còn có chim cao các. Giống chim này lông đen, mỏ vàng, trên mỏ lại có thêm cái mỏ thứ hai như chim hồng hoàng vậy.

Kế tiếp, đi lên phía trên đỉnh Hòn Khoai, du khách có thể chiêm ngưỡng ngọn tháp hải đăng cao sừng sững, có tuổi đời hơn 100 năm do Pháp xây dựng. Hải đăng Hòn Khoai được xây dựng hoàn toàn bằng đá xanh. Đây chính là nơi dẫn đường cho các tàu hải quân, tàu đánh cá của ngư dân, là một trong những công trình đèn biển có mặt sớm nhất tại hải phận Việt Nam. Dù đã tồn tại gần 100 năm nhưng kiến trúc của nó vẫn còn khá nguyên vẹn.

Đặc biệt hơn nữa, ngoài việc khám phá thiên nhiên, đến với Hòn Khoai chúng ta không thể nào bỏ qua các đặc sản của biển với những món ăn tươi ngon vô cùng hấp dẫn như: cá khoai, cá đuổi, cá bóp, tôm hùm, cua biển, tôm tít nướng,… Vị bùi bùi, thơm thơm, lại đậm đà, bổ dưỡng đã khiến các món ăn hải sản nơi đây trở thành điễm nhấn nhá thú vị và để lại ấn tượng khó quên trong lòng du khách.

Đến với Hòn Khoai, ai cũng thích cảm giác đứng ở một nơi cao ngắm nhìn xung quanh. Vì khi ấy, tầm mắt chúng ta có thể bao quát mọi vạn vật xung quanh, thấy được những cảnh sắc tuyệt vời.

Tham khảo văn mẫu ☔ Thuyết Minh Về Hòn Chồng Nha Trang ☔ 11 Bài Giới Thiệu Hay

Hòn Khoai (tỉnh Cà Mau) là quần đảo hoang sơ đẹp nhất vùng cực Nam của Tổ quốc.

Đảo Hòn Khoai có diện tích khoảng 4km2, thuộc xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển (Cà Mau), cách đất liền 14,6km. Hòn Khoai được ví như trạm tiền tiêu canh giữ vùng trời, vùng đất phía Tây Nam Tổ quốc. Khác với Thổ Chu, Phú Quốc, có lẽ do nằm gần đất liền, lại ảnh hưởng của dòng chảy nên vùng biển quanh đảo Hòn Khoai đục màu phù sa. Trước kia, Hòn Khoai từng có nhiều tên gọi như: hòn Độc Lập, đảo Giáng Tiên. Riêng người dân địa phương thì quen gọi là Hòn Khoai vì hình dáng đảo nhìn xa xa nom như một củ khoai khổng lồ.

Đỉnh hòn cao 318 m so với mặt nước biển, xung quanh có Hòn Lớn, Hòn Nhỏ, Hòn Tượng, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi, tạo thành quần đảo Hòn Khoai nhấp nhô giữa biển. Phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, lôi cuốn. Hòn Khoai là đảo đá, đồi và rừng nguyên sinh, thuộc hệ sinh thái rừng nhiệt đới hải đảo. Hệ thực vật phong phú với hơn 1.400 loài cây, trong đó có cây ăn quả, cây làm thuốc, cây lấy gỗ. Đặc biệt, khi mùa xuân về, hoa mai vàng nở rộ trên đảo.

Hòn Khoai có hệ động vật đa dạng, là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật hoang dã như lợn rừng, kỳ đà, trăn, rắn, các loài chim và hải sản. Biển ở đây sạch, là nơi rất thuận tiện để tàu ngư dân neo đậu, tránh bão. Trên đảo có 2 bãi biển, gồm Bãi Lớn ở phía đông nam và Bãi Nhỏ ở phía bắc.

Đảo Hòn Khoai có ngọn hải đăng được xây dựng từ năm 1920, có công suất chiếu sáng trong bán kính 35 km. Đây là một trong những ngọn hải đăng có mặt sớm nhất tại hải phận Việt Nam và hiện là điểm tham quan khám phá của nhiều du khách khi đến Cà Mau. Đảo Hòn Khoai còn nổi tiếng là nơi ghi dấu cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai năm 1940, và địa danh này đã được công nhận Di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1990.

Có rất nhiều điều thú vị ở phía trước, quan trọng là chúng ta có muốn khám phá trải nghiệm nó không. Nếu bạn là một người thích thay đổi thích mới lạ thì hãy xách ba lô lên và đi đến Đảo Hòn Khoai ngay thôi.

Tiếp theo, mời bạn xem nhiều hơn 🌹 Thuyết Minh Về Bãi Biển Sa Huỳnh 🌹 10 Bài Giới Thiệu Hay

Bài văn giới thiệu về Hòn Khoai chọn lọc sẽ là một trong những tài liệu tham khảo hữu ích cho các em học sinh.

Cách đất liền 14,5km hướng phía Nam xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau là Đảo Hòn Khoai xinh đẹp. Muốn ra đây phải di chuyển đến làng chài Trần Đế rồi từ đó lên thuyền hoặc ca nô ra đảo. Ngày trước nó còn có tên là đảo Giáng Hương và nhiều tên khác nhưng đến nay chỉ có một tên gọi chính thống nhất là Hòn Khoai. Dù tổng diện tích chỉ khoảng 4km, một mình đứng giữa biển khơi bao la nhưng Hòn Khoai lại có vị trí quân sự vô cùng quan trọng bảo vệ vùng biển, vùng trời, vùng đất dải Tây Nam tổ quốc. Bên cạnh đó còn có một hệ sinh thái đa dạng nên Đảo Hòn Khoai cũng là địa điểm du lịch lý tưởng.

Hòn Khoai là một quần đảo gồm nhiều đảo nhỏ: Hòn Lớn, Hòn Nhỏ, Hòn Tượng, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi. Qua qúa trình kiến tạo địa chất và sự sắp đặt ngẫu nhiên của tự nhiên, những đảo nhỏ kết nối với nhau tạo hình một củ khoai không lồ giữa biển. Ngoài ra, người dân nơi đây cũng truyền nhau một câu chuyện khác gắn liền với lịch sử Đảo Hòn Khoai. Ngày trước, cha ông đi khai phá đảo đã mang theo nhiều hạt giống cây trồng từ đất liền để sinh sống, đến nay vẫn còn sót lại nhiều gốc khoai mì, khoai mỡ tự nhiên. Lí do nào cũng đều có cơ sở, vì thế ngư dân thuận tên gọi đảo là Hòn Khoai cho đến giờ.

Ít có quần đảo nào lại được thiên nhiên ưu đãi như Hòn Khoai. Bởi đảo đây kết hợp nhiều dạng địa hình vừa đá vừa đồi vừa có rừng. Địa hình đá tạo điều kiện hình thành hai bãi biển đẹp, kín gió. Đồi thuận lợi cho việc trồng trọt nên chúng ta dễ dàng bắt gặp nhiều loại cây ăn quả thơm ngon: nào xoài nào dừa nào thơm mang hương vị đặc trưng của biển đảo. Nhưng đặc biệt hơn cả vẫn là hệ sinh thái rừng nhiệt đới hải đảo mà thiên nhiên đã ban tặng cho Hòn Khoai.

Cả một khu rừng nguyên sinh rộng lớn với hệ sinh thái đa dạng, thảm thực vật phong phú, động vật hoang dã quý hiếm. Những loại gỗ quý như sao, lim, bằng lăng, rè vàng, … to cả trăm năm tuổi đến nhiều giống thuốc quý hay thú rừng như heo rừng, kỳ đà, sóc đen… sinh sống sẽ mang lại cho chúng ta từ bất ngờ này đến bất ngờ.

Mùa nào thức ấy, mùa nào sắc ấy; xuân hạ thu đông đi qua lại khoác màu áo mới cho khu rừng. Có khi là hoa mai rừng nở vàng báo hiệu xuân sang, có khi là hoa bằng lăng tím đón hè về, hay nhuộm vàng thẫm cả một vạt rừng đón thu đến. Một khái niệm hòa mình vào thiên nhiên đúng nghĩa khi du khách được thả mình trên bãi cát trắng mịn, được thám hiểm leo rừng, lội suối khám phá rừng già. Chỉ cần đánh giá sơ bộ cảnh quan thiên nhiên đã đủ thấy có biết bao niềm vui, điều mới lạ đang chào đón họ phía trước.

Cho nên, sau khi tắm biển, lội rừng rồi hãy thả lỏng thư giãn trên ngọn hải đăng cổ kính. Gần 100 năm đi qua, kiến trúc Pháp vẫn kiên định với thời gian, chiếu sáng cho tàu thuyền đi lại quanh khu vực biển Cần Giờ – Côn Đảo – Hòn Khoai – Phú Quốc. Đặt chân lên đây chúng ta gặp được các anh bộ đội biên phòng vui tính dễ thương, được xem lại những thước phim hào hùng về cuộc nổi dậy chống quân xâm lược của nhà chiến sỹ cách mạng Phan Ngọc Hiển trên Đảo Hòn Khoai; và dĩ nhiên tất cả sẽ là những kỉ niệm khó phai trong đời.

Những du khách đến với đảo không chỉ thưởng thức cảnh đẹp hoang sơ mà cũng kịp ghi lại cho mình những bức ảnh đẹp.

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Sừng sững giữa biển khơi, Hòn Khoai như một trạm tiền tiêu canh giữ vùng trời, vùng biển và dải đất phía Tây – Nam của Tổ quốc. Hòn Khoai, với những chứng tích lịch sử, những cảnh sắc kỳ thú của biển trời, núi đồi, rừng cây và vẻ đẹp thơ mộng của các hòn đảo mà thiên nhiên hào phóng ban tặng đã làm say mê lòng người.

Hòn Khoai có diện tích khoảng 4 km2, nằm ở phía Đông – Nam Mũi Cà Mau, cách đất liền (nơi gần nhất) 14,6 km, thuộc xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển. Đỉnh hòn cao 318 m so với mặt nước biển. Hòn Khoai còn mang nhiều tên khác nhau như: Đảo Giáng Tiên, Hòn Độc Lập. Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp còn đặt tên Poulop. Riêng người dân địa phương còn gọi là Hòn Khoai vì hình dạng của nó trông giống như một củ khoai khổng lồ. Có nhiều tài liệu kể lại rằng, cách nay đã lâu, nhiều người từ đất liền ra đây làm rẫy và trồng cây ăn trái. Đến nay, thỉnh thoảng vẫn còn những bụi khoai mì, khoai mỡ… Có lẽ vì vậy mà nó mang tên Hòn Khoai!

Xung quanh hòn còn có các hòn nhỏ khác như Hòn Lớn, Hòn Nhỏ, Hòn Tượng, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi. Hòn Khoai có 2 bãi cát, gồm Bãi Lớn ở phía Đông – Nam và Bãi Nhỏ ở phía Bắc. Đường đi lại trên đảo có một con đường chính từ Bãi Lớn đến đỉnh hòn, dài khoảng 3 km đã được trải nhựa từ thời kỳ thực dân Pháp chiếm đóng.

Đường đi quanh đảo có nhiều vực dốc, với những viên đá nằm ngổn ngang, chồng chất lên nhau chạy dài khắp bãi. Trên đảo có nhiều con suối. Trong đó, có 2 con suối lớn nước ngọt chảy quanh năm, là nguồn cung cấp nước cho đảo, cho tàu đánh cá quanh khu vực và cư dân vùng Rạch Gốc, Tân Ân.

Đảo Hòn khoai nổi tiếng với khu rừng nguyên sinh, thuộc hệ sinh thái rừng nhiệt đới hải đảo. Trong đó, hệ thực vật rất phong phú, với hơn 1.400 loài và có nhiều loại cây có giá trị kinh tế rất cao. Cây ăn trái gồm xoài, dừa… Cây lấy gỗ gồm lim, bằng lăng, chiêu liêu, dầu rái, muỗng, quế quan, rè vàng, thị rừng, trám mạo, trâm trắng… Cây làm thuốc có cốt toái bổ lá lớn, cốt toái bổ lá nhỏ, dây tiết dê, huyết rồng, khoai mài, ngũ gia bì, quế quan, sầu đâu, thần thông, thiên kim đằng, thiên niên kiện…

Rừng Hòn Khoai góp phần bảo vệ, cân bằng sinh thái. Dưới tán rừng là nơi sinh sống, trú ngụ của nhiều loài động vật hoang dã như heo rừng, kỳ đà, trăn, rắn… Tại những khu rừng già, du khách còn có thể bắt gặp những chú sóc đen chuyền trên cành cây hay những đàn khỉ đang nô đùa cùng du khách. Trên đảo có rất nhiều hoa vong đỏ, bằng lăng tím. Đặc biệt, khi mùa xuân về, hoa mai nở vàng trên các cánh rừng trên đảo.

Hòn Khoai có bờ biển sạch, kín gió, là nơi neo đậu, trú bão cho nhiều phương tiện khai thác thủy sản trên biển và là nơi sinh sản, trú ẩn của nhiều loài sinh vật biển. Từ những loài sinh vật phù du nhỏ bé cho đến những loài tôm, cá có giá trị kinh tế cao như mực, tôm hùm, tôm tít, cá mú, cá bốp… Biển Hòn Khoai với những bãi cát rộng. Khi nước triều xuống, biển lặng, sóng yên du khách có thể đi bộ trên Bãi Lớn, Bãi Nhỏ để tìm hiểu sự sống của các loài sinh vật biển và hít thở cái không khí trong lành của rừng, của biển.

Sau những lần xuyên rừng đi du lịch sinh thái, khi lên đến đỉnh hòn (cao 318 mét so với mặt nước biển) du khách có thể dừng chân viếng thăm tháp hải đăng do thực dân pháp xây dựng vào năm 1920. Ngọn hải đăng có hình khối vuông, mỗi cạnh dài 4 mét, cao 12,5 mét, được xây bằng đá hộc và ximăng, công suất quét sáng bán kính 35 km.

Tháp hải đăng Hòn Khoai là một trong những công trình đèn biển có mặt sớm nhất tại hải phận Việt Nam. Dù đã tồn tại gần 100 năm nhưng kiến trúc của nó vẫn còn khá nguyên vẹn. Đây là một trong những ngọn hải đăng nằm trong hệ thống đèn biển Cần Giờ – Côn Đảo – Hòn Khoai – Phú Quốc để chiếu sáng cho tàu biển đi lại trên biển Đông.

Tại tháp hải đăng này, ngày 13/12/1940, thầy giáo, chiến sĩ cách mạng Phan Ngọc Hiển lãnh đạo quân nổi dậy khởi nghĩa Hòn Khoai giành thắng lợi, ghi mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Ngày khởi nghĩa Hòn khoai (13/12/1940) được chọn làm Ngày truyền thống cách mạng của Đảng bộ, quân và dân Cà Mau anh hùng. Ngày 27/4/1990, Hòn Khoai được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia.

Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, tỉnh Cà Mau coi trọng việc khai thác những tiềm năng và lợi thế mà thiên nhiên đã ban tặng. Chú trọng bảo tồn cảnh quan với những nét hoang sơ vốn có, khai thác tiềm năng du lịch sinh thái biển, đảo. Hòn Khoai đã trở thành bến cảng, khu neo đậu trú bão cho các phương tiện khai thác thủy sản trên biển. Chắc chắn trong một thời gian không xa Hòn Khoai sẽ gần hơn với du khách mọi miền đất nước và trở thành “hòn đảo ngọc” trên vùng biển phía Tây – Nam của Tổ quốc.

Đừng bỏ qua 🔥 Thuyết Minh Về Biển Vũng Tàu 🔥 14 Bài Giới Thiệu Hay Nhất

Tham khảo bài văn thuyết minh về Hòn Khoai đặc sắc và luyện tập cách diễn đạt sinh động, để lại nhiều ấn tượng với người đọc.

Đảo Hòn Khoai ở Cà Mau như một trạm tiền tiêu canh giữ vùng trời, vùng biển và dải đất phía Tây Nam của Tổ quốc. Nơi đây còn được biết đến với Di tích cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai và ngọn hải đăng gần 100 tuổi, cùng cảnh quan thiên nhiên đẹp hoang sơ, bờ biển xanh trong… lôi cuốn những bước chân khám phá.

Diện tích đảo Hòn Khoai chỉ khoảng 4 km2, nằm ở phía đông nam Mũi Cà Mau, thuộc xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển. Đỉnh hòn cao 318 m so với mặt nước biển, xung quanh còn có Hòn Lớn, Hòn Nhỏ, Hòn Tượng, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi, tạo thành quần đảo Hòn Khoai nhấp nhô giữa biển.

Trong lịch sử, Hòn Khoai có nhiều tên khác như: đảo Giáng Tiên, hòn Độc Lập, hay đảo Poulop đặt vào thời Pháp. Riêng người dân địa phương thì quen gọi là Hòn Khoai vì hình dáng giống như một củ khoai khổng lồ.

Nơi đây có thảm rừng nguyên sinh phủ dày, thuộc hệ sinh thái rừng nhiệt đới hải đảo. Dưới tán rừng trên đảo là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật hoang dã như heo rừng, kỳ đà, trăn, rắn… Vùng biển quanh đảo sạch trong, kín gió, là nơi neo đậu, tránh bão của nhiều tàu thuyền ngư dân, đây cũng là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển như mực, tôm hùm, tôm tít, cá mú, cá bốp…

Tại ngọn hải đăng trên đỉnh hòn Khoai, cuối năm 1940, thầy giáo, chiến sĩ cách mạng Phan Ngọc Hiển đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và giành thắng lợi, ghi mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Năm 1990, đảo Hòn Khoai Cà Mau đã được công nhận Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia.

Theo thông tin về đảo Hòn Khoai, hiện chưa có nhiều người dân sinh sống mà chủ yếu là các cán bộ, chiến sỹ Hải quân, lực lượng Biên phòng, kiểm lâm, với nhiệm vụ chính là cùng phối hợp đảm bảo an ninh, trật tự cho khu vực đảo, nhất là sẵn sàng cứu giúp ngư dân khi gặp nạn, giông bão… Trong quy hoạch, Khu du lịch sinh thái cụm đảo Hòn Khoai có quy mô khoảng 561ha, bao gồm diện tích rừng, khu vực quân sự, dịch vụ hàng hải và khu di tích lịch sử…

Tàu chở khách du lịch Hòn Khoai sẽ ghé Bãi Nhỏ, khách xuống thuyền con để vào bờ chừng 50m. Phía bên phải là một bãi đá trứng thật đẹp như có bàn tay ai đó sắp đặt. Bước lên bờ rợp bóng cây phong ba, phi lao vi vu theo gió. Phía trên là đồn biên phòng 700, dựa lưng sát vách núi, loáng thoáng bóng áo xanh của những người lính giữ đảo. Hạt kiểm lâm cũng nằm cạnh đó, thêm vài ba quán bán nước giải khát và hàng tạp hóa phục vụ nhu cầu cơ bản trên đảo.

Hành trình đầu tiên là lên đỉnh đảo, du khách sẽ vượt chặng đường khoảng 3km theo hình trôn ốc, với những đoạn dốc cao, lổn ngổn đá tảng lớn nhỏ, lác đác những thân cây cổ thụ to lớn đến vài người ôm không xuể… thi thoảng ngang qua những con suối nước trong veo… bắt gặp những chú sóc đen chuyền cành thoăn thoắt, hay đàn khỉ nháo nhác tò mò, cùng tiếng chim hót líu lo như đón chào khách đến thăm…

Tới đỉnh, du khách sẽ thấy ngọn hải đăng vươn cao trên nền trời thăm thẳm, kề bên có bia ghi sơ lược cuộc khởi nghĩa năm xưa, cùng mấy dãy nhà xây từ thời Pháp thuộc, nay chơ vơ hoang phế, chung quanh là nhiều cây xoài, mít, trái sai oằn, cùng những luống cải, rau xanh tươi mơn mởn…

Trở xuống núi, bạn có thể vòng qua phía Đông tiếp tục khám phá đảo Hòn Khoai. Men theo con đường nhựa thoai thoải, đi giữa những tán cây rừng rợp mát, sẽ dẫn bước bạn đến Bãi Lớn với bờ biển trong xanh, sóng lăn tăn vỗ về… trên là rừng cây, đá núi, đan xen hài hòa với nhau, tạo nên cảnh đẹp hoang sơ.

Sau chuyến du ngoạn khắp đảo, sẽ thêm trọn vẹn nếu bạn thưởng thức các món hải sản tươi rói ngay trên bờ biển, giữa không gian sóng biển rì rào… Trong tương lai không xa, đảo Hòn Khoai sẽ gần hơn với du khách và trở thành “hòn đảo ngọc” trên vùng biển phía Tây Nam của Tổ quốc.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Thuyết Minh Về Biển Cửa Lò ☀️ 15 Bài Giới Thiệu Hay Nhất

Bài văn mẫu thuyết minh về Hòn Khoai học sinh giỏi sẽ giúp các em học sinh nắm vững phương pháp thuyết minh và hoàn thành tốt bài văn của mình.

Hòn Khoai là tên một cụm đảo, nằm cách đất liền khoảng 20km, thuộc Thị trấn Năm Căn, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Được đánh giá là một trong những hòn đảo đẹp nhất miền cực nam của Tổ quốc với không khí trong lành, bãi biển xanh trong cùng khu rừng nguyên sinh… Hòn Khoai còn được nhắc đến với di tích cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Thầy giáo Phạm Ngọc Hiển và Ngọn Hải đăng hơn 100 tuổi trên đảo. Tất cả đã tạo cho Hòn Khoai một sức hút hấp dẫn khách du lịch…

Hòn Khoai được biết đến là một quần đảo bao gồm 5 hòn đảo sát nhau: Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi, Hòn Đá Lẻ, Hòn Tương với tổng diện tích hơn 4 km2. Trong đó đảo cao nhất có độ cao 318m. Hòn Khoai trước đó còn có tên là Giáng Hương hay hòn Độc Lập, thời Pháp thuộc gọi là đảo Poulo Obi… còn người dân địa phương vẫn gọi là Hòn Khoai vì hình dạng của nó trông giống như một củ khoai khổng lồ…

Ngoài những bãi cát đẹp, bãi biển Hòn Khoai còn có những bãi đá với những viên đá tròn như những quả trứng khổng lồ nằm tĩnh lẵng trước những đợt sóng biển. Để lên tới những đỉnh đồi trên đảo, du khách phải đi hai chặng qua những con đường đất và leo dốc núi, xẻ rừng xuyên qua những khóm hoa rừng, những cây cổ thụ hay thảm rừng nguyên sinh, xung quanh là tiếng chim hót líu lo…

Đảo Hòn Khoai có một hệ thống rừng nguyên sinh, trong đó có nhiều loài thực vật phong phú. Mới đây, các Đoàn khảo sát đã ra và thống kê trên đảo có hơn 1.400 loại thực vật có thể làm thuốc, ngoài ra nhiều loại động vật như rắn, sóc, kỳ đà, chim… Do vậy Hòn Khoai mang một giá trị rất lớn về Hệ động thực vật. Hòn Khoai mang vẻ đẹp của một rừng nguyên sinh, khí hậu rất trong lành, rất tốt cho việc nghỉ dưỡng, du lịch.

Trên đỉnh cao nhất của Hòn Khoai, hiện nay vẫn còn một cây hải đăng do người Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ 19 và là một vị trí đèn biển quan trọng ở biển Tây Nam và vịnh Thái Lan. Riêng ở đỉnh cao nhất của Hòn Khoai, tại độ cao 318m, năm 1920, người Pháp cho xây dựng ngọn hải đăng mà cho đến nay kiến trúc này vẫn còn khá nguyên vẹn. Ngọn hải đăng có hình khối vuông, được xây bằng đá xanh và xi măng. Tháp hải đăng Hòn Khoai được xem là một trong những công trình đèn biển có mặt sớm nhất tại hải phận Việt Nam.

Trạm hải Đăng Hòn Khoai và Trạm Kiểm lâm Hòn Khoai với nhiệm vụ chính là phối hợp với nhau để đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên biển và trong khu vực đảo, nhất là sẵn sàng cứu giúp ngư dân đi đánh bắt hải sản xa bờ gặp nạn, giông bão để trú ẩn…

Trạm Hải đăng do người Pháp xây dựng và gắn liền với chiến công lịch sử của Liệt sỹ Phan Ngọc Hiển và tỉnh Cà Mau. Diện tích của ngọn Hải Đăng gần 400m2, độ cao của ngọn hải đăng là 318m so với mặt biển, độ cao của tháo là gần 15m. Đứng trên ngọn hai đăng có thể nhìn được xa hơn 40 hải lý và bao quát được một khung cảnh rất đẹp của biển.

Ngoài khám phá thiên nhiên, thăm quan các di tích lịch sử trên đảo, du khách đến với Hòn Khoai còn được thưởng thức các đặc sản của biển ngày trên bờ biển hoặc trên những bãi cỏ giữa rừng, nơi có những tán cây cổ thụ, nghe tiếng chim, tiếng sóng biển rì rào…

Hy vọng rằng với đặc điểm khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp, có rừng, có biển, Hòn Khoai sẽ là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước trong tương lai.

Tìm hiểu hướng dẫn 🔥 Kiếm Thẻ Cào Miễn Phí 🔥 Kiếm Tiền Online Kiếm Thẻ Cào

Bài văn thuyết minh về Hòn Khoai sinh động sẽ giúp các em học sinh tham khảo cách xây dựng những ý văn giàu hình ảnh và giàu ý nghĩa biểu đạt.

Hòn Khoai là tên một cụm đảo nằm ở phía đông nam mũi Cà Mau thuộc xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Hòn Khoai cách đất liền ở cửa Rạch Gốc chừng 25 km, ở bãi Khai Long cận mũi Cà Mau khoảng 14 km. Nơi đây được ví như một trạm tiền tiêu canh giữ vùng trời, vùng biển và dải đất phía tây nam của Tổ quốc.

Từ cửa Rạch Gốc, du khách lên tàu đánh cá ra Hòn Khoai. Biển mênh mông, sáng đẹp kỳ vĩ. Tàu xé nước phăm phăm hướng về Hòn Khoai. Phía đất liền chỉ còn thấy những dải rừng đước xanh đen, sừng sững như bức tường thành chắn biển. Hòn Đồi Mồi, Hòn Tượng, Hòn Sao hiện lên rõ dần… rồi đến Hòn Khoai. Đá núi hàng triệu năm bị sóng biển đánh mòn khuyết dưới chân, tạo thành những hình dáng kỳ vĩ, lạ lùng. Hòn Tượng trông giống như một con voi khổng lồ chìm nửa thân dưới biển.

Tàu ghé bãi Nhỏ ở phía tây nam đảo. Bãi cạn, tàu không cặp sát bến được, khách phải xuống thuyền con để vào bờ cách đó chừng 40 m. Phía bên phải của bến là một bãi đá trứng thật đẹp như có bàn tay ai sắp đặt. Bước lên bờ rợp bóng cây phong ba, phi lao. Đồn Biên phòng 700 dựa lưng sát vách núi; Hạt Kiểm lâm Hòn Khoai cũng nằm cạnh đó. Có vài quán bán nước giải khát và hàng tạp hóa lặt vặt phục vụ “dân” trên đảo.

Thực ra trên Hòn Khoai không có dân cư. Hải quân đóng ở Bãi Lớn, phía đông đảo. Một tổ công tác của Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải trông coi ngọn đèn biển ở vị trí 8,25,36 độ vĩ bắc, 104,50,06 độ kinh đông, trên đỉnh cao 317,5 m.

Du khách bắt đầu leo đường núi đi lên ngọn hải đăng trên đỉnh Hòn Khoai. Con đường xuyên rừng khá hiểm trở với những dốc dựng đứng, lổn nhổn đá trứng, đá tảng lớn nhỏ với đất thịt pha cát màu vàng cam. Đất, đá gốc thủy tra thạch trầm tích được nâng lên khỏi mặt biển ở thời kỳ tạo sơn, lộn xộn như xà bần. Ấy vậy mà cây cối xanh tốt, mạnh mẽ lạ thường.

Có rất nhiều bằng lăng (thao lao) cổ thụ; sao, dầu, muỗng, ràng vàng (lim) rải rác khắp nơi dọc triền núi. Tiếng chim hót líu lo, ríu rít trên những cây trâm rừng có những chùm trái chín mọng, đen sẫm. Phảng phất hương ngọc lan tỏa bàng bạc giữa núi rừng. Thỉnh thoảng du khách sẽ bắt gặp những con lạch, suối nhỏ, nước trong veo soi rõ mặt người.

Đường lên ngọn hải đăng quanh co, uốn lượn, dài non 3 km nhưng phải đi gần hai giờ mới tới. Hải đăng Hòn Khoai có máy phát điện chạy dầu; còn có dàn pa-nen hấp thu năng lượng mặt trời chuyển hóa thành điện năng phục vụ thắp sáng, xem ti vi, đun nước… Đèn biển Hòn Khoai nằm trong hệ thống hải đăng Cần Giờ – Côn Đảo – Phú Quốc, được người Pháp xây dựng năm 1939, đến nay đã được nâng cấp, sửa chữa với nhà cửa khang trang, trang thiết bị hiện đại. Hải đăng cao 15,7 m, mỗi cạnh 4 m, xây bằng đá hộc, bên trong có thang xoắn, đèn pha sáng tới 35 hải lý.

Trên đỉnh Hòn Khoai, cạnh ngọn hải đăng, có bia ghi sơ lược cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai của nhà giáo Phan Ngọc Hiển và các đồng chí của ông (13-12-1940). Mấy dãy nhà đá xây từ đời Pháp thuộc đứng chơ vơ, hoang phế như là chứng tích của thời gian. Trở xuống núi, đi vòng qua phía đông Hòn Khoai theo con đường nhựa thoai thoải, giữa những tán cây rừng rậm rạp, đan xen. Bãi Lớn hiện ra như một Nha Trang thu nhỏ. Biển trong xanh, xa xa sóng gợn lăn tăn, lấp lánh. Hòn Đồi Mồi, Hòn Sao xanh mơ, mượt mà. Tàu đánh cá nhấp nhô lướt sóng, gió rì rào thổi liu riu vào vịnh.

Biển, rừng cây, đá núi đan xen hài hòa với nhau, tươi đẹp, thơ mộng và hoang sơ. Bãi Lớn cát trắng mịn, thoai thoải. Du khách có thể đi tắt lên núi để về Bãi Nhỏ. Nhân viên kiểm lâm nơi đây cho biết, trong rừng nguyên sinh của Hòn Khoai có rất nhiều cây thuốc quý như: cốt toái, huyết rồng, linh chi, ngũ triều, kỳ hương, quế quan, thần thông, hà thủ ô, thiên niên kiện…

Động vật sống trên đảo thường gặp là: kỳ đà, trăn hoa, rắn mái gầm, sóc bụng xám. Ngành lâm nghiệp đã thống kê có trên 220 loài thực vật bậc cao sống ở Hòn Khoai, thuộc 78 họ… Diện tích Hòn Khoai chỉ có 561 ha nhưng động thực vật rất phong phú. Nước ngọt trên Hòn Khoai có quanh năm. Vào mùa khô, dân ven biển Cà Mau và các tàu đánh cá thường ghé Hòn Khoai lấy nước…

Đi để biết thế giới bên ngoài rộng lớn đến nhường nào, để ngắm nhìn cuộc sống mọi thứ xung quanh ta và đi để thỏa chí ẩm thực. Hòn Khoai không có gì ngoài hải sản nhưng tất cả những thứ này đều là tài nguyên biển phú nên đây là cơ hội có một không hai trên đời. Ngư dân sẽ thiết đãi bạn những con tôm hùm béo múp, mực trứng béo ngậy, những chú cá mú, cá mốp chắc thịt. Hoặc chỉ bạn cách sống của một ngư dân chài cá, câu mực, chèo thuyền mủng,..

Mời bạn đón đọc 🌜 Thuyết Minh Về Đảo Phú Quốc 🌜 16 Bài Giới Thiệu Phú Quốc

Bài văn thuyết minh về Hòn Khoai chi tiết nhất sẽ cung cấp cho bạn đọc những thông tin phong phú giới thiệu về thiên nhiên và lịch sử của hòn đảo nằm ngoài khơi tỉnh Cà Mau.

Đến đây, chúng ta sẽ được tham quan và đắm chìm trong khung cảnh hoang sơ của núi rừng, mênh mông của biển lớn. Khác với vùng núi phía Bắc đẹp bởi những cung đường quanh co uốn lượn hùng vĩ, núi non trùng điệp, những dòng sông lững lờ, những tầng mây mờ ảo nhưng thiếu nữ có nụ cười thiên thần. Thì những đảo phía Nam có vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết, nguyên bản đến tận cùng.

Đảo có hai bãi biển, một bãi lớn nằm ở phía Đông Nam và một bãi nhỏ nằm ở phía Bắc. Bờ biển sạch, kín gió, là nơi neo đậu, trú bão cho tàu thuyền khai thác thủy sản. Điều đặc biệt là trên đảo có hai dòng suối, quanh năm cho nước ngọt cung cấp cho các đơn vị trên đảo và ngư dân đánh bắt quanh vùng. Người ta kể rằng, vì xưa tiên xuống dòng suối ngọt này tắm nên đảo từ đó còn có tên là Giáng Tiên. Xen lẫn giữa thiên nhiên nguyên sơ là những kiến trúc văn hóa tây phương gần trăm năm tuổi. Trải qua một thời gian dài lịch sử Hải đăng Hòn Khoai vẫn kiên định sánh bước cùng năm tháng chiếu sáng cho tàu thuyền qua lại.

Theo cầu thang lên ngọn Hải đăng mở ra một không gian xanh biếc, mây trời gió lộng. Phóng tầm mắt ra xa hướng về đất mũi để chiêm ngưỡng từ xa mũi đất thiêng liêng tận cùng của tổ quốc từ kính viễn vọng một cảm xúc ùa về khó tả đến vô cùng. Những dải núi đá, những tán cây cổ thụ xanh mướt xen lẫn là các khe suối nước chảy quanh năm. Những người lính ngày đêm giữ yên biên giới trên biển của tổ quốc. Những ngư dân cặm cụi mưu sinh kiếm sống, người quăng chài, người câu cá, người kéo lưới lênh đênh trên những chiếc thuyền cho ta một khung cảnh sinh động đầy sức sống.

Từ Trạm Rada 595 có thể quan sát một vùng xung quanh đảo Hòn Khoai, gồm các hòn nhỏ khác như Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi, Hòn Đá Lẻ và Hòn Tượng. Nhìn từ trên cao, Hòn Tượng trong giống như một chú voi khổng lồ đang dằm mình dưới biển; hòn Đồi Mồi, hòn Sao thì xanh mơ, mượt mà nguyên những nét hoang sơ, mộc mạc của hoang đảo với bãi cát trắng dài mịn. Từng dải sóng vỗ vào bờ đảo tung bọt trắng xoá.

Khi hoàng hôn dần buông xuống, Hòn khoai trở nên trầm mặc, nguyên sơ bởi những con đường, những tán cây, bãi đá dần chìm vào màn đêm huyền bí xứ Tây Nam. Mùi cá nướng bên bếp than hồng đưa du khách đến những cơn đói cồn cào, bụng sôi sùng sục, lai rai cùng ngư dân (vào bờ lấy nước suối) chút men nồng miền tây, thưởng thức cá khoai, cá bớp, tôm hùm, tôm tít nướng… Sản vật vùng biển trù phú phía Nam của Tổ quốc cho ta cảm giác quên đi chính mình, thú cùng thiên nhiên, thư thái, tư tại vô cùng. Hương vị thơm ngon, bổ dưỡng đã khiến các món ăn hải sản nơi đây trở thành điểm nhấn thú vị và để lại ấn tượng khó quên trong lòng du khách.

Với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, hoang sơ, khí hậu mát mẻ cùng những món ăn độc đáo, Hòn Khoai đang là điểm đến lý tưởng dành cho những du khách thích khám phá, là địa điểm nghỉ dưỡng hấp dẫn giúp du khách có thể xua tan những mệt mỏi và ồn ào của cuộc sống.

Gợi ý cho bạn ☘ Thuyết Minh Về Bãi Biển Sầm Sơn ☘ 15 Bài Giới Thiệu Hay

Bài văn thuyết minh về Hòn Khoai luyện viết không chỉ giúp các em học sinh nâng cao kỹ năng diễn đạt mà còn có thêm những ý văn phong phú.

Trên bản đồ Việt Nam, Hòn Khoai chỉ là một chấm rất nhỏ của biển Đông, có vị trí địa lý giới hạn từ 824’30” đến 827’30” vĩ độ Bắc và 10448’50” đến 10452’30” kinh độ Đông. Thực tế, đó là danh thắng đẹp của Việt Nam, chỉ cách Mũi Cà Mau chưa tới 15km. Cách nay 15 năm, hòn đảo xinh đẹp có tổng diện tích 5 km2 này đã được công nhận là di tích, thắng cảnh cấp Quốc gia. Người dân Cà Mau tự hào về Hòn Khoai vì nơi đây từng ghi nên dấu son, góp vào những trang sử vẻ vang của dân tộc. Nay Hòn Khoai đang được chính quyền địa phương quy hoạch phát triển du lịch để khách thập phương biết đến…

Trước kia, Hòn Khoai có tên là hòn Giáng Hương, hòn Độc Lập. Tới khi Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược, Hòn Khoai có tên gọi là đảo Poulo Obi. Tuy nhiên, người địa phương vẫn quen gọi là Hòn Khoai đơn giản chỉ vì nhìn từ trên cao, hòn đảo này có hình dạng giống hệt như củ khoai khổng lồ.

Để leo lên Hòn Khoai – hòn lớn nhất của cụm đảo Hòn Khoai, du khách phải theo con đường hình trôn ốc. Vất vả nhưng nhờ vậy mà cảm nhận ra bao điều độc nhất vô nhị ở đây. Nhiều cây ăn trái như mít, xoài do sống lâu năm nên đã thành cổ thụ; hoa rừng và có cả hoa mai vàng mọc lên từ các hốc đá. Rồi bất chợt, có tiếng nước chảy róc rách từ khe đá; tiếng chim hót thánh thót. Thật chẳng phải là quá lời khi có du khách gọi đây là “chốn thần tiên ngoài biển cả”.

Có số liệu thống kê rằng, Hòn Khoai hiện có trên 221 loài thực vật bậc cao, thuộc 78 họ đang sinh sống. Nhiều ngư dân vùng Rẫy Chệc, Rạch Tàu, Rạch Gốc thì thích nhất dòng nước ngọt trời ban ở Hòn Khoai nên cứ mỗi khi mùa khô đến, họ đem tàu ra đây để lấy về sử dụng.

Rời Đồn Biên phòng 700 tựa lưng sát vách núi, sẽ đến với chặng đường khoảng 3km để leo lên chân ngọn Hải Đăng nằm ở độ cao 318m được người Pháp xây dựng từ cách nay gần 90 năm. Ngọn Hải Đăng có hình khối vuông, mỗi cạnh dài 4m, cao 15,7m, được xây bằng đá hộc và xi măng. Trước đây ngọn Hải Đăng này sử dụng bầu đèn chạy bằng dây cót nhưng nay được thay thế bằng bầu đèn hiện đại quay từ trường qua kính hội tụ có độ chiếu sáng xa đến 35 hải lý.

Ra Hòn Khoai, Phan Ngọc Hiển mở lớp dạy học. Không bao lâu, anh đã tuyên truyền, giáo dục cảm hóa hầu hết quần chúng và tất cả anh em làm việc phục vụ Hải Đăng trên đảo, sẵn sàng hành động theo Đảng. Thời điểm này, trên đảo, lực lượng địch có tên “chúa đảo” Olivier, phó đảo Rocker và 8 nhân viên người Việt. Ngày 20/11/1940, lệnh khởi nghĩa của Thường vụ Xứ ủy được ban hành, Hòn Khoai được chọn làm điểm đột phá mở đầu cho cuộc khởi nghĩa. Vào lúc 21h ngày 13/12/1940, đồng chí Phan Ngọc Hiển và đồng đội thực hiện nhiệm vụ của Tỉnh ủy giao khởi nghĩa Hòn Khoai đã giành thắng lợi, giết tên sếp đảo Olivier, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.

Đảo Hòn Khảo với một sinh thái nguyên sơ và đa dạng hứa hẹn sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm tuyệt vời với các sản phẩm du lịch phong phú và độc đáo

SCR.VN tặng bạn 💧 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí 💧 Kiếm Thẻ Cào Free

Bài văn thuyết minh về Hòn Khoai ngắn hay sẽ giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập để chuẩn bị tốt cho bài kiểm tra trên lớp.

Đảo Hòn Khoai thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, nằm cách đất liền 14,6km, còn có tên gọi khác là Hòn Giáng Tiên, Hòn Giáng Hương hay Hòn Độc Lập.

Hòn Khoai là một cụm đảo nhỏ gồm các đảo Hòn Khoai, Hòn Tương, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi và Hòn Đá Lẻ, trong đó Hòn Khoai là đảo lớn nhất với diện tích 4,2km2. Đây là một trong những hòn đảo đẹp nhất cực Nam Tổ quốc. Thời Pháp thuộc, người Pháp đặt tên là đảo Poulob – Obi. Hòn Khoai là tên gọi dân gian của đảo. Tên gọi này được giải thích theo hai cách, trên đảo có nhiều khoai và đảo có hình dáng củ khoai.

Đất ở trên đảo là thứ đất feralit màu đỏ vàng và vàng đỏ phát triển trên đá granit. Rừng nguyên sinh trên đảo đa dạng, phong phú với hơn 1.000 loài thực vật và hàng trăm loài động vật. Thực vật ở Hòn Khoai khá phong phú với các loại cây rừng nhiệt đới và có cả các loại cây rừng ngập mặn, có giá trị kinh tế rất cao. Cây ăn trái có xoài, quýt, dừa… Cây làm thuốc có quyết rồng, khoai mài, ngũ gia bì, quế quan…Cây lấy gỗ có bằng lăng, chiêu liêu, dầu rái, muỗng, lim, trám mạo, trâm trắng…

Hệ thực vật trên đảo có khoảng 221 loài bậc cao thuộc 78 họ tạo nên một thảm thực vật phong phú, đa dạng. Đặc biệt trong hệ thực vật của đảo còn ghi nhận được 10 loài mới ở Việt Nam. Hệ động vật trên đảo có 29 loài thuộc 18 họ, gồm bò sát 7 loài, chim 20 loài, thú 2 loài. Động vật rừng còn tồn tại một số loài có giá trị và có số lượng cá thể đáng chú ý là kỳ đà, rắn mai gầm, rắn ráo, trăn hoa, sóc bụng xám. Đặc biệt loài bản địa của đảo như sóc bụng xám, kỳ đà, trăn hoa… đã và đang phát triển rất mạnh về số lượng. Có thể nói, ở bất kỳ nơi nào trên đảo cũng có thể gặp chúng.

Các loài chim bay giỏi thuộc họ chim ưng, cắt, chim én, nhạn cũng có nhiều. Hòn Khoai có bãi biển rất nên thơ với rất nhiều đá cuội tròn như trứng ngỗng làm cho phong cảnh ở đây thật đẹp. Trên đỉnh cao nhất của Hòn Khoai có ngọn hải đăng do người Pháp xây dựng vào năm 1920. Ngọn hải đăng hình khối vuông mỗi cạnh dài 4m, cao 14,50m được xây bằng đá hộc và ximăng. Hải đăng Hòn Khoai được xem là một trong những công trình đèn biển có mặt sớm nhất tại hải phận Việt Nam. Từ trên ngọn hải đăng, du khách có thể chiêm ngưỡng mũi đất tận cùng của Tổ quốc.

Hòn Khoai không những là danh lam thắng cảnh của tỉnh Cà Mau mà còn là di tích cách mạng nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ. Tại đây, ngày 13/12/1940, người thầy giáo – chiến sỹ cách mạng Phan Ngọc Hiển đã chỉ huy nghĩa quân nổi dậy giết tên sếp đảo của thực dân Pháp, giành lại Hòn Khoai, ghi mốc son chói lọi trong lịch sử. Được biết năm 1990, Hòn Khoai được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia.

Trong chuyến du ngoạn khắp đảo, du khách sẽ được thưởng ngoạn không gian hoang sơ và kỳ vĩ với tiếng sóng biển rì rào… Có lẽ trong tương lai không xa, đảo Hòn Khoai sẽ đến gần hơn với du khách và có thể trở thành “hòn đảo ngọc” trên vùng biển phía Tây Nam của Tổ quốc.

Giới thiệu tuyển tập ☀️ Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử ☀️ 17 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Cụm đảo Hòn Khoai là một trong những cụm đảo xinh đẹp nhất của miền cực Nam Tổ quốc, với vẻ đẹp hoang sơ, bãi biển trong xanh, hệ sinh thái đa dạng, bảo tồn nhiều động, thực vật quý hiếm.

Đảo Hòn Khoai thuộc xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, nằm cách đất liền 14,6 km, còn có tên gọi khác là Hòn Giáng Tiên, Hòn Giáng Hương hay Hòn Độc Lập. Hòn Khoai được biết đến là một quần đảo bao gồm 5 hòn đảo sát nhau: Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi, Hòn Đá Lẻ, Hòn Tương với tổng diện tích hơn 4 km2. Trong đó đảo cao nhất có độ cao 318 m.

Đây là cụm đảo nằm ở vĩ độ thấp nhất so với phần đất liền và nằm giữa biển trên thềm lục địa nên khí hậu có tính chất nhiệt đới gió mùa cận xích đạo và tính hải dương: Nóng quanh năm, nền nhiệt cao (tổng lượng nhiệt trong năm hơn 9.000 oC với nhiệt độ không khí trung bình năm là 26,7 oC) rất ít thay đổi trong ngày và trong năm; Lượng mưa khá nhiều (trung bình năm đạt 2.078 mm) và phân hóa theo 2 mùa rõ rệt.

Hòn Khoai là đảo đá, đồi và rừng còn gần như nguyên vẹn với nhiều loại gỗ quý, động thực vật phong phú, phong cảnh thiên nhiên hoang dã. Rừng nguyên sinh trên đảo đa dạng, phong phú với hơn 1.000 loài thực vật và hàng trăm loài động vật. Hải đăng Hòn Khoai là một trong những công trình đèn biển có mặt sớm nhất tại hải phận Việt Nam, dù đã gần 100 năm nhưng kiến trúc vẫn còn nguyên vẹn, và nằm trong hệ thống đèn biển Cần Giờ – Côn Đảo – Hòn Khoai – Phú Quốc, chiếu sáng cho tàu thuyền qua lại trên biển.

Trong đó, hệ thực vật rất phong phú, với hơn 1.400 loài: Cây ăn trái gồm xoài, dừa… Cây lấy gỗ gồm lim, bằng lăng, chiêu liêu, dầu rái, muỗng, quế quan, rè vàng, thị rừng, trám mạo, trâm trắng… Cây làm thuốc có cốt toái bổ lá lớn, cốt toái bổ lá nhỏ, dây tiết dê, huyết rồng, khoai mài, ngũ gia bì, quế quan, sầu đâu, thần thông, thiên kim đằng,… Dưới tán rừng trên đảo Hòn Khoai là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật hoang dã như heo rừng, kỳ đà, trăn, rắn…

Biển Hòn Khoai có những bãi cát rộng. Khi thủy triều xuống, biển lặng, du khách có thể đi bộ trên bãi cát để tìm hiểu sự sống của các loài sinh vật biển và hít thở không khí trong lành của rừng, của biển. Đường đi lại trên đảo có một con đường chính từ Bãi Lớn đến đỉnh đảo dài khoảng 3 km đã được trải nhựa phẳng phiu. Vì đảo ít cư dân sinh sống nên chỉ có vài ba quán tạp hóa nhỏ, chủ yếu là các lính biên phòng canh giữ biển đảo. Chính vì điều đó mà Hòn Khoai vẫn giữ được nét đẹp hoang sơ hiếm nơi nào có được để thu hút nhiều khách du lịch khám phá.

Điều làm cho du khách khách mãi nhớ đến Hòn Khoai, có lẽ chính là tấm chân tình mến khách của những người lính đảo, những người ngày đêm canh giữ biển trời cho vùng đảo quê hương. Và chắc hẳn khi rời xa, du khách sẽ càng thêm yêu mến một Hòn Khoai xinh đẹp.

Đọc nhiều hơn 🌻 Thuyết Minh Về Biển Tân Thành 🌻 14 Bài Giới Thiệu Hay

Bài văn thuyết minh lớp 8 về Hòn Khoai sẽ là tư liệu văn mẫu cần thiết cho các em học sinh trong quá trình làm bài.

òn Khoai là một đảo đá có đồi và rừng gần như còn nguyên vẹn với nhiều loại gỗ quý, nhiều nhất là gỗ sao và một quần thể động thực vật phong phú, phong cảnh thiên thiên hoang dã luôn cuốn hút khách du quan.

Thuở xưa Hòn Khoai còn có tên là Hòn Giáng Hương, Hòn Ðộc Lập. Thời Pháp thuộc gọi đảo là Poulo Obi mà trên bản đồ hành chính Việt Nam, nó chỉ là một chấm nhỏ nằm phía nam mũi Cà Mau. Tuy nhiên, người địa phương vẫn quen gọi là Hòn Khoai vì hình dạng của nó trông giống như củ khoai khổng lồ.

Nhưng cũng có nhiều tài liệu kể lại rằng, cách đây đã lâu lắm rồi, nhiều người từ đất liền ra đây làm rẫy và trồng cây ăn trái. Ðến nay vẫn còn đây đó những bụi khoai mì, khoai mỡ… Có lẽ vì vậy mà nó mang tên Hòn Khoai chăng? Ngư dân địa phương còn dựa vào trí tưởng tượng và hình dáng của mỗi hòn đảo mà đặt tên như Hòn Tượng, Hòn Ðồi Mồi, Hòn Ðá Lẻ…

Ðường lên đảo uốn theo hình trôn ốc bám theo sườn đồi, cây cối mọc um tùm che rợp lối đi. Mít và xoài ở đây rất nhiều và không ít cây đã thành cổ thụ. Trên đảo còn có nhiều cây là vị thuốc chữa trị được một số bệnh. Ở đây còn có nhiều loại hoa rừng mọc xen trong kẹt đá phô đủ mầu sắc. Du khách còn nghe tiếng róc rách của khe nước chảy, tiếng chim hót trong bụi cây, thật là chốn thần tiên ngoài biển cả.

Bờ biển Hòn Khoai có nhiều long tu (rong biển hình râu rồng) đóng quanh những tảng đá. Loại rong này ăn rất mát và bổ. Ở đảo còn có nhiều chim quý, ngoài những bầy chim nhạn, chim én còn có chim cao các. Giống chim này lông đen, mỏ vàng, trên mỏ lại có thêm cái mỏ thứ hai như chim hồng hoàng vậy. Từ lâu, ngư dân vùng Rẫy Chệc, Rạch Tàu, Rạch Gốc thường ra Hòn Khoai để lấy nước ngọt. Không hiểu vì đâu, từ một mạch đá, suốt đêm ngày chảy ra một dòng nước trong mát lạ lùng và ngọt như nước mưa.

Hòn Khoai còn là một vị trí đèn biển quan trọng ở biển Ðông và vịnh Thái-lan. Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã xây dựng một hệ thống đèn biển từ Cần Giờ, Côn Ðảo, Phú Quốc, Hòn Khoai nhằm phục vụ cho các loại tàu biển đi lại an toàn. Riêng ở đỉnh cao nhất của Hòn Khoai, tại độ cao 318 m, năm 1920 người Pháp xây dựng ngọn hải đăng mà cho đến nay kiến trúc này vẫn còn khá nguyên vẹn. Ngọn hải đăng hình khối vuông mỗi cạnh dài 4 m, cao 14,50 m, được xây bằng đá hộc và xi-măng. Tháp hải đăng Hòn Khoai được xem là một trong những công trình đèn biển có mặt sớm nhất tại hải phận Việt Nam.

Trước đây ngọn hải đăng này sử dụng bầu đèn chạy bằng dây cót nay được thay thế bằng bầu đèn hiện đại quay từ trường qua kính hội tụ có độ chiếu sáng xa đến 35 hải lý. Hòn Khoai chẳng những là danh lam thắng cảnh của Cà Mau mà còn là di tích cách mạng nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ. Tại đây, năm 1940, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta được sự chỉ huy của Phan Ngọc Hiển đã đánh chiếm Hòn Khoai từ tay giặc Pháp.

Với những đặc điểm khí hậu mát mẻ, thời tiết tốt, phong cảnh đẹp, có rừng, có biển, ngày nay Hòn Khoai rất thích hợp với các loại hình du lịch về nguồn, dã ngoại, nghiên cứu, nghỉ ngơi. Năm 1994, Bộ Văn hóa – Thông tin đã công nhận Hòn Khoai là di tích – thắng cảnh cấp quốc gia.

Đừng bỏ lỡ cơ hội 🍀 Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí 🍀 Card Viettel Mobifone

Tham khảo văn thuyết minh về Hòn Khoai bằng tiếng Anh để trau dồi thêm vốn từ vựng và luyện tập cách viết chính xác ngữ pháp.

Tiếng Anh:

Hon Khoai archipelago is the name of a cluster of islands in Ca Mau province, of which the main island is Hon Khoai, 14.6 km from the mainland; located to the south of Dat Mui commune, Ngoc Hien district. Hon Khoai is a rocky island, hills and primeval forests are still almost intact with many kinds of precious wood, most of which are star wood and a rich flora and fauna population, wild natural scenery attracts tourists.

Hon Khoai has an important position in terms of national defense and security. This place is likened to a forward station guarding the airspace, sea and southwestern strip of the country associated with the uprising of heroic martyrs, teacher Phan Ngoc Hien during the resistance war against the French and the sea. The lighthouse nearly 100-year-old post was built during the French colonial period.

Tiếng Việt:

Quần đảo Hòn Khoai là tên một cụm đảo thuộc tỉnh Cà Mau, trong đó đảo chính là Hòn Khoai, cách đất liền 14,6 km; nằm về phía nam xã Đất Mũi, thuộc huyện Ngọc Hiển. Hòn Khoai là đảo đá, đồi và rừng nguyên sinh còn gần như nguyên vẹn với nhiều loại gỗ quý, nhiều nhất là gỗ sao và một quần thể động thực vật phong phú, phong cảnh thiên nhiên hoang dã lôi cuốn du khách.

Hòn Khoai có vị trí quan trọng về quốc phòng an ninh. Nơi đây được ví như một trạm tiền tiêu canh giữ vùng trời, vùng biển và dải đất phía Tây Nam của Tổ quốc gắn liền với cuộc khởi nghĩa của anh hùng liệt sĩ, thầy giáo Phan Ngọc Hiển thời kháng chiến chống Pháp và ngọn hải đăng gần 100 tuổi được xây dựng từ thời Pháp thuộc.

Ngoài ra, tại chúng tôi còn có 🌺 Thuyết Minh Về Biển Lăng Cô 🌺 15 Bài Giới Thiệu Hay

Cập nhật thông tin chi tiết về 10 Mẫu Thuyết Minh Về Cây Hoa Đào Hay Chọn Lọc trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!