Xu Hướng 2/2024 # Dân Tộc Tày – Đặc Sắc Văn Hóa Của Người Tày # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Dân Tộc Tày – Đặc Sắc Văn Hóa Của Người Tày được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cộng đồng dân tộc Tày cư trú ở vùng núi phía Bắc Việt Nam. Họ sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp lúa nước và trồng các loại cây công nghiệp như thuốc lá, hồi, chè. Cũng như nhiều dân tộc khác, người ta có tín ngưỡng Đa Thần. Thờ cúng và tin vào các thế lực siêu nhiên có tác động đến đời sống của con người.

Văn hóa người dân tộc Tày

Ngoài ra, người Tày còn có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú. Bên cạnh các thể loại thơ, truyện cổ tích, còn có các làn điệu dân ca. Như hát ru con, hát đám cưới, hát then, hát lượn. Trong đời sống hiện đại, những nét văn hóa dân gian này vẫn được cộng đồng người Tày giữ và bảo lưu từ đời này sang đời khác.

Phụ nữ dân tộc Tày

Từ bao đời nay, người Tày ở Lạng Sơn vẫn lưu giữ được những phong tục và bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình. Trong đó không thể không về đến tục thờ chó Ma-hin. Trước cửa chính có gia đình đều đặt một con chó đá với tư thế khác nhau. Đó là nét đặc trưng rất dễ nhận thấy khi đặt chân vào bất kỳ vật lạ nào của người Tày Lạng Sơn. Với cộng đồng dân tộc này, chó đá tiếng Tày là Ma-hin có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, và có ảnh hưởng sâu đậm đối với đời sống.

Theo phong tục Cổ truyền của người Tày, mỗi khi xây nhà mới thì người chủ gia đình sẽ đến nhà thầy cúng xem tuổi, chọn ngày tốt để đục đẽo và rước chó đá  về nhà. Những việc này được làm rất cẩn thận .Bởi người ta quan niệm rằng do đó trước cửa nhà để cai quản cõi âm, mỗi khi có tiếng chó sủa ma quỷ không dám lại gần để làm phải con người.  Đặc biệt, với những nhà có phong thủy xấu thì sự xuất hiện của chó đá lại càng cần thiết. Sau khi đã chọn được ngày tốt, chính người thầy ấy sẽ ra bờ suối tìm đá để đục đẽo chó đá. Tùy vào năm sinh, hướng nhà gia chủ bà thầy sẽ chọn trọng lượng bao nhiêu kilôgam, tư thế nằm hay ngồi của con chó đá.

Chính bởi niềm Tin tuyệt đối vào vai trò giữ yên cửa nhà và Con Chó Đá,  mà người ta rất coi trọng chó đá Ma-hin. Vào các ngày rằm và mùng 1 hàng tháng, ngày trọng đại của gia đình cho ta cũng được chủ quan tâm đặc biệt.  Chỉ một nén hương thôi nhưng trong đó đã chứa đựng biết bao tình cảm của người dân tộc Tày  với chó đá.Đặc biệt, vào dịp tết cho nó cũng được thực hiện những người rất trang trọng. trong ngày Tất niên người chúng ta sẽ đi lấy lá bưởi để tắm cho chó đá nhà mình. Với ý nghĩa, sau một năm lao động vất vả sẽ được tắm rửa thơm tho để chào đón năm mới. Lá bưởi hái về, sẽ được đun sôi để nguội rồi mới tắm cho chó đá Ma-hin .

Theo quan niệm của người Tày,  lá bưởi có tác dụng trừ tà ,loại bỏ vận đen.  Vì thế, dùng lá bưởi tắm cho chó đá người Tày hi vọng rằng sẽ giúp được nhiều may mắn, tài lộc về nhà.Sau khi đã tắm rửa sạch sẽ, chó đá sẽ được gia chủ quan cho một chiếc khăn đỏ quanh cổ. Có lẽ quàng một chiếc khăn cũng như mặc một chiếc áo mới cho chó đá, trong một sự tôn vinh của người  Tày. Tỏ lòng biết ơn, nó đã đem lại sự may mắn cho gia đình trong năm qua.

Đối với dân tộc quanh năm sống giữa núi rừng, thì niềm tin của họ vào các lĩnh vực là rất lớn. Và người dân tộc Tày ở Lạng Sơn đã lấy niềm tin chân thành về điểm này mặt chó đá mang lại để làm đòn bẩy tinh thần cho dân tộc mình.

Tín ngưỡng thờ chó đá chỉ thấy xác ở một số vùng miền, chứ không quá phổ biết trong đời sống của người Việt Nam. Dạo Qua phố Nghi Tàm, có thể dậy khá nhiều cho đã được bày bán trước cửa những cửa hàng bán đồ cổ, và giả của. Loại chó đá này được đục đẽo tự nhiên  nên mang lại cảm giác gần gũi thân thuộc của làng quê năm xưa.  Những gia đình giàu có, chôn cho nó dễ canh giữ nhà và thể hiện sự quyền uy, phú quý của gia chủ. Nhà phong thủy, chôn chó đá để thay đổi dương cơ, âm phần tránh được những điều hòa do thời tiết xấu  gây ra. Còn dân gian ,chân chó đá để  xua đuổi tà ma. Có thể thấy rằng, tín ngưỡng thờ chó đá đã có từ rất lâu và cho đến nay vẫn còn được gìn giữ trong văn hóa của người Việt nói chung và người Tày nói riêng. rất khó để chứng minh sự mầu nhiệm của tín ngưỡng ngày. nhưng chắc chắn rằng khi có niềm tin, con người sẽ cảm thấy yên tâm và cuộc sống tốt đẹp hơn. Và đây chính là giá trị đích thực của tục thờ chó đá trong tâm thức của dân tộc Tày.

Hát Ieu trong văn hóa người Tày

Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Tày, thì hát ca dao giao duyên luôn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa tinh thần đặc sắc. Trong vô vàn những làn điệu dân ca giao duyên của các chàng trai cô gái tày,  phải kể đến hát “Ieu” –  một hình thức giao duyên khá đặc sắc của dân tộc Tày. Đây là thể loại hát dân ca chỉ dành cho người chưa vợ  và chưa có chồng. Tuy nhiên vì sức hấp dẫn của loại hình dân ca này, những người có vợ có chồng thậm chí là những người lớn tuổi đều có thể hát. Hát Ieu là hình thức đối đáp của một nam một nữ, hoặc một tốp nam nữ tình cờ gặp nhau, ở lễ hội, ở chợ, hay tình cờ trên đường đi làm nương rẫy. Hát ieu  không chỉ là thức sinh hoạt văn hóa, mà còn là chức năng trao đổi tình cảm lứa đôi và là một nét đẹp trong phong tục tập quán của người Tày.Bởi vậy hat ieu  còn được ví von như làn điệu quan họ giao duyên của người Tày. Hát ieu  có nhiều làn điệu khác với những làn điệu hát khác của người Tày,  từ nội dung đến  trình tự bài hát, những cách thức tổ chức. Ví dụ hát Then là dân ca được truyền từ xưa,  lời bài hát đều đã theo khuôn mẫu nhất định.  Còn ieu  là lời hát đối đáp chỉ xuất hiện theo sự ngẫu hứng,  một bên ra lời hát còn bên kia phải hát đối đáp lại sao cho hợp lý và thuyết phục. Sao vậy,  Ở hát ieu  biên độ sáng tạo,  những khẩu rộng rãi hơn so với các thời đại khác.  người tham gia hát  phải thật thông minh, nhanh nhạy và có tài ứng biến. Hát Ieu  giao duyên,  còn gắn kết nhiều cặp trai gái nên nghĩa vợ chồng.  Và có lúc,  hát ieu  còn thay lời muốn nói để bày tỏ tâm trạng nỗi lòng của mình. Có những lúc, hát ieu diễn ra tại nhà sàn những lúc có khách đến chơi. 5 loại hát ieu được xem như các cung bậc trong nghệ thuật của người Tày

Khám Phá Nét Đẹp Văn Hóa Dân Tộc Mông Ở Tây Bắc

Trên cung đường trekking Tây Bắc, bạn sẽ bắt gặp hình ảnh người phụ nữ dân tộc Mông trong những bộ trang phục với hoa văn độc đáo. Ấn tượng bởi người Mông để lại khiến cho rất nhiều trekker quyết định ghé chân tìm hiểu nét văn hóa lâu đời nơi đây. Bài viết này sẽ giúp bạn lý giải được sự thú vị thu hút các trekker đến với ngôi làng của dân tộc Mông vùng Tây Bắc nước ta.

1. Ngôn ngữ dân tộc Mông

Ngôn ngữ của dân tộc Mông thuộc nhóm Mông – Dao. Ước tính trên thế giới có khoảng 10 – 12 triệu người hiện đang sử dụng ngôn ngữ này.

2. Trang phục của dân tộc Mông

Người Mông có 4 nhóm: Mông Hoa, Mông Đen, Mông Xanh, Mông Trắng. Tuy có chung ngôn ngữ và văn hóa, nhưng trang phục của họ lại có nét khác nhau.

Phụ nữ Mông Hoa mang váy màu chàm. Gấu váy có in hoa văn, áo xẻ nách, vai và ngực có cạp vải màu thêu hình con ốc.

Phụ nữ Mông Đen mang váy màu chàm. Váy sẽ ngắn hơn váy Mông Hoa, áo xẻ giữa ngực, gấu váy và cánh tay có thêu hoa văn.

Phụ nữ Mông Xanh mang váy hình ống màu chàm. Gấu váy thêu hình chữ thập, áo xẻ ngực về bên trái, cài một cúc, cánh tay có đắp thêm vải đỏ, thêu hoa văn ở cổ tay.

Phụ nữ Mông Trắng mang váy trắng, áo xẻ ngực, cánh tay có thêu hoa văn và yếm lưng.

Nét đẹp văn hóa của người dân tộc Mông (Nguồn hình ảnh: Sưu tầm Internet)

Nam giới 4 nhóm người Mông đều mặc áo xẻ ngực và nách. Áo có 4 túi, 4 khuy cài. Quần ống bó được cắt kiểu chân què.

Trekking Fansipan hay Lảo Thẩn, bạn sẽ có cơ hội hóa trang thành những chàng trai, cô gái dân tộc Mông. Khoác lên mình bộ trang phục truyền thống của người Mông. Bạn mới cảm nhận được hết sự tinh tế, tỉ mỉ của người thợ dệt.

3. Nghề truyền thống

Người Mông vẫn duy trì và phát triển nghề dệt vải lanh từ xa xưa đến nay. Nhờ thế, họ tạo nên những bộ trang phục truyền thống mang nét độc đáo riêng biệt. Các nghề thủ công như đan lát, làm yên ngựa, đồ gỗ cũng được phát triển đa dạng. Theo kinh nghiệm đi trekking của mình, nếu đến làng người Mông tại những vùng núi Tây Bắc sẽ có cơ hội hóa thân thành những người thợ thủ công. Bạn có thể tự tay làm ra thành phẩm dưới sự chỉ dẫn của người dân nơi đây.

Vải được bày bán ở chợ phiên (Nguồn hình ảnh: Sưu tầm Internet)

4. Phong tục tập quán

Người Mông sống dưới những ngôi nhà trệt ba gian, phổ biến nhất là nhà bưng ván và nhà vách nứa, mái tranh. Mỗi khi có người xây nhà mới, mọi người thường tự động đến phụ giúp.

Món mèn mén đặc trưng của người Mông vẫn còn được lưu truyền đến ngày nay. Đây là món ăn được làm từ bột ngô hấp. Mèn mén ăn chung với nước canh đậu. Bạn sẽ cảm nhận được vị ngon, ngọt, đậm đà hương rừng núi.

5. Lễ hội truyền thống của dân tộc Mông

Dân tộc Mông có rất nhiều lễ hội nhộn nhịp trong năm.

Lễ hội Nào Sồng tổ chức đầu năm để đưa ra các quy định về công việc trong năm mới. Sau lễ, bạn sẽ được hòa mình với người dân trong phần hội. Từng tiếng khèn, trống vang lên trong khi các trò chơi dân tộc được diễn ra. Bạn có thể tham gia các trò chơi như ném Pao, nhảy Tha Kềnh, chơi Tù Lu,… cực kỳ thú vị.

Người Mông tham gia lễ hội đầu xuân (Nguồn hình ảnh: Sưu tầm Internet)

Lễ hội Gầu Tào mang mục đích cầu phúc hoặc cầu mệnh. Lễ hội diễn ra từ ngày 1 đến 15 tháng Giêng. Bên cạnh đó, bạn còn được tham gia phần hội với nhiều hoạt động độc đáo như múa khèn, múa gậy, hát giao duyên,… Không chỉ thế, đây còn là dịp bạn có thể gặp gỡ được rất nhiều đôi trai gái đến giao lưu, tìm bạn đời.

Sau một mùa vụ, người Mông thường tổ chức lễ ăn cơm mới để tạ ơn thần linh, tổ tiên đã phù hộ cho dân làng một mùa màng bội thu. Đồng thời, cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa, con người khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc, tránh được thiên tai, dịch bệnh. Bữa cơm ấm cúng với những món ăn truyền thống của người Mông sẽ cực kỳ hấp dẫn vị giác của bạn.

Lời kết

Đăng bởi: Tô Kiều Phương

Từ khoá: Khám phá nét đẹp văn hóa dân tộc Mông ở Tây Bắc

Tày Nồng Ệp Là Món Gì Mà Khiến Người Quảng Ninh ‘Giật Mình’?

Bánh tày nồng ệp được đổ xong có màu nâu từ đường mật mía rất hấp dẫn

BẢO VY

Ngày ấy đường phên bán từng tảng lớn như viên gạch, ăn tới đâu phải lấy dao mài thành từng vụn nhỏ. Bác tôi trộn bột nếp với bột tẻ, sau đó đổ thêm lạc (đậu phộng) đã rang giòn vào.

Bác nấu đường và gừng tươi trên bếp, chất lỏng sóng sánh ấy rục rịch sôi là mùi thơm ngào ngạt đã bay khắp bảy gian nhà, ba gian bếp làm đứa trẻ con nào cũng mong ngóng. Mắt chúng tôi không rời tay bác, khi bác đổ nước đường gừng vào bột rồi lại khuấy thật khỏe tay, làm sao để bột tan chảy hết, không vón cục, không đông đặc, thì nhiều đứa đã nuốt nước miếng rồi.

Những chiếc khuôn tròn lót lá chuối, phết một lớp mỡ ở đáy đã sẵn sàng. Bác đổ bột vào khuôn, rắc thêm thật nhiều lạc rang, vừng rang lên bề mặt cho bánh vào hấp cách thủy tới khi xăm bằng cây đũa, không thấy bột dính đầu đũa nữa là bánh chín.

Ai cũng đều nói bánh tày nồng ệp khi vừa hấp chín thì đừng vội ăn, bánh dẻo quẹo, dính tay dính răng, phải đợi ít nhất tới hôm sau, khi bột săn lại, cắt từng miếng ăn mới thơm ngon. Không chỉ ăn bình thường, bánh tày nồng ệp để vài ngày rồi cắt miếng mỏng, đem chiên trong chảo cho lớp vỏ vàng rụm cũng là hảo hạng. Thế nhưng những đứa trẻ ngày ấy dễ gì đợi tới được hôm sau.

Trẻ con khó mà đợi tới khi bánh để tới hôm sau mới ăn, dù bánh còn nóng, khói bay nghi ngút, đứa nào cũng phải cắn thử một miếng đã

BẢO VY

Giống như luộc bánh chưng, chiếc bánh con đầu tiên vớt ra, ăn ngay bên bếp củi đỏ rực lửa bao giờ cũng là chiếc bánh ngon nhất trong năm thì tày nồng ệp cũng như vậy.

Những đứa trẻ mặt lem nhem – vì cả ngày ngồi nghịch trong bếp – chia nhau một chiếc bánh màu nâu, bốc khói nghi ngút, thơm ngào ngạt mùi đường, mùi gừng, mùi lá chuối, vừa ăn vừa xuýt xoa vì nóng quá, thấy bánh sao mà ngon, mà ngọt thế. Đó mãi mãi là những khoảnh khắc tuyệt đẹp trong ký ức tuổi thơ của chúng tôi. Tày nồng ệp có cái dẻo của gạo nếp, cay thơm của gừng, bùi của lạc vừng và ngon vô cùng, vì có hương vị của tình thân.

Bà nội tôi kể tày nồng ệp là món bánh của người Hoa, trước đây sinh sống làm ăn ở Quảng Ninh thường làm. Hoa kiều rời hết về quê hương họ sinh sống, để lại những ảnh hưởng đậm đà của văn hóa trong cộng đồng người bản địa. Một trong số đó là món bánh tày nồng ệp. Nhiều người gọi bánh là tài nồng ệp, hay tày lồng ệp, tôi nghĩ đó có thể do cách phát âm, còn lại vẫn là món ăn ấy bao năm không đổi thay.

Cùng với bún bề bề, tày nồng ệp là nỗi nhớ của nhiều người Quảng Ninh khi xa quê hương

BẢO VY

Cuộc sống cho chúng tôi cơ hội được đi thật nhiều nơi, nếm những món ăn của các miền. Tôi thấy rằng tày nồng ệp của Quảng Ninh cũng có ở Hải Phòng. Hay người Quảng Nam có món bánh tổ được làm vào dịp lễ tết. Tuy nhiên với nhiều nơi, họ không bỏ đậu phộng vào bánh mà chỉ có hạt vừng rang rắc lên bề mặt.

Vào tới chúng tôi tới thăm Chợ Lớn, chúng tôi cũng thấy bánh tổ của người gốc Hoa. Bánh không có mè hay đậu phộng mà có chữ Hoa in trên mặt bánh. Đặc biệt, bánh không có màu vàng nâu của mật mía như ở quê mình mà có màu vàng hoặc cam đậm, do màu của đường làm bánh, lót bằng lớp vỏ ni lông chứ không phải lá chuối như bánh ở quê. Người gốc Hoa còn gọi bánh tổ là bánh niên cao (nian gao), đồng âm với “một năm mới cao” ăn vào dịp đầu năm cầu mong một năm mới may mắn, sung túc hơn năm trước.

Bánh gật gù, khau nhục – những món ngon có tên lạ ở Quảng Ninh cũng rất hấp dẫn với thực khách

BẢO VY

Dù ăn chiếc bánh ở miền đất nào thì so với tày nồng ệp của Quảng Ninh, hương vị với chúng tôi cũng đã đổi thay. Có lẽ, người ta nhung nhớ, giật mình vì tên gọi thân thương, bởi món ăn ngon thường đi kèm những nỗi nhớ.

Đi ngược đi xuôi, người trẻ quê tôi mong khoảnh khắc nghỉ lễ tết để được đổ bánh tày nồng ệp với mẹ trong một gian bếp ở quê nhà, hay mua vài chiếc ngay cổng chợ. Vừa ăn vừa rưng rưng nhớ lại những kỷ niệm tuyệt đẹp với những người thân giờ đây đã về nơi xa lắm…

Lễ Hội Ócc Om Bóc – Lễ Hội Văn Hóa Đặc Sắc Của Tỉnh Trà Vinh

Bên cạnh Sene Đolta, Chol Chnăm Thmây, Oóc om bóc là một trong ba lễ hội quan trọng trong 1 năm của đồng bào Khmer Nam Bộ. Lễ hội Ócc Om Bóc được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2024.

Lễ hội Ócc Om Bóc diễn ra ngày mấy? Ở đâu? Có ý nghĩa gì?

Lễ hội Ócc Om Bóc hay còn gọi là lễ hội Cúng Trăng. Theo quan niệm của người Khmer Nam Bộ, Mặt Trăng là vị thần có ảnh hưởng trực tiếp đến mùa màng. Do đó, sau một mùa vụ, người Khmer sẽ tiến hành nghi thức cúng tế, dân những sản phẩm đầu tiên cho thần Mặt Trăng nhằm thể hiện lòng biết ơn. Theo ý nghĩa này, lễ hội khá tương đồng với lễ hội Thượng điền của người Kinh.

Lễ hội Ócc Om Bóc thường được tổ chức vào ngày 14 và 15 tháng 10 âm lịch hằng năm

Lễ hội Ócc Om Bóc thường được tổ chức vào ngày 14 và 15 tháng 10 âm lịch hằng năm. Lễ hội sẽ được tổ chức tại 2 địa điểm chính là sông Long Bình và Ao Bà Om thuộc Phường 8, thành phố Trà Vinh.

Những hoạt động của lễ hội Ócc Om Bóc

Lễ hội Ócc Om Bóc có ý nghĩa vô cùng to lớn với đa số người Khmer Trà Vinh. Bởi lẽ, họ sinh sống và gắn chặt với nghề trồng trọt, sản xuất nông nghiệp. Do đó, ngoài tụ tập tổ chức tại 2 địa điểm lớn, lễ hội còn được tiến hành ở mỗi gia đình.

Ở mỗi gia đình, người người Khmer sẽ chọn một khoảng sân cao ráo, thoáng đãng và sạch sẽ nhất để có thể nhìn rõ mặt trăng để làm nơi cúng tế. Chủ nhà sẽ bày các vật phẩm nông nghiệp, phum sóc đựng đầy khoai, chuối, cốm dẹp.

Chủ nhà sẽ bày các vật phẩm nông nghiệp, phum sóc đựng đầy khoai, chuối, cốm dẹp.

Lúc mặt trăng bắt đầu xuất hiện, chiếu ánh sáng khắp mọi nơi cũng là lúc lễ cúng tế được bắt đầu. Lúc này, mọi người bắt đầu tệ tựu xung quanh vuông chiếu trải sẵn để tiến hành làm lễ cúng. Gia chủ khấn cảm ơn Thần Mặt Trăng, Thần Đất Đai, Thần Nước,… đã cho gia chủ một mùa màng bội thu. Đồng thời khấn cầu cho mùa màng năm sau mưa thuận gió hòa.

Sau khi khấn xong, gia chủ và những người lớn tuổi trong gia đình sẽ vo cốm dẹp thành từng viên kèm chuối, khoai và đút cho những đứa trẻ trong nhà. Vừa đúc, người lớn sẽ vừa xoa lưng trẻ nhỏ và hỏi điều chúng ao ước. Mỗi lời ước ngây thơ của trẻ nhỏ là lời ước của mỗi nhà mong muốn gửi đến Thần Mặt Trăng.

Ở lễ hội quy mô tỉnh, người ta cũng tiến hành lễ cúng bái như ở nhà nhưng với quy mô lớn hơn

Ở lễ hội Ócc Om Bóc quy mô tỉnh, người ta cũng tiến hành lễ cúng bái như ở nhà nhưng với quy mô lớn hơn. Đồng thời, tổ chức nhiều hoạt động giải trí trong lễ hội. Trong đó, có lễ hội đua ghe ngo cực kỳ đông vui và sôi nổi.

Vào buổi trưa ngày 14 tháng 10 âm lịch, khi nước thủy triều lên cao, cuộc đua ghe ngo sẽ được chính thức bắt đầu. Ghe ngo là phương tiện di chuyển trên sông nước, có dạng hình rắn thần Nagar. Các huyện, xã của Trà Vinh sẽ cử đội đua ghe riêng và thi đấu để tìm ra đội thắng cuộc.

Ghe ngo là phương tiện di chuyển trên sông nước, có dạng hình rắn thần Nagar

Trong tiếng reo hò cổ vũ và nền nhạc ngũ âm truyền thống, những chiếc ghe ngo đua nhau, thi nhau tiến về đích. Cuộc đua năm nào cũng căm go, khi các đội luôn bám sát nút nhau. Đội về nhất sẽ được nhận giải thưởng từ Ban Tổ Chức, đồng thừi được người dân phum sóc vinh danh.

Bên cạnh cuộc đua ghe ngo sôi động, trong những ngày diễn ra lễ hội, tại tại khu di tích danh thắng Ao Bà Om còn tổ chức lễ cúng tạ ơn và tổ chức nhiều trò chơi dân gian truyền thống cực kỳ vui nhộn. Hằng năm, rất đông người dân từ mọi nơi đổ về Ao Bà Om để tham quan và vui chơi.

Trong tiếng reo hò cổ vũ và nền nhạc ngũ âm truyền thống, những chiếc ghe ngo đua nhau, thi nhau tiến về đíc

Các trò chơi dân gian như kéo co, đẩy gậy, đập nồi, đi cà kheo cùng các môn thể thao như bóng chuyền, chạy việt dã,… được tổ chức và diễn ra sôi nổi trong khuôn viên Ao Bà Om. Bên cạnh đó, nhiều hình thức nghệ thuật sân khấu truyền thống được người đồng bào Khmer tổ chức, phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của người dân đến tham gia lễ hội Ócc Om Bóc.

Sau khi nghi thức cúng tế kết thúc, những chiếc đèn gió có lửa bên trong sẽ được đốt và thả bay lên trời. Theo quan niệm của các người Khmer, những chiếc đèn lông mang theo lửa chính là phương tiện giao tiếp của họ với thần linh. Do đó, những chiếc đèn lồng sẽ giúp mang theo ước nguyện của họ đến với Thần Linh ở trên cao.

Sau khi lễ hội thả đèn kết thúc, nghi thức thả hoa đăng sẽ tiếp tục được diễn ra. Những chiếc hoa đăng lớn sẽ được đưa lên xe, phía trước dàn nhạc ngũ âm và đội múa Chayyam, phía sau xe là sư sãi và người dân. Tất cả sẽ đi bộ diễu hành, tạo thành một đám rước hoàng tráng làm nức lòng người tham gia. Kết thúc diễu hành, hoa đăng sẽ được thả trên mặt Ao Bà Om, tạo ra không khí huyền ảo cho đêm lễ hội.

Ảnh: Internet

Đăng bởi: Nhàn Vũ

Từ khoá: Lễ hội Ócc Om Bóc – Lễ hội văn hóa đặc sắc của tỉnh Trà Vinh

Soạn Bài Nhìn Về Vốn Văn Hóa Dân Tộc Soạn Văn 12 Tập 2 Tuần 30 (Trang 159)

Soạn bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc

Tác phẩm Nhìn về vốn văn hóa dân tộc

Nghe đọc Nhìn về vốn văn hóa dân tộc:

Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật. Ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội hoạ,… phát triển rất cao, ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hoá, thành đặc sắc văn hoá của dân tộc đó, thành thiên hướng văn hoá của dân tộc đó. Ở ta, thần thoại không phong phú – hay là có nhưng một thời gian nào đó đã mất hứng thú lưu truyền? Tôn giáo hay triết học cũng đều không phát triển. Người Việt Nam không có tâm lý kiền thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học. Các tôn giáo đều có mặt, nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng, ít ai quan tâm đến giáo lý. Không có một ngành khoa học, kĩ thuật, giả khoa học nào phát triển đến thành có truyền thống. Âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ. Trong các ngành nghệ thuật, cái phát triển nhất là thơ ca. Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì không có. Xã hội có trọng văn chương, nhưng […] bản thân các nhà thơ cũng không ai nghĩ cuộc đời, sự nghiệp của mình là ở thơ ca. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, một ngành văn hoá nào đó trở thành đài danh dự, thu hút, quy tụ cả nền văn hoá.

Thực tế đó cho ta biết khuynh hướng, hứng thú, sự ưa thích, nhưng hơn thế, còn cho ta biết sự hạn chế của trình độ sản xuất, của đời sống xã hội. Đó là văn hoá của dân nông nghiệp định cư, không có nhu cầu lưu chuyển, trao đổi, không có sự kích thích của đô thị. […]

Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người. Con người được ưa chuộng là con người hiền lành, tình nghĩa. Không chuộng trí mà cũng không chuộng dũng. Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ […]. Trong tâm trí nhân dân thường có Thần và Bụt mà không có Tiên. Thần uy linh bảo quốc hộ dân và Bụt hay cứu giúp mọi người; còn Tiên nhiều phép lạ, ngao du ngoài thế giới thì xa lạ. Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là ăn đi trước, lội nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn. Đối với cái dị kỉ, cái mới, không dễ hoà hợp nhưng cũng không cự tuyệt đến cùng, chấp nhận cái gì vừa phải, hợp với mình nhưng cũng chần chừ, dè dặt, giữ mình.

Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kỳ vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải.

Không có công trình kiến trúc nào, kể cả của vua chúa, nhằm vào sự vĩnh viễn. Hình như ta coi trọng Thế hơn Lực, quý sự kín đáo hơn sự phô trương, sự hoà đồng hơn rạch ròi trắng đen. Phải chăng đó là kết quả của ý thức lâu đời về sự nhỏ yếu, về thực tế nhiều khó khăn, nhiều bất trắc?

Nhìn vào lối sống, quan niệm sống, ta có thể nói người Việt Nam sống có văn hoá, người Việt Nam có nền văn hoá của mình. Những cái thô dã, những cái hung bạo đã bị xoá bỏ để có cái nền nhân bản. Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hoà. Không có khát vọng để hướng đến những sáng tạo lớn mà nhạy cảm, tinh nhanh, khôn khéo gỡ các khó khăn, tìm được sự bình ổn.

Những cái vừa nói là cái đã lắng đọng, đã ổn định, chắc chắn là kết quả của sự dung hợp của cái vốn có, của văn hoá Phật giáo, văn hoá Nho giáo, cái được dân tộc sàng lọc, tinh luyện để thành bản sắc của mình. Phật giáo, Nho giáo tuy từ ngoài du nhập vào nhưng đều để lại dấu ấn sâu sắc trong bản sắc dân tộc. Có điều, để thích ứng với cái vốn có, Phật giáo không được tiếp nhận ở khía cạnh trí tuệ, cầu giải thoát, mà Nho giáo cũng không được tiếp nhận ở khía cạnh nghi lễ tủn mủn, giáo điều khắc nghiệt. Đạo giáo hình như không có nhiều ảnh hưởng trong văn hoá nhưng tư tưởng Lão – Trang thì lại ảnh hưởng nhiều đến lớp trí thức cao cấp, để lại dấu vết khá rõ trong văn học.

Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hoá những giá trị văn hoá bên ngoài. Về mặt đó, lịch sử chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh.

Soạn bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Mẫu 1 Soạn văn Nhìn về vốn văn hóa dân tộc chi tiết

I. Tác giả

– Trần Đình Hượu (1926 – 1995) quê ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

– Ông là một nhà nghiên cứu về các vấn đề lịch sử tư tưởng và văn học Việt Nam trung cận đại.

– Năm 2000, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ.

– Một số công trình nghiên cứu: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930 (1988), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (1995), Đến hiện đại từ truyền thống (1996), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông (2001)…

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

– Nhìn về vốn văn hóa dân tộc trích từ phần II, bài “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” in trong cuốn Đến hiện đại từ truyền thống.

– Nhan đề do người biên soạn SGK đặt.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

Phần 2. Tiếp theo đến “để lại dấu vết khá rõ trong văn học”: Đặc điểm của nền văn hóa Việt Nam.

Phần 3. Còn lại: Con đường hình thành văn hóa.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Nhận xét về nền văn hóa dân tộc

Lời dẫn dắt “Trong lúc chờ đợi kết quả khoa học…văn hóa dân tộc”: Cách nêu vấn đề ngắn gọn, khách quan.

2. Đặc điểm của nền văn hóa Việt Nam

a. Hạn chế và thế mạnh

* Hạn chế:

– Văn hóa Việt Nam chưa có tầm vóc lớn lao, chưa có vị trí quan trọng, chưa nổi bật và chưa có ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác.

– Hạn chế trên các phương diện:

Thần thoại không phong phú.

Tôn giáo, triết học không phát triển, ít quan tâm đến giáo lý.

Khoa học kỹ thuật không phát triển thành truyền thống.

Âm nhạc, hội họa, kiến trúc không phát triển đến tuyệt kĩ.

Thơ ca chưa tác giả nào có tầm vóc lớn lao.

* Thế mạnh

Thế mạnh của văn hóa Việt Nam: thiết thực, linh hoạt, dung hòa, lành mạnh với những vẻ đẹp dịu dàng, thanh lịch, con người hiền lành, tình nghĩa.

Việt Nam có nhiều tôn giáo nhưng không xảy ra xung đột.

Con người sống tình nghĩa: tốt gỗ hơn tốt nước sơn, cái nết đánh chết cái đẹp….

Các công trình kiến trúc quy mô vừa và nhỏ, hài hòa với thiên nhiên.

b. Đặc điểm của văn hóa Việt Nam

– Tôn giáo: không cuồng tín, cực đoan mà dung hòa các tôn giáo khác nhau tạo nên sự hài hòa, không tìm sự siêu thoát tinh thần bằng tôn giáo, coi trọng cuộc sống trần tục hơn thế giới bên kia.

– Nghệ thuật: sáng tạo những tác phẩm tinh tế nhưng không có quy mô lớn, không mang vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ, phi thường.

– Ứng xử: trọng tình nghĩa nhưng không chú ý nhiều đến trí, dũng, chuộng sự khéo léo, không kì thị, cực đoan, thích sự yên ổn.

– Sinh hoạt: thích chừng mực vừa phải, mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con, nhiều cháu, không mong gì cao xa, khác thường,…

– Quan niệm về cái đẹp: cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo, hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng, quy mô vừa phải.

– Kiến trúc: tuy nhỏ nhưng điểm nhấn lại là sự hài hòa, tinh tế với thiên nhiên.

– Lối sống: ghét phô trương, thích kín đáo, trọng tình nghĩa….

3. Con đường hình thành văn hóa

– Sự tạo tác của chính dân tộc.

– Khả năng chiếm lĩnh, đồng hóa những giá trị văn hóa bên ngoài.

Tổng kết: 

– Nội dung: Từ hiểu biết sâu sắc về vốn văn hóa dân tộc, tác giả đã phân tích rõ những mặt tích cực và một số hạn chế của văn hóa truyền thống. Khi nắm vững bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta có thể khắc phục hạn chế, phát huy điểm mạnh.

– Nghệ thuật: văn phong khoa học chính xác, mạch lạc…

Soạn văn Nhìn về vốn văn hóa dân tộc ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Tác giả phân tích đặc điểm của vốn văn hóa dân tộc dựa trên những phương diện cụ thể nào của đời sống vật chất và tinh thần?

* Vật chất:

– Sinh hoạt: thích chừng mực vừa phải, mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con, nhiều cháu, không mong gì cao xa, khác thường,…

* Tinh thần:

– Tôn giáo: không cuồng tín, cực đoan mà dung hòa các tôn giáo khác nhau tạo nên sự hài hòa, không tìm sự siêu thoát tinh thần bằng tôn giáo, coi trọng cuộc sống trần tục hơn thế giới bên kia.

– Nghệ thuật: sáng tạo những tác phẩm tinh tế nhưng không có quy mô lớn, không mang vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ, phi thường.

– Ứng xử: trọng tình nghĩa nhưng không chú ý nhiều đến trí, dũng, chuộng sự khéo léo, không kì thị, cực đoan, thích sự yên ổn.

– Quan niệm về cái đẹp: cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo, hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng, quy mô vừa phải.

– Kiến trúc: tuy nhỏ nhưng điểm nhấn lại là sự hài hòa, tinh tế với thiên nhiên.

– Lối sống: ghét phô trương, thích kín đáo, trọng tình nghĩa…

Câu 2. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật nhất trong sáng tạo văn hóa của Việt Nam là gì? Đặc điểm này nói lên thế mạnh gì của vốn văn hóa dân tộc? Lấy dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm này.

– Đặc điểm nổi bật của sáng tạo văn hóa Việt Nam là: Văn hóa Việt Nam có tính nhân bản. Tinh thần chung là thiết thực, linh hoạt và dung hòa. Không có khát vọng hướng đến những sáng tạo lớn mà nhạy cảm, tinh nhan, khôn khéo gỡ các khó khăn, tìm được sự bình ổn.

– Đặc điểm này đã nói lên thế mạnh tạo ra cuộc sống bình ổn, nhẹ nhàng.

– Dẫn chứng: những tục ngữ Việt Nam chứa đựng bài học nhân văn nhẹ nhàng mà sâu sắc.

Câu 3. Những đặc điểm nào có thể xem là hạn chế của vốn văn hóa dân tộc?

– Văn hóa Việt Nam chưa có tầm vóc lớn lao, chưa có vị trí quan trọng, chưa nổi bật và chưa có ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác.

– Hạn chế trên các phương diện:

Thần thoại không phong phú.

Tôn giáo, triết học không phát triển, ít quan tâm đến giáo lý.

Khoa học kỹ thuật không phát triển thành truyền thống.

Âm nhạc, hội họa, kiến trúc không phát triển đến tuyệt kĩ.

Thơ ca chưa tác giả nào có tầm vóc lớn lao.

Câu 4. Những tôn giáo nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến văn hóa truyền thống Việt Nam? Người Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng nào để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc? Tìm một số ví dụ trong nền văn học để làm sáng tỏ vấn đề này.

– Những tôn giáo có ảnh hưởng mạnh đến văn hóa truyền thống Việt Nam là: Phật giáo và Nho giáo.

– Người Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng chọn lọc để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc.

– Ví dụ: Tiếp thu những tư tưởng tích cực như nhân quả, đạo hiếu của đạo Phật được tiếp thu…

Câu 5. Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực hay hạn chế của văn hóa Việt Nam? Hãy giải thích rõ vấn đề này?

– Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực.

– Giải thích: Ở đây không phải là sự sáng tạo, tìm tòi, khai phá nhưng nó khẳng định được sự khéo léo, uyển chuyển của người Việt trong việc tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại để tạo nên những nét độc đáo của văn hóa Việt Nam.

Câu 6. Vì sao có thể khẳng định: “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hóa không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó, mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa các giá trị của văn hóa bên ngoài, về mặt đó, lịch sử đã chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh”. Hãy liên hệ với thực tế lịch sử và văn học Việt Nam để làm sáng tỏ vấn đề này.

– Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều năm bị đô hộ, áp bức. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta đã chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa nước ngoài. Nhưng sự ảnh hưởng được tiếp nhận một cách có chọn lọc, trên cơ sở giữ gìn được những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp. Nhờ đó mà nền văn hóa dân tộc trở nên phong phú, đa dạng hơn.

– Liên hệ thực tế lịch sử: Trong thời kỳ bị thực dân Pháp xâm lược, dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởng bởi văn hóa của nước Pháp ở kiến trúc, tôn giáo…

II. Luyện tập

Viết một bài luận (khoảng 3 trang) về một trong những vấn đề sau đây:

1. Anh (chị) hiểu thế nào là truyền thống “tôn sư trọng đạo” – một nét đẹp của văn hoá Việt Nam ? Trình bày những suy nghĩ của anh (chị) về truyền thống này trong nhà trường và xã hội hiện nay.

Gợi ý:

– Giải thích thế nào là “Tôn sư trọng đạo”?

“Tôn sư”: Tôn trọng thầy cô giáo

“Trọng đạo”: Coi trọng đạo lí

– Tại sao cần phải “tôn sư trọng đạo”?

Thấy cô nâng đỡ, truyền đạt tri thức, chắp cánh nâng đỡ con người trong hành trình dài rộng của cuộc đời

Thầy cô dạy ta cách sống, cách làm người, hướng con người tới những giá trị sống tốt đẹp

Thầy cô là những người bạn luôn bên cạnh chia sẻ với học trò mỗi lúc buồn vui hay hạnh phúc.

Biết ơn thầy cô giáo là nét đẹp trong cách sống của con người, là biểu hiện của một người thực sự có văn hóa.

* Liên hệ truyền thống Tôn sư trọng đạo trong nhà trường và xã hội:

– Xã hội: ngày 20 tháng 11 được lấy là ngày nhà giáo Việt Nam.

Học sinh gửi những lời tri ân tới thầy cô nhân ngày 20 tháng 11.

Học hành chăm chỉ, lễ phép, ngoan ngoãn với thầy cô giáo…

2. Theo anh (chị), nét đẹp văn hoá gây ấn tượng nhất trong những ngày Tết Nguyên đán của Việt Nam là gì ? Trình bày hiểu biết và quan điểm của anh (chị) về vấn đề này.

Gợi ý:

– Gói bánh chưng…

– Chúc Tết và lì xì đầu năm.

– Tết trồng cây…

3. Theo anh (chị), hủ tục cần bài trừ nhất trong các ngày lễ, tết ở Việt Nam là gì? Trình bày hiểu biết và quan điểm của anh (chị) về vấn đề này.

Gợi ý: đánh bài, uống rượu bia, hủ tục mê tín dị đoan…

Soạn bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Mẫu 2

Câu 1. Tác giả phân tích đặc điểm của vốn văn hóa dân tộc dựa trên những phương diện cụ thể nào của đời sống vật chất và tinh thần?

– Đời sống vật chất: thích chừng mực vừa phải, mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con, nhiều cháu, không mong gì cao xa, khác thường,…

– Đời sống tinh thần:

Tôn giáo: không cuồng tín, cực đoan mà dung hòa các tôn giáo khác nhau tạo nên sự hài hòa, không tìm sự siêu thoát tinh thần bằng tôn giáo, coi trọng cuộc sống trần tục hơn thế giới bên kia.

Advertisement

Nghệ thuật: sáng tạo những tác phẩm tinh tế nhưng không có quy mô lớn, không mang vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ, phi thường.

Ứng xử: trọng tình nghĩa nhưng không chú ý nhiều đến trí, dũng, chuộng sự khéo léo, không kì thị, cực đoan, thích sự yên ổn.

Quan niệm về cái đẹp: cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo, hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng, quy mô vừa phải.

Kiến trúc: tuy nhỏ nhưng điểm nhấn lại là sự hài hòa, tinh tế với thiên nhiên.

Lối sống: ghét phô trương, thích kín đáo, trọng tình nghĩa…

Câu 2. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật nhất trong sáng tạo văn hóa của Việt Nam là gì? Đặc điểm này nói lên thế mạnh gì của vốn văn hóa dân tộc? Lấy dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm này.

– Đặc điểm nổi bật của sáng tạo văn hóa Việt Nam là: Giàu tính nhân bản; tinh thần chung là thiết thực, linh hoạt và dung hòa…

– Đặc điểm này đã nói lên thế mạnh của vốn văn hóa dân tộc: Tạo ra cuộc sống bình ổn, nhẹ nhàng với những vẻ đẹp dịu dàng thanh lịch sống có tình nghĩa có văn hóa trên một cái nền nhân bản.

– Dẫn chứng: Trang phục truyền thống thể hiện nét đẹp của từng dân tộc.

Câu 3. Những đặc điểm nào có thể xem là hạn chế của vốn văn hóa dân tộc?

Văn hóa Việt Nam chưa có tầm vóc lớn lao, chưa có vị trí quan trọng, chưa nổi bật và chưa có ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác:

Thần thoại không phong phú.

Tôn giáo, triết học không phát triển, ít quan tâm đến giáo lý.

Khoa học kỹ thuật không phát triển thành truyền thống.

Âm nhạc, hội họa, kiến trúc không phát triển đến tuyệt kĩ.

Thơ ca chưa tác giả nào có tầm vóc lớn lao.

Câu 4. Những tôn giáo nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến văn hóa truyền thống Việt Nam? Người Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng nào để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc? Tìm một số ví dụ trong nền văn học để làm sáng tỏ vấn đề này.

– Những tôn giáo có ảnh hưởng mạnh đến văn hóa truyền thống Việt Nam là: Phật giáo và Nho giáo.

– Người Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng chọn lọc tư tưởng tiến bộ, nhân văn của tôn giáo để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc.

– Ví dụ: Sự hiếu thảo; Lòng tốt bụng…

Câu 5. Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực hay hạn chế của văn hóa Việt Nam? Hãy giải thích rõ vấn đề này?

– Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực.

– Giải thích: Ở đây không phải là sự sáng tạo, tìm tòi, khai phá nhưng nó khẳng định được sự khéo léo, uyển chuyển của người Việt trong việc tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại để tạo nên những nét độc đáo của văn hóa Việt Nam.

Câu 6. Vì sao có thể khẳng định: “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hóa không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó, mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa các giá trị của văn hóa bên ngoài, về mặt đó, lịch sử đã chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh”. Hãy liên hệ với thực tế lịch sử và văn học Việt Nam để làm sáng tỏ vấn đề này.

– Lịch sử: Khoảng thời gian dài bị đô hộ, áp bức và đồng hóa. Những giá trị văn hóa gốc phần nhiều đã bị mai một, xóa nhòa. Bởi vậy, văn hóa Việt Nam không thể trông cậy vào khả năng tạo tác mà phải trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa các giá trị văn hóa bên ngoài là một yếu tố.

– Các tôn giáo như “đạo Phật”, Nho giáo được tiếp thu một cách chọn lọc.

– Văn hóa Việt Nam cũng tiếp thu những tư tưởng của văn hóa phương Tây hiện đại nhưng cũng “Việt hóa”.

Lễ Hội Đống Đa Tây Sơn Bình Định Lưu Giữ Văn Hóa Cội Nguồn Dân Tộc

Mảnh đất võ Bình Định không chỉ được biết đến những bãi biển đẹp mê hồn mà còn nổi tiếng với Lễ hội Đống Đa Tây Sơn Bình Định được tổ chức thường niên vào dịp đầu xuân. Đây là lễ hội mang rất nhiều ý nghĩa, ngoài ý nghĩa tưởng nhớ đến công lao to lớn của vua Quang Trung – Nguyễn Huệ với trận Ngọc Hồi Đống Đa lừng lẫy một thời, lễ hội còn có ý nghĩa gìn giữ nét đẹp truyền thống để cho thế hệ nay và mai sau hiểu được và ghi nhớ về tổ tiên với những công lao hiển hách, để thêm yêu quý và tự hào về quê hương, đất nước mình.

Cứ dịp Tết đến Xuân về là người ta lại nô nức, hào hứng kéo nhau đi trẩy hội. Theo thống kê của Bộ VH, TT & DL thì nước ta hiện nay có tới hơn 8.000 lễ hội diễn ra trong năm nhưng Lễ hội Đống Đa Tây Sơn ở Bình Định được coi là một trong những lễ hội lớn nhất nhì cả nước vào những ngày đầu xuân mới. Được tổ chức thường niên vào các ngày mùng 4 và mùng 5 Âm lịch hàng năm tại Bảo tàng Quang Trung thuộc địa phận thôn Kiên Mỹ, thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, lễ hội thu hút đông đảo người dân cả nước tụ họp về đây hay cả những du khách nước ngoài đang du lịch tại mảnh đất này cũng háo hức với lễ hội đặc sắc mà không thể tìm thấy ở quốc gia của mình.

Khi nhận được tin cấp báo, vào ngày 22/12/1788 (ngày 25/11 Âm lịch), Nguyễn Huệ đã xưng vua và lấy tên hiệu là Quang Trung thống lĩnh quân ta tiến thẳng ra Bắc để đánh trả quân Thanh xâm lược. Và chỉ trong đêm mùng 4, rạng sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu ( ngày 29,30 tháng 2 năm 1789), nghĩa quân Tây Sơn bất ngờ tiến đánh đập tan đồn trại giặc Khương Thượng làm cho tướng nhà Thanh là Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử ở núi Ốc, Loa Sơn ( gần Chùa Bộc bây giờ). Trận đánh thắng ấy đã mở đường để cả đại quân Tây Sơn từ Ngọc Hồi thừa thắng xông lên tiến vào kinh thành Thăng Long.

Để tưởng niệm và ghi nhớ công lao trời biển của người anh hùng Nguyễn Huệ – vua Quang Trung, thì cứ vào ngày mùng 4, mùng 5 Âm lịch, lễ hội Đống Đa ở Bình Định lại được diễn ra với rất nhiều nghi thức truyền thống cũng như các trò chơi dân gian hấp dẫn. Lễ tế được tổ chức ở chính điện Tây Sơn với nghi thức đọc sớ tế, dâng hương, dâng hoa trước đông đảo sự chứng kiến của người dân thập phương,  nghi thức càng long trọng hơn bởi được phụ hoa thêm từ những dàn kèn trống âm vang, nền nhạc hiện đại mang âm hưởng hào hùng, cờ lọng, ghi trượng treo ngập tràn khắp mọi nơi như gọi hồn khí thiêng sông núi, tất cả người dân đều mang cảm giác phấn chấn như được hòa nhập cùng với mảnh đất nhuốm đầy hào khí non sông và địa linh nhân kiệt ở nơi đây.

Đấy mới chỉ là phần lễ, còn phần hội được diễn ra mới thú vị hơn cả. Du khách thập phương sẽ được chứng kiến những màn múa nhạc võ Tây Sơn hoành tráng tại lễ hội Tây Sơn ở Bình Định, những tiết mục võ thuật vô cùng đặc sắc đều được biểu diễn bởi các võ sư, võ sĩ, nghệ nhân có tên tuổi hàng đầu của đất võ với những bài quyền truyền thống hết sức nổi tiếng của nhà Tây Sơn như Lão mai độc thọ, Hùng kê quyền, Ngọc trản quyền hay các bài võ sử dụng binh khí như Song phượng kiếm, Lôi long đao, Lôi phong tùy hình kiếm, Tuyết hoa song kiếm, … hoặc các bài roi như Roi Hắc đảnh Ô Sơn, Roi Thái Sơn,… đều được người xem thích thú bằng những tràng pháo tay ròn rã, tiếng hú hét, tán dương nhiệt liệt.

Không chỉ dừng lại là những màn võ thuật công phu, đẳng cấp mà người xem còn được mãn nhãn với màn trình diễn tái hiện lại trận đánh Ngọc Hồi – Đống Đa của vua Quang Trung và đại quân Tây Sơn tiêu diệt 29 vạn quân Thanh, với tiếng binh khí, tiếng hò reo từ quân sĩ, tiếng voi gầm, ngựa hí, súng nổ hòa cùng tiếng trống rền vang. Màn trình diễn tái hiện vô cùng chân thực này thay vì được nghe thuyết minh về lễ hội Đống Đa từ báo, đài, nếu bạn chứng kiến tận mắt sẽ thấy mình như đang đứng ở giữa chiến trường năm xưa, không khi sôi sục hơn bao giờ hết, cả không gian vang vọng hồn thiên non sông, bạn sẽ được quay trở lại lịch sử và cảm nhận thế trận thần tốc, táo bạo mà nghĩa quân Tây Sơn và vua Quang Trung đánh khí thế như thế nào.

Không chỉ hiểu thêm về lịch sử dân tộc, biết thêm tưởng nhớ về công lao to lớn của vị vua Quang Trung – Nguyễn Huệ, bạn còn được khám phá nhiều nghi thức truyền thống, màn trình diễn võ thuật công phu hay chơi các trò chơi dân gian khác mà khi đến với lễ hội Đống Đa Tây Sơn Bình Định sẽ khiến lòng tự hào dân tộc trong bạn được khơi dậy và càng thêm yêu quý mảnh đất địa linh nhân kiệt này cũng như tự hào về những gì đất nước ta đã có được như ngày hôm nay là nhờ những người anh hùng vĩ đại thuở ấy.

Đăng bởi: Nghệ Xứ

Từ khoá: Lễ hội Đống Đa Tây Sơn Bình Định lưu giữ văn hóa cội nguồn dân tộc

Cập nhật thông tin chi tiết về Dân Tộc Tày – Đặc Sắc Văn Hóa Của Người Tày trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!