Xu Hướng 2/2024 # Soạn Bài Lưu Biệt Khi Xuất Dương Soạn Văn 11 Tập 2 Bài 19 (Trang 3) # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Lưu Biệt Khi Xuất Dương Soạn Văn 11 Tập 2 Bài 19 (Trang 3) được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương

Hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu tài liệu Soạn văn 11: Lưu biệt khi xuất dương. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương – Mẫu 1 Soạn văn Lưu biệt khi xuất dương chi tiết

I. Tác giả

– Phan Bội Châu (1867- 1940), tên thuở nhỏ là Phan Văn San, tên hiệu là Sào Nam.

– Quê quán: Làng Đan Nhiễm (nay là xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

– Phan Bội Châu là một nhà yêu nước, nhà cách mạng lớn nhất của dân tộc ta trong vòng 20 năm đầu thế kỉ XX.

– Những tác phẩm tiêu biểu: Sào Nam thi tập, Văn tế Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu niên biểu…

II Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

Bài thơ được viết năm 1905, trước khi Phan Bội Châu chia tay các đồng chí để sang Nhật tìm đường cứu nước.

2. Thể thơ

Thất ngôn bát cú

Hình ảnh mang tính biểu tượng cao.

3. Bố cục

Kết cấu gồm 4 phần theo: Đề – Thực – Luận – Kết:

Phần 1. Hai câu đề: Quan niệm của nhà thơ về chí làm trai và tầm vóc của đấng nam nhi trong vũ trụ.

Phần 2. Hai câu thực: Ý thức trách nhiệm của nhà thơ trước cuộc đời.

Phần 3. Hai câu luận: Thái độ trước tình cảnh của đất nước.

Phần 4. Hai câu kết: Tư thế cũng như khát vọng của nhà thơ trước khi lên đường.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Quan niệm của nhà thơ về chí làm trai và tầm vóc của đấng nam nhi trong vũ trụ

– Câu thơ đầu nói về chí nam nhi: nam nhi thì phải nên sự nghiệp lớn, xứng danh với thiên hạ.

– Quan điểm của Phan Bội Châu: Nếu thời xưa người ta thường phó mặc cho số phận, do mệnh trời, thì theo tác giả số phận của mình phải do chính mình xoay chuyển.

2. Ý thức trách nhiệm của nhà thơ trước cuộc đời

– Khẳng định tinh thần trách nhiệm của công dân là gánh vác giang sơn, đồng thời mang tính khích lệ những bậc nam nhi.

– Khẳng định rằng một người sống vì dân vì nước thì tên tuổi sẽ lưu danh muôn đời.

3. Thái độ trước tình cảnh của đất nước

– Nỗi đau xót trước hoàn cảnh mất nước, nỗi nhục của thân phận nô lệ cùng sự phản kháng ngầm không cam chịu.

– Đất nước lúc này không còn đấng minh quân, sách vở thánh hiền cũng không cứu được đất nước. Câu thơ giống như một lời thức tỉnh yêu nước là phải có hành động thiết thực để cứu nước.

– Phan Bội Châu phản bác nền học vấn cũ, thức tỉnh những chí sĩ yêu nước.

4. Tư thế cũng như khát vọng của nhà thơ trước khi lên đường

– Hình ảnh kì vĩ, lớn lao: biển Đông, cánh gió, sóng bạc với hành động cao cả của nhân vật trữ tình.

– Khát vọng lên đường cứu nước, từ đó khơi gợi nhiệt huyết của một thế hệ.

Tổng kết:

– Nội dung: Lưu biệt khi xuất dương đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỉ XX, với tư tưởng mới mẻ và táo bạo.

– Nghệ thuật: Giọng thơ tâm huyết, hình ảnh giàu sức gợi…

Soạn văn Lưu biệt khi xuất dương ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 2. Tư duy mới mẻ, táo bạo và khát vọng hành động của nhà chí sĩ cách mạng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước được biểu lộ như thế nào?

– Quan niệm mới về chí làm trai và tư thế tầm vóc của con người trong vũ trụ: tức là phải biết sống cho phi thường, hiển hách, dám mưu đồ những việc kinh thiên động địa, xoay chuyển càn khôn.

– Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc: con người dám đối mặt với cả đất trời, vũ trụ để tự khẳng định mình.

– Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước và những tín điều xưa cũ: Sự hăm hở của người ra đi qua khát vọng muốn vượt theo cánh gió dài trên biển rộng để thực hiện lí tưởng cách mạng.

– Khát vọng hành động và tư thế buổi lên đường: khát vọng cháy bỏng buổi ra đi tìm đường cứu nước.

Câu 3. Anh chị có nhận xét gì về hai câu 6 và 8 của bản dịch thơ so với nguyên tác (đối chiếu với phần dịch nghĩa).

Bản dịch thơ so với nguyên tác có phần chưa sát nghĩa:

– Câu 6: Câu thơ dịch là “học cũng hoài” chỉ thể hiện được ý phủ nhận mà chưa thể hiện rõ cái tư thế, khí phách ngang tàng, dứt khoát của tác giả.

– Câu 8: Câu thơ dịch chưa khắc họa được rõ nét tư thế và khí thế hùng mạnh, bay bổng như nguyên tác: “nhất tề phi” – “cùng bay lên”.

Câu 4. Theo anh (chị), những yếu tố nào đã tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ này?

Thể thơ thất ngôn bát cú đường luật.

Hình ảnh có sức truyền tải cao.

Giọng điệu sôi nổi, tràn đầy nhiệt huyết.

Ngôn ngữ bình dị, có sức lay động mạnh mẽ.

Nội dung tư tưởng sâu sắc.

II. Luyện tập 

Viết một đoạn văn trình bày những cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh nghệ thuật ở hai câu thơ cuối bài.

Gợi ý:

Khi đọc hai câu thơ cuối bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương”, ta thấy được hình ảnh kì vĩ của thiên nhiên cũng như tâm thế phi thường của nhân vật trữ tình. Tác giả hiểu rất rõ sự mục rỗng của chế độ đương thời nên muốn tìm một hướng đi riêng nhằm giải phóng dân tộc. Hình ảnh người chí sĩ yêu nước vượt qua “muôn trùng sóng bạc” để hướng tới những điều tốt đẹp cho dân tộc. Con sóng của biển cả hay cũng chính là con sóng của nhiệt huyết dâng trào, để ý chí cứu nước thêm phần mạnh mẽ. Từ đó, tác giả đã gợi lên nhiệt huyết của cả một thế hệ mạnh mẽ, can trường.

Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương – Mẫu 2

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Đọc Tiểu dẫn, chú ý bối cảnh lịch sử đất nước và những ảnh hưởng từ nước ngoài để hiểu bài thơ.

Bối cảnh lịch sử đất nước: Vào những năm cuối thế kỉ XIX, khi phong trào Cần Vương chống Pháp thất bại, Phan Bội Châu là một trong những nhà nho Việt Nam đầu tiên nuôi ý tưởng đi tìm một con đường cứu nước mới. Sau khi đỗ Giải nguyên (1900), ông bắt đầu vào Nam ra Bắc, tìm người cùng chí hướng, lập ra Duy Tân hội – tổ chức cách mạng theo đường lối dân chủ tư sản đầu tiên ở nước ta (1904). Theo chủ trương của hội, ông lãnh đạo phong trào Đông Du và xuất dương sang Nhật Bản. Bài thơ được viết năm 1905, trước khi Phan Bội Châu chia tay các đồng chí để sang Nhật tìm đường cứu nước.

Câu 2. Tư duy mới mẻ, táo bạo và khát vọng hành động của nhà chí sĩ cách mạng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước được biểu lộ như thế nào?

– Quan niệm mới về chí làm trai và tư thế tầm vóc của con người trong vũ trụ: Dám mưu đồ những việc kinh thiên động địa, xoay chuyển càn khôn.

Advertisement

– Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc: Dám đối mặt với cả đất trời, vũ trụ để tự khẳng định mình.

– Khát vọng hành động và tư thế buổi lên đường: Muốn vượt theo cánh gió dài trên biển rộng để thực hiện lí tưởng cách mạng.

Câu 3. Anh chị có nhận xét gì về hai câu 6 và 8 của bản dịch thơ so với nguyên tác (đối chiếu với phần dịch nghĩa).

Bản dịch thơ so với nguyên tác có phần chưa sát nghĩa:

– Câu 6: Câu thơ dịch là “học cũng hoài” chỉ thể hiện được ý phủ nhận mà chưa thể hiện rõ cái tư thế, khí phách ngang tàng, dứt khoát của tác giả.

– Câu 8: Câu thơ dịch chưa khắc họa được rõ nét tư thế và khí thế hùng mạnh, bay bổng như nguyên tác: “nhất tề phi” – “cùng bay lên”.

Câu 4. Theo anh (chị), những yếu tố nào đã tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ này?

Thể thơ thất ngôn bát cú đường luật.

Hình ảnh có sức truyền tải cao.

Giọng điệu sôi nổi, tràn đầy nhiệt huyết.

Ngôn ngữ bình dị, có sức lay động mạnh mẽ.

Nội dung tư tưởng sâu sắc.

II. Trả lời câu hỏi

Viết một đoạn văn trình bày những cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh nghệ thuật ở hai câu thơ cuối bài.

Gợi ý:

Hai câu thơ cuối trong bài “Lưu biệt khi xuất dương” đã khắc họa hình ảnh vĩ của thiên nhiên cũng như tâm thế phi thường của nhân vật trữ tình. Phan Bội Châu hiểu rất rõ chế độ phong kiến đương thời, nên muốn tìm một hướng đi riêng nhằm giải phóng dân tộc. Tác giả khắc họa hình ảnh người chí sĩ yêu nước vượt qua “muôn trùng sóng bạc” để hướng tới những điều tốt đẹp cho dân tộc. Con sóng của biển cả hay cũng chính là con sóng của nhiệt huyết dâng trào, để ý chí cứu nước thêm phần mạnh mẽ.

Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ Soạn Văn 8 Tập 1 Bài 3 (Trang 28)

Soạn bài Tức nước vỡ bờ

Soạn bài Tức nước vỡ bờ – Mẫu 1 Soạn văn Tức nước vỡ bờ chi tiết

I. Tác giả

– Ngô Tất Tố (1893 – 1954) quê ở huyện Lộc Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội), xuất thân là một nhà Nho gốc nông dân.

– Ông là một học giả có nhiều công trình nghiên cứu về triết học, văn học cổ có giá trị; một nhà báo với nhiều bài viết mang khuynh hướng dân chủ và giàu tính chiến đấu; một nhà văn hiện thực chuyên viết về nông thôn trong giai đoạn trước cách mạng.

– Sau cách mạng, Ngô Tất Tố sau sưa hoạt động trong công tác tuyên truyền văn nghệ phục vụ kháng chiến chống Pháp.

– Ông được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996.

– Một số tác phẩm ở nhiều thể loại như: Tắt đèn (tiểu thuyết, 1939), Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, 1940), phóng sự Tập án cái đình (1939), Việc làng (phóng sự, 1940), Trời hửng (dịch, truyện ngắn, 1946), Đóng góp (kịch, 1956)…

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

– “Tắt đèn” là tác phẩm tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố.

– Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” trích trong chương XVIII của tiểu thuyết, tên nhan đề do người biên soạn đặt.

2. Bố cục

Gồm 2 phần:

Phần 1: Từ đầu đến “chồng chị ăn có ngon miệng hay không”. Cảnh chị Dậu chăm sóc chồng bị ốm.

Phần 2. Còn lại. Cảnh người nhà lí trưởng đến bắt nộp sưu và sự phản kháng của chị Dậu.

3. Tóm tắt

Gia đình thuộc “nghèo nhất nhì trong hạng cùng đinh” nên chị Dậu phải chạy ngược chạy xuôi vay tiền để nộp suất sưu cho chồng. Anh Dậu bị ốm nhưng vẫn bị bọn lính đánh trói, lôi ra đình cùm kẹp. Chị Dậu rứt ruột đem con Tí, đứa con gái đầu lòng 7 tuổi bán cho lão Nghị Quế bên thôn Đoài để lấy tiền nộp sưu. Đêm hôm ấy người ta cõng anh Dậu về. Bà con hàng xóm đến cứu giúp, có bà lão đem một bát gạo đến cho chị nấu cháo. Cháo chín, chị Dậu mang đến cho chồng. Nhưng anh Dậu chưa kịp ăn thì cai lệ và người nhà lí trưởng đã đến đòi tiền suất sưu của người em chồng đã chết. Chị Dậu tìm cách van xin để khất sưu, nhưng không được. Chúng định đánh anh Dậu, chị Dậu vùng lên đáp trả lại.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Cảnh chị Dậu chăm sóc chồng

– Hoàn cảnh gia đình:

“nghèo nhất nhì trong hạng cùng đinh” – phải chạy ngược chạy xuôi vay tiền để nộp suất sưu cho chồng.

Anh Dậu bị ốm nhưng vẫn bị bọn lính đánh trói, lôi ra đình cùm kẹp.

Chị Dậu rứt ruột đem con Tí, đứa con gái đầu lòng 7 tuổi bán cho lão Nghị Quế bên thôn Đoài để lấy tiền nộp sưu.

Đêm hôm ấy người ta cõng anh Dậu về. Bà con hàng xóm đến cứu giúp, có bà lão đem một bát gạo đến cho chị nấu cháo.

– Chị Dậu chăm sóc chồng:

Cháo chín, chị mang ra giữa nhà quạt cho nguội.

Khi cháo nguội, chị rón rén mang đến chỗ chống nằm nhẹ nhàng bảo chồng dậy ăn.

Chị ngồi xuống chờ xem chờ chống ăn có ngon miệng không.

2. Cảnh người nhà lí trưởng đến bắt nộp sưu và sự phản kháng của chị Dậu

– Hoàn cảnh: Anh Dậu mới kề bát cháo vào miệng thì cai lệ và người nhà lí trưởng đã sầm sập tiến vào với những roi song, tay thước và dây thừng.

– Mục đích: Bắt chị Dậu nộp nốt chỗ sưu cho người em chồng đã chết từ năm ngoái.

– Thái độ của cai lệ và người nhà lí trưởng:

Quát nạt, đe dọa bằng những lời lẽ hách dịch, kém văn hóa.

Cai lệ còn tát vào mặt chị Dậu, nhảy vào định đánh anh Dậu.

– Chị Dậu:

Ban đầu, chị xưng hô lịch sự “gọi ông – xưng cháu”, nhẫn nhịn van nài tên cai lệ và người nhà lí trưởng khất sưu cho.

Khi tên cai lệ định chạy tới đánh anh Dậu, dường như quá tức mà không chịu được chị cự lại: “Chồng tôi đau ốm, các ông không được phép hành hạ”.

Đến lúc tên cai lệ tát vào mặt chị một cái và vẫn nhảy vào anh Dậu. Những dồn nén của chị Dậu đã bộc phát thành hành động rõ ràng:

Chị nghiến hai hàm răng: “Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem”; “Rồi túm cổ hắn, ấn dúi ra cửa…”. Sự phản kháng mạnh mẽ từ một người phụ nữ lực điền.

Tổng kết:

– Nội dung: Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” đã vạch trần bộ mặt tàn ác, bất nhân của xã hội phong kiến đương thời khi đã đẩy người nông dân vào hoàn cảnh khổ cực. Ngoài ra, tác giả còn cho người đọc thấy được hình ảnh người phụ nữ nông dân vừa giàu tình yêu thương lại vừa dũng cảm mạnh mẽ.

– Nghệ thuật: bút pháp hiện thực, ý nghĩa nhan đề…

Soạn văn Tức nước vỡ bờ ngắn gọn

Hướng dẫn trả lời câu hỏi:

Câu 1. Khi bọn tay sai xông vào nhà chị Dậu, tình thế của chị như thế nào?

Khi bọn tay sai xông vào nhà chị Dậu, tình thế của chị rất thảm thương:

– Anh Dậu vừa tỉnh lại sau một trận ốm thập tử nhất sinh.

– Chị Dậu vừa phải dứt ruột bán đi đứa con gái đầu lòng để lấy tiền nộp sưu.

– Chị được bà lão hàng xóm cho một bát gạo để nấu cháo, chồng chưa kịp ăn thì cai lệ, người nhà lí trưởng đã đến.

Câu 2. Phân tích nhân vật cai lệ. Em có nhận xét gì về tính cách của nhân vật này và sự miêu tả của tác giả?

– Phân tích nhân vật cai lệ:

Cai lệ: viên cai chỉ huy một tốp lính lệ.

Cai lệ ở làng Đông Xá: đứng đầu bọn lính ở huyện đường, chuyên đi đòi sưu thuế.

Hành động: cầm roi thước toan đánh anh Dậu; quát mắng, dọa nạt với lời lẽ không lịch sự; đánh chị Dậu…

– Nhận xét: Cách miêu tả chân thực qua hành động, lời nói của nhân vật.

Câu 3. Phân tích diễn biến tâm trạng của chị Dậu trong đoạn trích. Theo em sự thay đổi thái độ của chị Dậu có được miêu tả chân thực không? Qua đoạn trích này, em có nhận xét gì về tính cách của chị?

* Phân tích:

– Ban đầu: nhẫn nhục, chịu đựng, chỉ nói lí:

Gọi ông, xưng cháu. Lời nói nhún nhường, cầu xin “cháu van ông, đưa ra lý lẽ là chồng đang ốm nên không được đánh đập.

Hành động: run run, chạy đến đỡ tay cai lệ…

– Sau đó: không chịu đựng được nữa vùng dậy phản kháng:

Xưng hô “ông – tôi”, sau đó “mày – bà”. Lời nói đầy quyết liệt thách thức.

Hành động phản kháng đầy mạnh mẽ, khỏe khoắn “túm cổ cai lệ, ấn dúi ra cửa…”.

* Cách miêu tả diễn biến tâm trạng của chị Dậu hết sức chân thực, vì nó được bộc lộ qua từng hoàn cảnh cụ thể, chính hoàn cảnh đã tác động đến diễn biến tâm trạng nhân vật.

* Nhận xét:

– Chị Dậu là một người phụ nữ hết mực yêu chồng thương con.

– Chị cũng là một người phụ nữ khéo léo, biết mềm mỏng.

– Nhưng khi cần, chị cũng rất dũng cảm, mạnh mẽ và dám đấu tranh chống lại cái xấu cái ác.

Câu 4. Em hiểu như thế nào về nhan đề “Tức nước vỡ bờ” đặt cho đoạn trích. Theo em hiểu như vậy có thỏa đáng không? Vì sao?

– Nhan đề: “Tức nước vỡ bờ” trước hết có ý nghĩa tả thực. Khi lượng nước trên sông, suối… quá lớn sẽ làm nước tràn khỏi bờ, gây ra hiện tượng vỡ đê, vỡ bờ. Nhưng hình ảnh trên còn mang ý nghĩa biểu tượng: Sức chịu đựng dù có dai dẳng, bền bỉ thế nào nhưng vẫn có giới hạn. Một khi giới hạn đó bị phá vỡ, con người sẵn sàng vượt qua nó. Khi áp dụng vào trong văn bản này, ý nghĩa của nhan đề mang ý nghĩa “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”.

– Nhận xét: Cách hiểu thoải đáng, vì nó đã thể hiện được đúng ý nghĩa nội dung của đoạn trích.

Câu 5. Chứng minh nhận xét của nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Ngọc Phan: “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo”.

– Tạo dựng tình huống: Cai lệ tát vào mặt chị Dậu, rồi nhảy bổ vào anh Dậu mặc lời van nài của chị.

– Miêu tả ngoại hình, hành động: “Chị túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa”, “Nhanh như cắt, chị Dậu nắm được gậy của hắn”…

– Ngôn ngữ đối thoại tự nhiên, chân thực: Gọi “mày” – xưng “bà”, phù hợp với thái độ của nhân vật.

Câu 6. Nhà văn Nguyễn Tuân cho rằng, với tác phẩm “Tắt đèn”, Ngô Tất Tố đã “xui người nông dân nổi loạn”. Em hiểu như thế nào về nhận xét đó? Qua đoạn trích, hãy làm rõ nhận định trên.

– Lời nhận xét đã phản ánh một quy luật trong xã hội: Khi có áp bức bóc lột, nhất định sẽ có đấu tranh.

– Sự “nổi loạn” ở đây không phải là việc làm trái với đạo lí. Mà sự “nổi loạn” ở đây thể hiện được tinh thần mạnh mẽ, dũng cảm dám đứng lên đấu tranh.

– Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” với hình ảnh chị Dậu khi dám đứng lên chống lại bọn cai lệ và người nhà lí trưởng bất chấp hậu quả đã thể hiện được tinh thần đó.

Soạn bài Tức nước vỡ bờ – Mẫu 2

Câu 1. Khi bọn tay sai xông vào nhà chị Dậu, tình thế của chị như thế nào?

Khi bọn tay sai xông vào nhà chị Dậu, tình thế của chị rất thảm thương:

Anh Dậu vừa tỉnh lại sau một trận ốm thập tử nhất sinh.

Chị Dậu vừa phải dứt ruột bán đi đứa con gái đầu lòng để lấy tiền nộp sưu.

Chị được bà lão hàng xóm cho một bát gạo để nấu cháo, chồng chưa kịp ăn thì cai lệ, người nhà lí trưởng đã đến.

Câu 2. Phân tích nhân vật cai lệ. Em có nhận xét gì về tính cách của nhân vật này và sự miêu tả của tác giả?

– Phân tích nhân vật cai lệ:

Cai lệ: viên cai chỉ huy một tốp lính lệ.

Cai lệ ở làng Đông Xá: đứng đầu bọn lính ở huyện đường, chuyên đi đòi sưu thuế.

Hành động: cầm roi thước toan đánh anh Dậu; quát mắng, dọa nạt với lời lẽ không lịch sự; đánh chị Dậu…

– Nhận xét: Cách miêu tả chân thực qua hành động, lời nói của nhân vật.

Câu 3. Phân tích diễn biến tâm trạng của chị Dậu trong đoạn trích. Theo em sự thay đổi thái độ của chị Dậu có được miêu tả chân thực không? Qua đoạn trích này, em có nhận xét gì về tính cách của chị?

– Ban đầu: nhẫn nhục, chịu đựng, chỉ nói lí:

Gọi ông, xưng cháu. Lời nói nhún nhường, cầu xin “cháu van ông, đưa ra lý lẽ là chồng đang ốm nên không được đánh đập.

Hành động: run run, chạy đến đỡ tay cai lệ…

– Sau đó: không chịu đựng được nữa vùng dậy phản kháng:

Xưng hô “ông – tôi”, sau đó “mày – bà”. Lời nói đầy quyết liệt thách thức.

Hành động phản kháng đầy mạnh mẽ, khỏe khoắn “túm cổ cai lệ, ấn dúi ra cửa…”.

– Nhận xét:

Một người phụ nữ hết mực yêu chồng thương con.

Một người phụ nữ khéo léo, biết mềm mỏng.

Dũng cảm, mạnh mẽ và dám đấu tranh chống lại cái xấu cái ác.

Câu 4. Em hiểu như thế nào về nhan đề “Tức nước vỡ bờ” đặt cho đoạn trích. Theo em hiểu như vậy có thỏa đáng không? Vì sao?

Nhan đề: “Tức nước vỡ bờ” trước hết có ý nghĩa tả thực. Khi lượng nước trên sông, suối… quá lớn sẽ làm nước tràn khỏi bờ, gây ra hiện tượng vỡ đê, vỡ bờ. Nhưng hình ảnh trên còn mang ý nghĩa biểu tượng: Sức chịu đựng dù có dai dẳng, bền bỉ thế nào nhưng vẫn có giới hạn. Một khi giới hạn đó bị phá vỡ, con người sẵn sàng vượt qua nó. Khi áp dụng vào trong văn bản này, ý nghĩa của nhan đề mang ý nghĩa “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”.

Câu 5. Chứng minh nhận xét của nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Ngọc Phan: “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo”.

– Tạo dựng tình huống: Cai lệ tát vào mặt chị Dậu, rồi nhảy bổ vào anh Dậu mặc lời van nài của chị.

– Miêu tả ngoại hình, hành động:

Khi tên cai lệ định chạy tới đánh anh Dậu, dường như quá tức mà không chịu được chị cự lại: “Chồng tôi đau ốm, các ông không được phép hành hạ”.

Đến lúc tên cai lệ tát vào mặt chị một cái và vẫn nhảy vào anh Dậu. Những dồn nén của chị Dậu đã bộc phát thành hành động rõ ràng:

Chị nghiến hai hàm răng: “Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem”; “Rồi túm cổ hắn, ấn dúi ra cửa…”. Sự phản kháng mạnh mẽ từ một người phụ nữ lực điền.

– Ngôn ngữ đối thoại tự nhiên, chân thực: Gọi “mày” – xưng “bà”, phù hợp với thái độ của nhân vật.

Câu 6. Nhà văn Nguyễn Tuân cho rằng, với tác phẩm “Tắt đèn”, Ngô Tất Tố đã “xui người nông dân nổi loạn”. Em hiểu như thế nào về nhận xét đó? Qua đoạn trích, hãy làm rõ nhận định trên.

– Lời nhận xét đã phản ánh một quy luật trong xã hội: Khi có áp bức bóc lột, nhất định sẽ có đấu tranh.

– Sự “nổi loạn” ở đây không phải là việc làm trái với đạo lí. Mà sự “nổi loạn” ở đây thể hiện được tinh thần mạnh mẽ, dũng cảm dám đứng lên đấu tranh.

Advertisement

– Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” với hình ảnh chị Dậu khi dám đứng lên chống lại bọn cai lệ và người nhà lí trưởng bất chấp hậu quả đã thể hiện được tinh thần đó.

Soạn bài Tức nước vỡ bờ – Mẫu 3

Câu 1.

Tình thế của chị Dậu:

Anh Dậu vừa tỉnh lại sau một trận ốm thập tử nhất sinh.

Chị Dậu vừa đi đứa con gái đầu lòng để lấy tiền nộp sưu.

Bà lão hàng xóm cho một bát gạo để nấu cháo, nhưng chồng chưa kịp ăn thì cai lệ, người nhà lí trưởng đã đến.

Câu 2.

– Phân tích nhân vật cai lệ:

Cai lệ ở làng Đông Xá là kẻ đứng đầu bọn lính ở huyện đường, chuyên đi đòi sưu thuế.

Cách xưng hô: Xấc xược “ông – thằng”.

Hành động: trợn ngược mắt quát; giọng hầm hè; cầm roi thước toan đánh anh Dậu và chị Dậu…

– Nhận xét: Cách miêu tả chân thực qua hành động, lời nói của nhân vật.

Câu 3.

– Diễn biến tâm trạng chị Dậu:

Ban đầu thì sợ hãi nên tỏ ra nhẫn nhục và chịu đựng: Gọi “ông”, xưng “cháu”, giọng điệu cầu xin “cháu van ông…”. Hành động nhún nhường, đưa ra lý lẽ là chồng đang ốm nên không được đánh đập.

Sau đó thì phẫn nộ, căm tức nên đã vùng dậy phản kháng: Xưng hô “ông – tôi”, sau đó “mày – bà”. Hành động phản kháng đầy mạnh mẽ, khỏe khoắn “túm cổ cai lệ, ấn dúi ra cửa…”.

– Tính cách của Chị Dậu: Một người phụ nữ yêu thương chồng con, khéo léo, mềm mỏng nhưng cũng rất mạnh mẽ, dũng cảm.

Câu 4.

Ý nghĩa nhan đề “Tức nước vỡ bờ”: Trước hết là một thành ngữ dân gian chỉ một hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống: nếu nước quá đầy, quá lớn thì tất yếu bờ sẽ tràn, sẽ vỡ. Nhà văn Ngô Tất Tố đã mượn hình ảnh trên giống như một lời kêu tinh thần đấu tranh của họ chống lại áp bức bóc lột vì một cuộc sống công bằng.

Câu 5. Chứng minh nhận xét của nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Ngọc Phan: “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo”.

Nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Ngọc Phan đã nhận xét rằng “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo”. Trước hết, đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ nằm ở cuối tác phẩm. Tên cai lệ định chạy tới đánh anh Dậu, dường như quá tức mà không chịu được chị cự lại: “Chồng tôi đau ốm, các ông không được phép hành hạ”. Dù vậy, hắn vẫn tát vào mặt chị một cái và nhảy vào anh Dậu. Những dồn nén của chị Dậu đã bộc phát thành hành động rõ ràng. Tác giả đã miêu tả chị Dậu hiện lên với những hành động nghiến hai hàm răng, túm cổ tên cai lệ và ấn dúi ra cửa. Hành động mạnh mẽ, quyết liệt thể hiện sức khỏe của một người phụ nữ lực điền. Cách gọi “mày” – xưng “bà” rất phù hợp với tâm trạng của nhân vật. Có thể thấy, đoạn văn miêu tả cảnh phản kháng giữa chị Dậu với bọn tay sai qua ngòi bút linh hoạt, pha chút hóm hỉnh, độc đáo. Điều này đã thể hiện việc tác giả xây dựng các tuyến nhân vật đối lập, đặc biệt làm hiện hữu hình ảnh người phụ nữ nông dân mạnh mẽ, bản lĩnh và dám đương đầu với bè lũ hung tàn đòi quyền sống trong xã hội bất công, áp bức.

Câu 6.

Lời nhận xét đã phản ánh một quy luật trong xã hội: Khi có áp bức bóc lột, nhất định sẽ có đấu tranh.

Sự “nổi loạn” ở đây không phải là việc làm trái với đạo lí mà thể hiện được tinh thần dũng cảm, dám đứng lên đấu tranh chống lại áp bức, bất công.

Văn Mẫu Lớp 11: Tổng Hợp Mở Bài Về Bài Thơ Lưu Biệt Khi Xuất Dương (27 Mẫu) Mở Bài Xuất Dương Lưu Biệt Của Phan Bội Châu

Mở bài Lưu biệt khi xuất dương hay nhất

Mở bài Lưu biệt khi xuất dương học sinh giỏi

Mở bài Cảm nhận bài thơ Lưu biệt khi xuất dương

Mở bài phân tích bài Lưu biệt khi xuất dương

Mở bài phân tích hình tượng người chí sĩ 

Mở bài phân tích chí làm trai trong Lưu biệt khi xuất dương

Mở bài Lưu biệt khi xuất dương học sinh giỏi Mở bài mẫu 1

“Con người viết văn, con người làm thơ trong Phan Bội Châu nhất trí với con người chính trị. Ngòi bút Phan Bội Châu sáng ngời chủ nghĩa yêu nước, lí tưởng anh hùng”. Phan Bội Châu là người đầu tiên nuôi ý tưởng đi tìm con đường cứu nước mới, cả cuộc đời văn chương của ông chính là cả cuộc đời cách mạng sáng ngời. Và khi ý chí làm trai sôi sục trong tim ông thì cũng là lúc “Lưu biệt khi xuất dương” ra đời, đánh dấu thời điểm ông lên đường sang Nhật, từ giã bạn bè, đồng chí.

Mở bài mẫu 2

“Thi dĩ ngôn chí” – thơ để nói chí, tỏ lòng. Cho nên tầm vóc của loại thơ này rốt cuộc, phụ thuộc vào tầm vóc của chí. Mà chí khí không phải là những bột phát nhất thời, càng không thể là những chí hướng vay mượn. Chí cần phải được đảm bảo bằng nghiệp. Có thể có những sự nghiệp không thành, nhưng sự dang dở ấy cũng chứng tỏ về một chí lớn đã dấn thân, không phải thứ chí suông. Chính nó là sự đảm bảo cho thơ. Vì thế. thơ sẽ chỉ còn là những lời lẽ khoa trương sáo rỗng, là sự cường điệu đao to búa lớn rẻ tiền, nếu như không có một chí lớn, hơn thế nếu như chí lớn ấy không gắn với một cốt cách lớn, một cuộc đời lớn.

Mở bài cảm nhận Lưu biệt khi xuất dương Mở bài mẫu 1

Vì nền văn chương Việt Nam có nhiều nhà thơ đồng thời là những nhà cách mạng lỗi lạc và các chiến sĩ yêu nước. Nếu chỉ nghe đến Hồ Chí Minh, một con người không bao giờ xưng là nhà thơ nhà văn nhưng suốt cuộc đời hoạt động cách mạng đều có bài thơ đẹp hay Tố Hữu cũng là một nhà thơ vừa là một chiến sĩ tranh đấu cách mạng thì ta cũng chẳng thể không biết về Phan Bội Châu. Ông là một chiến sĩ cách mạng hết mình cho sự nghiệp dân tộc. Cũng tương tự với Hồ Chí Minh thì Phan Bội Châu cũng có một số tác phẩm văn chương nhất định. Trong danh sách các tác phẩm của ông có thể nhắc đến bài thơ Lưu biệt khi xuất dương.

Mở bài mẫu 2

Phan Bội Châu là một nhà yêu nước của đầu thế kỉ XX, một chí sĩ cách mạng luôn mang trong mình tinh thần kháng chiến chống Pháp mạnh mẽ đồng thời ông cũng là một nhà văn hóa lớn có nhiều đóng góp cho lĩnh vực văn chương trong đó có tác phẩm “Xuất dương lưu biệt”. Bài thơ thể hiện chí làm trai của Sào Nam Tử (Bút danh) với hoài bão lớn lao, khát vọng cứu nước sục sôi và tầm nhìn tư tưởng tiến bộ của tác giả. Tác phẩm đã để lại cho em cũng như biết bao độc giả khác nhiều ấn tượng bởi nó toát lên con người của cụ Phan.

Mở bài mẫu 3

Phan Bội Châu nhân vật lịch sử có tình yêu nước vô bờ bến, ông luôn mang trong mình ý chí phản kháng giặc ngoại xâm và nuôi chí lớn giải phóng dân tộc, tư tưởng đấu tranh của ông khuynh hướng dân chủ tư sản ra đi tìm con đường cứu nước ở các nước tư sản.

Mở bài mẫu 4

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng nhận định “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”. Văn học vì lẽ đó vẫn luôn song hành với mỗi bước đi của lịch sử. Văn học Việt Nam đã ghi nhận rất nhiều cây bút cùng những tác phẩm nổi bật trong thời đại văn học. “Xuất dương lưu biệt” với tinh thần nhiệt huyết, quyết tâm đi tìm con đường cứu nước của Phan Bội Châu cũng được đánh giá là một tác phẩm như thế.

Mở bài mẫu 5

Sê khốp đã từng có ý kiến rằng: “Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà văn cả, nếu anh không có giọng riêng, anh ta có trở thành nhà văn hiện thực”. Vâng, mỗi nhà văn, nhà thơ muốn để lại dấu ấn cho độc giả thì phải có đặc trưng, phong cách của riêng mình. Cây đại thụ lớn góp phần vào nền văn học Việt Nam có thể gọi tên Phan Bội Châu. Tác phẩm Lưu biệt khi xuất dương là một bài thơ mang đậm khi thế dân tộc, lý tưởng cao đẹp của ông.

Mở bài mẫu 6

Hoàn cảnh ra đời của bài thơ Xuất dương lưu biệt là những năm đầu thế kỷ XX, đất nước ta đã mất chủ quyền, hoàn toàn lọt vào tay thực dân Pháp. Tiếng trống, tiếng mõ Cần Vương đã tắt, báo hiệu sự bế tắc của con đường cứu nước theo tư tưởng phong kiến do các sĩ phu lãnh đạo. Phan Bội Châu lúc này mới ba mươi tám tuổi, là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ cách mạng mới, quyết tâm vượt mình, bỏ qua mớ giáo lý đã quá lỗi thời của đạo Khổng để đón nhận tư tưởng tiên phong trong giai đoạn, mong tìm ra bước đi mới cho dân tộc, nhằm tự giải phóng mình. Phong trào Đông du được nhóm lên cùng với bao nhiêu hy vọng…

Mở bài mẫu 7

Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là một nhân vật vĩ đại (Tôn Quang Phiệt), Phan Bội Châu là linh hồn của các phong trào vận động giải phóng Tổ quốc khoảng 25 năm dầu thế kỉ XX.

Mở bài phân tích bài Lưu biệt khi xuất dương Mở bài mẫu 1

Phan Bội Châu được nhắc đến là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có ý thức dùng văn chương để vận động, tuyên truyền cách mạng. Ông cũng chính là người khơi dòng cho loại văn chương trữ tình chính trị. Trong đó, bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương” là một tác phẩm tiêu biểu.

Mở bài mẫu 2

Phan Bội Châu (1867-1940), ôi cái tên đẹp một thời. “Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là một nhân vật vĩ đại”. Bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương” được viết bằng chữ Hán, thể thất ngôn bát cú Đường luật, bài thơ thể hiện vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng trong đầu thế kỉ XX : táo bạo, nhiệt huyết lý tưởng giải phóng dân tộc luôn dâng cao. Ông đã cho người đọc thấy được không khí cách mạng sục sôi giai đoạn đầu thế kỉ XX của những con người yêu nước và tiến bộ của nước nhà.

Mở bài mẫu 3

Phan Bội Châu nhà yêu nước, anh hùng giải phóng dân tộc nổi tiếng trong lịch sử hiện đại Việt Nam, Phan Bội Châu chính là người khởi xướng các phong trào giải phóng Tổ quốc trong những năm đầu thế kỉ XX như Hội Duy Tân, phong trào Đông du, Việt Nam Quang Phục Hội. Tên tuổi của ông cũng nổi tiếng với nhiều bài thơ, cuốn sách, bài văn tế…Phan Bội Châu luôn mang trong mình lý tưởng, khát vọng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước dân chủ tiến bộ.

Mở bài mẫu 4

Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam chúng thi hành chính sách bóc lột sức lao động, đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong bể máu, khiến cho lòng dân vô cùng căm phẫn. Chính điều đó đã thôi thúc các nhà yêu nước nung nấu con đường giải phóng dân tộc. Tiêu biểu trong thời kì đầu là Phan Bội Châu Ông vừa là nhà cách mạng yêu nước đồng thời là một nhà văn hóa lớn. Ông để lại nhiều trước tác trên nhiều lĩnh vực trong đó thi ca chiếm một nội dung quan trọng. Nổi bật trong thơ của Phan Bội Châu là bài “Lưu biệt khi xuất dương”. Bài thơ đã lưu lại tình cảm, cảm xúc của tác giả lúc từ biệt trước khi sang Nhật đồng thời thể hiện tinh thần, ý chí quyết tâm cứu nước của người chiến sĩ cách mạng.

Mở bài mẫu 5

Những năm đầu thế kỉ XX, trong lúc đất nước Việt Nam mất đi chủ quyền, phong trào Cần Vương thất bại thì tư tưởng dân chủ tư sản đã thổi một luồng gió mới đến các thanh niên yêu nước. Họ tìm thấy những lí tưởng mới mẻ và ra đi với một niềm tin mạnh mẽ vào dân tộc. Một trong những nhà cách mạng đã có cuộc ra đi hào hùng như vậy là Phan Bội Châu. Trước khi lên đường sang Nhật Bản, ông đã viết bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương” như một lời từ biệt. Đây là một bài thơ đặc sắc trong kho tàng văn thơ của Phan Bội Châu.

Mở bài mẫu 6

Phan Bội Châu được coi là một trong số những anh hùng kiệt xuất có tầm ảnh hưởng lớn đối với cách mạng Việt Nam trong những năm đầu của thế kỉ XX. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình ông chưa một lần được hưởng niềm vui chiến thắng nhưng tình yêu đất nước, khát vọng hòa bình và ý chí đấu tranh của ông luôn là ngọn lửa tiếp thêm nhiệt huyết, đam mê cho nhiều thế hệ sau này. Mà trước hết, thơ ca là mặt trận để ông bộc lộ điều ấy. Lưu biệt khi xuất dương là một bài thơ như thế.

Mở bài mẫu 7

Phan Bội Châu (1867-1940), quê tại Làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, ngay từ nhỏ ông đã thể hiện là mình là một người tài hoa xuất chúng, lại sớm có lòng yêu nước và ý thức về việc giải phóng dân tộc. Phan Bội Châu cũng là một người mang quan niệm nhập thế tích cực vô cùng sâu sắc, nặng lòng với nghiệp công danh cùng món nợ của phận nam nhi.

Mở bài mẫu 8

Phan Bội Châu vốn được biết đến là một chí sĩ yêu nước, là một người lãnh đạo nhiều phong trào yêu nước. Tuy con đường mà Phan Bội Châu đang đi gặp nhiều chông gai và đến cuối cùng ông phải chịu thất bại nhưng ông vẫn là tấm gương sáng của thế hệ mai sau. Không chỉ là một người chí sĩ, Phan Bội Châu còn là một người nghệ sĩ với nhiều tác phẩm hay.

Mở bài mẫu 9

Phan Bội Châu (1867-1940) là một nhà yêu nước và cách mạng lớn của dân tộc, trong ông luôn sục sôi ý chí tìm ra con đường cứu nước mới cho dân tộc. Tuy văn tài lỗi lạc nhưng ông không xem văn chương là con đường sự nghiệp của mình, ông chỉ muốn dùng nó để lên tiếng cho cách mạng, cho dân tộc đang sống trong đói khổ lầm than, để những người thanh niên yêu nước đứng dậy làm cách mạng cứu nước, cứu dân. Tinh thần yêu nước ấy được thể hiện rõ trong tác phẩm “Lưu biệt khi xuất dương” (1905) được ông sáng tác trước lúc lên đường sang Nhật.

Mở bài mẫu 10

Phan Bội Châu là một nhà văn hóa lớn, một nhà chính trị, “một nhân vật vĩ đại”, có nhiều hoạt động tiến bộ đầu thế kỷ XX, ông được biết đến với vai trò là vị lãnh tụ tiêu biểu nhất trong các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ trước. Đặc biệt nổi bật với tư tưởng giải phóng dân tộc theo con đường của các nước tư bản chủ nghĩa, mặc dù sau đó thất bại nhưng cũng đã mở ra một cách nhìn mới về việc làm cách mạng cho thế hệ đi sau trong đó có Hồ Chí Minh. Lưu biệt khi xuất dương chính là một tác phẩm mang đầy đủ phong cách sáng tác ấy của Phan Bội Châu, cùng với hoàn cảnh ra đời đặc biệt gắn liền với sự chuyển biến trong tư tưởng cách mạng của Phan Bội Châu.

Mở bài mẫu 11

Trong nền văn học Việt Nam có những nhà thơ còn là những nhà chính trị tài ba, những anh hùng cứu nước. Nếu như chúng ta biết đến Hồ Chí Minh, một người không bao giờ tự xưng là nhà thơ nhà văn nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng lại những vần thơ hay, Tố Hữu cũng là một nhà thơ đồng thời là một chiến sĩ đấu tranh cách mạng thì ta cũng không thể nào không nhắc đến Phan Bội Châu. Ông là một nhà cách mạng hết lòng vì sự nghiệp đất nước. Cũng giống như Hồ Chí Minh thì Phan Bội Châu cũng có những sáng tác văn học nhất định. Trong số những sáng tác của ông phải kể đến bài thơ Xuất dương lưu biệt.

Mở bài mẫu 12

Lưu biệt khi xuất dương chính là bài thơ khẳng định được chí làm trai và sự quyết tâm làm nên sự nghiệp lớn để cứu nước cứu dân của nhân vật. Đó cũng chính là sự quyết tâm và ý tưởng mới mẻ của tác giả Phan Bội Châu

Advertisement

Mở bài mẫu 13

Phan Bội Châu (1867-1940) là nhà nho đầu tiên nuôi ý tưởng đi tìm một con đường cứu nước mới. Ông học hành thi cử không phải để làm quan mà là để trang bị vốn hiểu biết, tạo uy tín chuẩn bị cơ sở cho hoạt động Cách mạng. Bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương” được sáng tác vào năm 1905 trước lúc tác giả sang Nhật Bản tìm một con đường cứu nước mới, ông làm bài thơ này để giã từ bè bạn, đồng chí. Bài thơ khắc họa vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỉ XX, với tư tưởng mới mẻ táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi nổi và khát vọng cháy bỏng trong buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước.

Mở bài phân tích hình tượng người chí sĩ Mở bài mẫu 1

Thế kỉ XX, đặc biệt là những năm đầu, đất nước, nhân dân ta đã ghi nhận nhiều gương mặt các nhà cách mạng, nhà chí sĩ yêu nước lỗi lạc như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,… và không thể không kể đến Phan Bội Châu. Đóng góp to lớn của ông đối với thời đại khó mà kể hết được, trước hết là tinh thần yêu nước. Đã nhiều lần ông gửi gắm điều ấy trong các sáng tác sục sôi ý chí căm hờn, thúc giục thế hệ trẻ phải đứng lên đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Một trong số đó, có Lưu biệt khi xuất dương đã khắc họa thành công hình ảnh người chí sĩ yêu nước lúc lên đường thực hiện ước mơ lớn.

Mở bài mẫu 2

Phan Bội Châu vị lãnh tụ của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX. Mặc dù mang trong mình tâm huyết lớn lao song sự nghiệp của ông lại không thành, nhưng lòng yêu nước nồng nàn, cháy bỏng của ông vẫn lưu mãi muôn đời. Ông dùng thơ văn của mình như một thứ vũ khí đắc lực để cổ vũ, tuyên truyền cách mạng. Xuất dương khi lưu biệt là một trong những bài thơ như vậy.

Mở bài phân tích chí làm trai trong Lưu biệt khi xuất dương Mở bài mẫu 1

Lưu biệt khi xuất dương” khẳng định chí làm trai và quyết tâm xuất dương, làm nên sự nghiệp lớn cứu nước cứu dân. Đó là sự quyết tâm cao độ và những ý tưởng mới mẻ của nhân vật trữ tình buổi đầu ra nước ngoài tìm đường cứu nước.

Mở bài mẫu 2

Xuất dương lưu biệt là bài thơ khẳng định chí làm trai và quyết tâm làm nên sự nghiệp lớn cứu nước cứu dân. Đó là sự quyết tâm và ý tưởng mới mẻ của Phan Bội Châu.

Mở bài mẫu 3

Những năm đầu thế kỉ XX, đất nước ta một lần nữa lại bị ngoại bang xâm lược; những cuộc kháng chiến nổ ra khắp trong cả nước. Người chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu là lá cờ đầu kháng chiến, ông không chỉ có con đường cứu nước mới mẻ mà ông còn để lại một kho tàng văn học lớn, có sức cổ động mạnh mẽ, trong đó không thể không nhắc đến bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương”. Bài thơ không chỉ nói lên tinh thần yêu nước, khát vọng giải phóng dân tộc mà còn nói lên “chí làm trai” khác biệt.

Soạn Bài Phép Phân Tích Và Tổng Hợp Soạn Văn 9 Tập 2 Bài 18 (Trang 9)

Soạn bài Phép phân tích và tổng hợp

Mời các bạn học sinh lớp 9 tham khảo, để có thể chuẩn bị bài học trước khi đến lớp một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Soạn bài Phép phân tích và tổng hợp – Mẫu 1 I. Tìm hiểu phép lập luận phân tích và tổng hợp

Đọc văn bản “Trang phục” trong SGK và trả lời câu hỏi:

a. Ở đoạn mở đầu, tác giả nêu ra một loạt dẫn chứng về cách ăn mặc nhằm nói lên điều gì? Hai luận điểm chính trong văn bản là gì? Tác giả dùng phép lập luận nào để rút ra luận điểm đó?

b. Sau khi đã nêu ra một số biểu hiện của những “quy tắc ngầm” về trang phục, bài viết đã dùng phép lập luận gì để chốt lại vấn đề? Phép lập luận này thường được đặc ở vị trí nào trong bài văn?

Tác giả nêu ra các dẫn chứng về ăn mặc nhằm gợi ra vấn đề về tính chỉnh tề, đồng bộ, thích hợp trong sử dụng trang phục.

Gợi ý:

a. Ở đoạn đầu, các dẫn chứng về cách ăn mặc để từ đó đưa ra nhận xét về vấn đề ăn mặc chỉnh tề.

– Hai luận điểm chính:

Ăn mặc phù hợp với hoàn cảnh.

Ăn mặc phù hợp với đạo đức và hài hòa với môi trường sống.

– Tác giả dùng phép phân tích để rút ra hai luận điểm.

b.

– Từ việc phân tích những biểu hiện cụ thể của những “quy tắc ngầm” trong ăn mặc, tác giả đã kết lại vấn đề bằng phương thức lập luận tổng hợp: “Thế mới biết, trang phục hợp văn hoá, hợp đạo đức, hợp môi trường mới là trang phục đẹp”.

– Phần lập luận tổng hợp thường được đặt ở cuối đoạn hoặc cuối bài.

Tổng kết:

– Để làm rõ ý nghĩa của một sự vật, hiện tượng nào đó, người ta thường dùng phép phân tích và tổng hợp.

– Phân tích là phép lập luận trình bày từng bộ phận, phương diện của một vấn đề nhằm chỉ ra nội dung sự vật, hiện tượng. Để phân tích nội dung của sự vật, hiện tượng, người ta có thể vận dụng các biện pháp nêu giải thiết, so sánh, đối chiếu… và cả phép lập luận, chứng minh.

– Tổng hợp là phép lập luận rút ra cái chung từ những điều đã phân tích. Không có phân tích thì không có tổng hợp. Lập luận tổng hợp thường được đặt ở cuối đoạn hay cuối bài, ở phần kết luận của một phần hay toàn bộ văn bản.

II. Luyện tập

Tìm hiểu kĩ năng phân tích trong văn bản “Bàn về đọc sách” của Chu Quang Tiềm.

1. Tác giả đã phân tích như thế nào để làm sáng tỏ luận điểm: “Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn”?

– Nêu ra luận điểm cơ bản: Học vấn là của nhân loại. Sách là nơi ghi chép và lưu truyền học vấn, kho báu di sản tinh thần của nhân loại.

– Giải thiết:

Muốn tiến lên phía trước phải đọc sách để chiếm lĩnh thành tựu nhân loại đã đạt trong quá khứ.

Không đọc sách là xóa bỏ thành tựu nhân loại đã đạt được trong quá khứ, sẽ lùi điểm xuất phát hàng nghìn năm.

2. Tác giả đã phân tích những lí do phải chọn sách để đọc như thế nào?

Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu, chọn sách mà đọc kĩ, vừa đọc vừa nghiền ngẫm mới có tác dụng.

Sách nhiều dễ bị lạc hướng. Chọn sách quan trọng, cơ bản để đọc, không cần đọc nhiều.

3. Tác giả phân tích tầm quan trọng của việc đọc sách như thế nào?

– Đọc sách không cần nhiều.

– Quan trọng nhất là chọn cho tinh, đọc cho kĩ.

– Đọc 10 quyển sách không quan trọng bằng đọc kĩ một quyển sách quan trọng.

– Đọc ít mà kĩ sẽ tạo thành nếp suy nghĩ sâu xa, tích lũy dần dần tri thức.

– Đọc sách không phải để trang trí bộ mặt như kẻ trọc phú khoe của. Đó là cách đọc sách tự lừa dối mình, thể hiện phẩm chất tầm thường thấp kém.

– Phải đọc cả hai loại sách: sách thưởng thức và sách chuyên môn. Không nên coi thường sách thường thức vì nó tạo nên nền văn hóa rộng cho chuyên môn sâu. Có như thế, mới có tri thức vững.

4. Qua đó, em hiểu phân tích vai trò có tác dụng như thế nào trong lập luận?

Phân tích vai trò sẽ giúp người đọc hiểu được vấn đề một cách đa chiều nhất, khi người viết trình bày các khía cạnh khác nhau của một vấn đề.

Soạn bài Phép phân tích và tổng hợp – Mẫu 2 I. Tìm hiểu phép lập luận phân tích và tổng hợp

Gợi ý:

1. Các dẫn chứng nhằm rút ra nhận xét về vấn đề ăn mặc chỉnh tề.

– Luận điểm chính:

Ăn mặc phù hợp với từng công việc, hoàn cảnh.

Ăn mặc phù hợp với đạo đức, giản dị và hài hòa với môi trường sống.

– Tác giả sử dụng phép phân tích.

2.

Bài viết sử dụng phép tổng hợp để chốt lại vấn đề.

Phép lập luận này thường được đặt ở cuối đoạn hoặc cuối bài.

II. Luyện tập

Tìm hiểu kĩ năng phân tích trong văn bản “Bàn về đọc sách” của Chu Quang Tiềm.

1. Tác giả đã phân tích để làm sáng tỏ luận điểm:

– Tác giả đã nêu ra luận điểm cơ bản: Học vấn là của nhân loại. Sách là nơi ghi chép và lưu truyền học vấn, kho báu di sản tinh thần của nhân loại.

– Chứng minh bằng lí lẽ:

Muốn tiến lên phía trước phải đọc sách để chiếm lĩnh thành tựu nhân loại đã đạt trong quá khứ.

Không đọc sách là xóa bỏ thành tựu nhân loại đã đạt được trong quá khứ, sẽ lùi điểm xuất phát hàng nghìn năm.

– Rút ra kết luận: Cần đọc sách, đọc sách là sự chuẩn bị để đi trên con đường học vấn.

Advertisement

2. Tác giả đã phân tích những lí do phải chọn sách để đọc:

Sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu, chọn sách mà đọc kĩ, vừa đọc vừa nghiền ngẫm mới có tác dụng.

Sách nhiều dễ bị lạc hướng. Chọn sách quan trọng, cơ bản để đọc, không cần đọc nhiều.

3. Tác giả phân tích tầm quan trọng của việc đọc sách:

Đọc sách không cần nhiều.

Quan trọng nhất là chọn cho tinh, đọc cho kĩ.

Đọc 10 quyển sách không quan trọng bằng đọc kĩ một quyển sách quan trọng.

Đọc ít mà kĩ sẽ tạo thành nếp suy nghĩ sâu xa, tích lũy dần dần tri thức.

Đọc sách không phải để trang trí bộ mặt như kẻ trọc phú khoe của. Đó là cách đọc sách tự lừa dối mình, thể hiện phẩm chất tầm thường thấp kém.

Phải đọc cả hai loại sách: sách thưởng thức và sách chuyên môn. Không nên coi thường sách thường thức vì nó tạo nên nền văn hóa rộng cho chuyên môn sâu. Có như thế, mới có tri thức vững.

4.

Phân tích có vai trò trình bày các khía cạnh khác nhau của một vấn đề, một sự vật.

Soạn Bài Luyện Tập Thao Tác Lập Luận So Sánh Soạn Văn 11 Tập 1 Tuần 11 (Trang 116)

Soạn bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh

Tài liệu được dành cho các bạn học sinh lớp 11 . Mời tham khảo nội dung chi tiết ngay sau đây.

Soạn bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh – Mẫu 1

Câu 1. Tâm trạng của nhân vật trữ tình khi về thăm quê trong hai bài thơ:

(Hạ Tri Chương, Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê)

(Chế Lan Viên, Trở lại An Nhơn)

Gợi ý:

– Giống nhau: Nhân vật trữ tình trong hai bài thơ đều rời quê hương ra đi lúc còn trẻ và trở về lúc đã có tuổi. Và khi về quê đều trở thành “người xa lạ” ngay trên chính quê hương của mình. Cả hai nhà thơ đều cảm thấy ngậm ngùi, xúc động sau nhiều năm trở về quê hương.

– Khác nhau:

Hạ Tri Chương viết: “Hỏi rằng: Khách à chốn nào lại chơi?”: Không còn ai nhận ra mình là người cùng quê.

Chế Lan Viên viết: “Chẳng lẽ thăm quê lại hỏi người”: Quê hương đã biến đổi quá nhiều sau chiến tranh, khiến cho tác giả không còn nhận ra.

Câu 2. Học cũng có ích như trồng cây, mùa xuân cho hoa, mùa thu được quả.

Đối tượng so sánh: học – trồng cây

Mùa xuân, mùa thu là quá trình học tập; còn hoa, quả là kết quả thu được sau khi học tập.

Ý nghĩa của việc so sánh: Lời nhắc nhở con người cần phải cố gắng học tập, kiên trì trau dồi kiến thức và kĩ năng thì mới có thể đạt được kết quả tốt.

Câu 3. So sánh ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và ngôn ngữ thơ Bà Huyện Thanh Quan qua hai bài thơ Tự tình (bài I) và Chiều hôm nhớ nhà.

– Giống nhau: Thể thơ thất ngôn bát cú, tuân theo quy tắc niêm luật.

– Khác nhau:

Trong Tự tình: Sử dụng ngôn ngữ hàng ngày rất gần gũi (tiếng gà văng vẳng, mõ thảm, chuông sầu, những tiếng rền rĩ, khắp mọi chòm…) kể cả những chữ rất khó dùng (cớ sao om, duyên mõm mòm, già tom). Trong bài chỉ có một câu nhiều từ Hán Việt: “Tài tử vãn nhân ai đó tá?”

Trong Chiều hôm nhớ nhà: Sử dụng các từ Hán Việt (hàng hôn, ngư ông, viễn phố, mục tử, cô thôn, lữ thứ, hàn ôn…). Nhiều từ ngữ mang tính ước lệ, được dùng nhiều trong thơ cổ như ngàn mai, dặm liễu.

Câu 4. Tự chọn đề tài (một danh ngôn hoặc thành ngữ, tục ngữ có nội dung so sánh), để viết đoạn văn so sánh.

Gợi ý:

– Đoạn 1:

Câu tục ngữ “Một mặt người bằng mười mặt của” muốn khẳng định giá trị của con người. Đầu tiên, “một mặt người” là hình ảnh hoán dụ (lấy bộ phận để chỉ toàn thể), ở đây là chỉ con người. Còn “của” có nghĩa là của cải, thuộc về giá trị vật chất. Cách nói “mười mặt của” dùng để chỉ số nhiều, có nhiều của cải vật chất. Ông cha ta đã dùng cách so sánh “bằng” kết hợp với sự đối lập giữa đơn vị chỉ số lượng – ít và nhiều (một với mười) để khẳng định sự quý giá của con người, so với của cải vật chất. Quả vậy, trong cuộc sống, chúng ta có thể mất đi tất cả tiền bạc, của cải. Nhưng chỉ cần vẫn còn con người ở đó, không có gì là không thể lấy lại được. Trong lao động, con người chính là người đã làm ra những của cải, vật chất. Trong mối quan hệ với những người xung quanh, nếu chỉ biết coi trọng của cải, chúng ta sẽ dễ trở thành thực dụng, sống ích kỷ và không có tình cảm. Những người sống như vậy sẽ không có được tình yêu thương của những người xung quanh. Của cải rất đáng quý, nhưng bản thân con người còn đáng quý hơn. Con người là một sinh vật hoàn hảo của vũ trụ. Con người có hình thể, bản năng và trí tuệ – đó chính là thứ vũ khí mạnh nhất. Câu tục ngữ không chỉ đề cao giá trị của con người mà còn muốn khuyên nhủ chúng ta cần biết cố gắng rèn luyện bản thân để khẳng định được giá trị của chính mình. Như vậy, câu tục ngữ trên đã đem đến một bài học quý giá cho mỗi người.

– Đoạn 2:

Câu tục ngữ “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” đã gửi gắm bài học quý giá cho mỗi người. Câu tục ngữ có hai lớp nghĩa là nghĩa đen và nghĩa bóng. Đầu tiên theo nghĩa đen, chúng ta có thể hiểu “gỗ” là phần rắn nằm dưới vỏ của thân và cành một số cây, dùng làm vật liệu xây dựng, nguyên liệu làm giấy… Còn “nước sơn” chính là màu được tô vẽ bên ngoài để tránh mối mọt và trang trí cho gỗ thêm phần màu sắc và thẩm mỹ. Xét về nghĩa bóng, “gỗ” là nói tới chất lượng bên trong của đồ vật còn “nước sơn” là hình thức bên ngoài. Tính từ “tốt” được điệp lại hai lần nhằm nhấn mạnh vào đặc điểm, tính chất của “gỗ” và “nước sơn”. Hai hình ảnh “gỗ” và “nước sơn” được so sánh không ngang bằng “hơn” để gửi gắm thông điệp chúng ra nên coi trọng bản chất bên trong hơn là bề ngoài bóng bẩy. Suy rộng ra có thể hiểu lời khuyên từ câu “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” là coi trọng bản chất, nhân cách của con người chứ không chỉ nhìn nhận, đánh giá qua vẻ bề ngoài của người đó. Câu tục ngữ vô cùng đúng đắn khi khuyên nhủ mỗi người về cách đánh giá người khác. Không thể phủ nhận được vai trò của ngoại hình trong cuộc sống. Khi nhìn thấy một người ăn mặc chỉn chu và sạch sẽ, chắc chắn mọi người đều sẽ có ấn tượng tốt đẹp. Nhưng đó yếu tố quyết định tất cả, mà còn phải xem đến cách hành động, cách cư xử của người đó. Có những người bên ngoài ăn mặc giản dị, nhưng họ lại có tấm lòng cao quý, đẹp đẽ. Có những người bên ngoài ăn mặc sang trọng, nhưng họ lại có tấm lòng xấu xa, ích kỷ. Như vậy, mỗi người không nên quá chú trọng hình thức bên ngoài mà cần phải tích cực rèn luyện phẩm chất, đạo đức bên trong.

Soạn bài Luyện tập thao tác lập luận so sánh – Mẫu 2

Câu 1. Tâm trạng của nhân vật trữ tình khi về thăm quê trong hai bài thơ:

(Hạ Tri Chương, Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê)

(Chế Lan Viên, Trở lại An Nhơn)

Gợi ý:

– Giống nhau: Nhân vật trữ tình xa quê hương khi còn trẻ và trở về lúc đã có tuổi.

– Khác nhau:

Hạ Tri Chương viết: Đau xót, buồn bã khi không ai nhận ra mình là người cùng quê.

Chế Lan Viên viết: Buồn bã khi quê hương đã thay đổi sau chiến tranh, cảnh cũ đã không còn.

Câu 2. Học cũng có ích như trồng cây, mùa xuân cho hoa, mùa thu được quả.

Đối tượng so sánh: học – trồng cây

Ý nghĩa của việc so sánh: Con người cần phải cố gắng học tập, kiên trì trau dồi kiến thức và kĩ năng thì mới có thể đạt được kết quả tốt.

Câu 3. So sánh ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương và ngôn ngữ thơ Bà Huyện Thanh Quan qua hai bài thơ Tự tình (bài I) và Chiều hôm nhớ nhà.

Advertisement

– Giống nhau: Thể thơ thất ngôn bát cú, tuân theo quy tắc niêm luật.

– Khác nhau:

Tự tình: Sử dụng ngôn ngữ hàng ngày rất gần gũi.

Chiều hôm nhớ nhà: Sử dụng các từ Hán Việt, mang tính ước lệ…

Câu 4. Tự chọn đề tài (một danh ngôn hoặc thành ngữ, tục ngữ có nội dung so sánh), để viết đoạn văn so sánh.

Gợi ý:

Câu tục ngữ “Tấc đất, tấc vàng” đã khẳng định tầm quan trọng của đất đai. Trước hết, “tấc” là đơn vị đo lường, “đất” hiểu đơn giản là chất rắn làm thành lớp trên cùng của bề mặt Trái Đất, tạo thành khoảng không gian có thể dùng để con người sinh sống hoặc sản xuất. Còn “vàng” chính một kim loại quý giá, có giá trị kinh tế rất cao. Như vậy việc so sánh “tấc đất” với “tấc vàng” nhằm khẳng định sự quý giá của “đất”. Đất đai cũng có giá trị kinh tế giống như vàng vậy. Câu tục ngữ muốn gửi khuyên con cháu đời sau rằng cần nên trân trọng đất đai. Từ đó, khuyên nhủ mọi người phải biết quý trọng và bảo vệ đất đai ruộng đồng để tăng gia sản xuất ra những thực phẩm có ích cho con người. Đất đai là một trong những tài nguyên thiên nhiên. Nhưng cũng giống như những tài nguyên khác, nó không phải là vô tận. Cuộc sống của con người không thể thiếu đất đai. Việc trồng trọt, chăn nuôi diễn ra trên đất đai. Chúng ta xây dựng nhà cửa để sinh sống, làm việc hay vui chơi cũng trên đất đai. Đất được con người so sánh như “người mẹ hiền” nuôi dưỡng đứa con khôn lớn. Chính vì vậy, con người cần phải có ý thức sử dụng hợp lí, cũng không được làm cho đất đai bị bạc màu, khô xác, cằn cỗi. “Tấc đất, tấc vàng” là một câu tục ngữ giúp con người nhận ra giá trị của đất đai trong cuộc sống. Từ đó, chúng ta cần phải bảo vệ, sử dụng đất đai hợp lí, hiệu quả.

Soạn Bài Nhìn Về Vốn Văn Hóa Dân Tộc Soạn Văn 12 Tập 2 Tuần 30 (Trang 159)

Soạn bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc

Tác phẩm Nhìn về vốn văn hóa dân tộc

Nghe đọc Nhìn về vốn văn hóa dân tộc:

Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật. Ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội hoạ,… phát triển rất cao, ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hoá, thành đặc sắc văn hoá của dân tộc đó, thành thiên hướng văn hoá của dân tộc đó. Ở ta, thần thoại không phong phú – hay là có nhưng một thời gian nào đó đã mất hứng thú lưu truyền? Tôn giáo hay triết học cũng đều không phát triển. Người Việt Nam không có tâm lý kiền thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học. Các tôn giáo đều có mặt, nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng, ít ai quan tâm đến giáo lý. Không có một ngành khoa học, kĩ thuật, giả khoa học nào phát triển đến thành có truyền thống. Âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ. Trong các ngành nghệ thuật, cái phát triển nhất là thơ ca. Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì không có. Xã hội có trọng văn chương, nhưng […] bản thân các nhà thơ cũng không ai nghĩ cuộc đời, sự nghiệp của mình là ở thơ ca. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, một ngành văn hoá nào đó trở thành đài danh dự, thu hút, quy tụ cả nền văn hoá.

Thực tế đó cho ta biết khuynh hướng, hứng thú, sự ưa thích, nhưng hơn thế, còn cho ta biết sự hạn chế của trình độ sản xuất, của đời sống xã hội. Đó là văn hoá của dân nông nghiệp định cư, không có nhu cầu lưu chuyển, trao đổi, không có sự kích thích của đô thị. […]

Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn, ma quỷ, thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy là coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết (sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung, giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ mãi mà hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn cho no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người. Con người được ưa chuộng là con người hiền lành, tình nghĩa. Không chuộng trí mà cũng không chuộng dũng. Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ […]. Trong tâm trí nhân dân thường có Thần và Bụt mà không có Tiên. Thần uy linh bảo quốc hộ dân và Bụt hay cứu giúp mọi người; còn Tiên nhiều phép lạ, ngao du ngoài thế giới thì xa lạ. Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là ăn đi trước, lội nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn. Đối với cái dị kỉ, cái mới, không dễ hoà hợp nhưng cũng không cự tuyệt đến cùng, chấp nhận cái gì vừa phải, hợp với mình nhưng cũng chần chừ, dè dặt, giữ mình.

Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kỳ vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải.

Không có công trình kiến trúc nào, kể cả của vua chúa, nhằm vào sự vĩnh viễn. Hình như ta coi trọng Thế hơn Lực, quý sự kín đáo hơn sự phô trương, sự hoà đồng hơn rạch ròi trắng đen. Phải chăng đó là kết quả của ý thức lâu đời về sự nhỏ yếu, về thực tế nhiều khó khăn, nhiều bất trắc?

Nhìn vào lối sống, quan niệm sống, ta có thể nói người Việt Nam sống có văn hoá, người Việt Nam có nền văn hoá của mình. Những cái thô dã, những cái hung bạo đã bị xoá bỏ để có cái nền nhân bản. Tinh thần chung của văn hoá Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hoà. Không có khát vọng để hướng đến những sáng tạo lớn mà nhạy cảm, tinh nhanh, khôn khéo gỡ các khó khăn, tìm được sự bình ổn.

Những cái vừa nói là cái đã lắng đọng, đã ổn định, chắc chắn là kết quả của sự dung hợp của cái vốn có, của văn hoá Phật giáo, văn hoá Nho giáo, cái được dân tộc sàng lọc, tinh luyện để thành bản sắc của mình. Phật giáo, Nho giáo tuy từ ngoài du nhập vào nhưng đều để lại dấu ấn sâu sắc trong bản sắc dân tộc. Có điều, để thích ứng với cái vốn có, Phật giáo không được tiếp nhận ở khía cạnh trí tuệ, cầu giải thoát, mà Nho giáo cũng không được tiếp nhận ở khía cạnh nghi lễ tủn mủn, giáo điều khắc nghiệt. Đạo giáo hình như không có nhiều ảnh hưởng trong văn hoá nhưng tư tưởng Lão – Trang thì lại ảnh hưởng nhiều đến lớp trí thức cao cấp, để lại dấu vết khá rõ trong văn học.

Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hoá những giá trị văn hoá bên ngoài. Về mặt đó, lịch sử chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh.

Soạn bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Mẫu 1 Soạn văn Nhìn về vốn văn hóa dân tộc chi tiết

I. Tác giả

– Trần Đình Hượu (1926 – 1995) quê ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

– Ông là một nhà nghiên cứu về các vấn đề lịch sử tư tưởng và văn học Việt Nam trung cận đại.

– Năm 2000, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ.

– Một số công trình nghiên cứu: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930 (1988), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (1995), Đến hiện đại từ truyền thống (1996), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông (2001)…

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

– Nhìn về vốn văn hóa dân tộc trích từ phần II, bài “Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc” in trong cuốn Đến hiện đại từ truyền thống.

– Nhan đề do người biên soạn SGK đặt.

2. Bố cục

Gồm 3 phần:

Phần 2. Tiếp theo đến “để lại dấu vết khá rõ trong văn học”: Đặc điểm của nền văn hóa Việt Nam.

Phần 3. Còn lại: Con đường hình thành văn hóa.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Nhận xét về nền văn hóa dân tộc

Lời dẫn dắt “Trong lúc chờ đợi kết quả khoa học…văn hóa dân tộc”: Cách nêu vấn đề ngắn gọn, khách quan.

2. Đặc điểm của nền văn hóa Việt Nam

a. Hạn chế và thế mạnh

* Hạn chế:

– Văn hóa Việt Nam chưa có tầm vóc lớn lao, chưa có vị trí quan trọng, chưa nổi bật và chưa có ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác.

– Hạn chế trên các phương diện:

Thần thoại không phong phú.

Tôn giáo, triết học không phát triển, ít quan tâm đến giáo lý.

Khoa học kỹ thuật không phát triển thành truyền thống.

Âm nhạc, hội họa, kiến trúc không phát triển đến tuyệt kĩ.

Thơ ca chưa tác giả nào có tầm vóc lớn lao.

* Thế mạnh

Thế mạnh của văn hóa Việt Nam: thiết thực, linh hoạt, dung hòa, lành mạnh với những vẻ đẹp dịu dàng, thanh lịch, con người hiền lành, tình nghĩa.

Việt Nam có nhiều tôn giáo nhưng không xảy ra xung đột.

Con người sống tình nghĩa: tốt gỗ hơn tốt nước sơn, cái nết đánh chết cái đẹp….

Các công trình kiến trúc quy mô vừa và nhỏ, hài hòa với thiên nhiên.

b. Đặc điểm của văn hóa Việt Nam

– Tôn giáo: không cuồng tín, cực đoan mà dung hòa các tôn giáo khác nhau tạo nên sự hài hòa, không tìm sự siêu thoát tinh thần bằng tôn giáo, coi trọng cuộc sống trần tục hơn thế giới bên kia.

– Nghệ thuật: sáng tạo những tác phẩm tinh tế nhưng không có quy mô lớn, không mang vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ, phi thường.

– Ứng xử: trọng tình nghĩa nhưng không chú ý nhiều đến trí, dũng, chuộng sự khéo léo, không kì thị, cực đoan, thích sự yên ổn.

– Sinh hoạt: thích chừng mực vừa phải, mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con, nhiều cháu, không mong gì cao xa, khác thường,…

– Quan niệm về cái đẹp: cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo, hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng, quy mô vừa phải.

– Kiến trúc: tuy nhỏ nhưng điểm nhấn lại là sự hài hòa, tinh tế với thiên nhiên.

– Lối sống: ghét phô trương, thích kín đáo, trọng tình nghĩa….

3. Con đường hình thành văn hóa

– Sự tạo tác của chính dân tộc.

– Khả năng chiếm lĩnh, đồng hóa những giá trị văn hóa bên ngoài.

Tổng kết: 

– Nội dung: Từ hiểu biết sâu sắc về vốn văn hóa dân tộc, tác giả đã phân tích rõ những mặt tích cực và một số hạn chế của văn hóa truyền thống. Khi nắm vững bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta có thể khắc phục hạn chế, phát huy điểm mạnh.

– Nghệ thuật: văn phong khoa học chính xác, mạch lạc…

Soạn văn Nhìn về vốn văn hóa dân tộc ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Tác giả phân tích đặc điểm của vốn văn hóa dân tộc dựa trên những phương diện cụ thể nào của đời sống vật chất và tinh thần?

* Vật chất:

– Sinh hoạt: thích chừng mực vừa phải, mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con, nhiều cháu, không mong gì cao xa, khác thường,…

* Tinh thần:

– Tôn giáo: không cuồng tín, cực đoan mà dung hòa các tôn giáo khác nhau tạo nên sự hài hòa, không tìm sự siêu thoát tinh thần bằng tôn giáo, coi trọng cuộc sống trần tục hơn thế giới bên kia.

– Nghệ thuật: sáng tạo những tác phẩm tinh tế nhưng không có quy mô lớn, không mang vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ, phi thường.

– Ứng xử: trọng tình nghĩa nhưng không chú ý nhiều đến trí, dũng, chuộng sự khéo léo, không kì thị, cực đoan, thích sự yên ổn.

– Quan niệm về cái đẹp: cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo, hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng, quy mô vừa phải.

– Kiến trúc: tuy nhỏ nhưng điểm nhấn lại là sự hài hòa, tinh tế với thiên nhiên.

– Lối sống: ghét phô trương, thích kín đáo, trọng tình nghĩa…

Câu 2. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật nhất trong sáng tạo văn hóa của Việt Nam là gì? Đặc điểm này nói lên thế mạnh gì của vốn văn hóa dân tộc? Lấy dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm này.

– Đặc điểm nổi bật của sáng tạo văn hóa Việt Nam là: Văn hóa Việt Nam có tính nhân bản. Tinh thần chung là thiết thực, linh hoạt và dung hòa. Không có khát vọng hướng đến những sáng tạo lớn mà nhạy cảm, tinh nhan, khôn khéo gỡ các khó khăn, tìm được sự bình ổn.

– Đặc điểm này đã nói lên thế mạnh tạo ra cuộc sống bình ổn, nhẹ nhàng.

– Dẫn chứng: những tục ngữ Việt Nam chứa đựng bài học nhân văn nhẹ nhàng mà sâu sắc.

Câu 3. Những đặc điểm nào có thể xem là hạn chế của vốn văn hóa dân tộc?

– Văn hóa Việt Nam chưa có tầm vóc lớn lao, chưa có vị trí quan trọng, chưa nổi bật và chưa có ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác.

– Hạn chế trên các phương diện:

Thần thoại không phong phú.

Tôn giáo, triết học không phát triển, ít quan tâm đến giáo lý.

Khoa học kỹ thuật không phát triển thành truyền thống.

Âm nhạc, hội họa, kiến trúc không phát triển đến tuyệt kĩ.

Thơ ca chưa tác giả nào có tầm vóc lớn lao.

Câu 4. Những tôn giáo nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến văn hóa truyền thống Việt Nam? Người Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng nào để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc? Tìm một số ví dụ trong nền văn học để làm sáng tỏ vấn đề này.

– Những tôn giáo có ảnh hưởng mạnh đến văn hóa truyền thống Việt Nam là: Phật giáo và Nho giáo.

– Người Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng chọn lọc để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc.

– Ví dụ: Tiếp thu những tư tưởng tích cực như nhân quả, đạo hiếu của đạo Phật được tiếp thu…

Câu 5. Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực hay hạn chế của văn hóa Việt Nam? Hãy giải thích rõ vấn đề này?

– Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực.

– Giải thích: Ở đây không phải là sự sáng tạo, tìm tòi, khai phá nhưng nó khẳng định được sự khéo léo, uyển chuyển của người Việt trong việc tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại để tạo nên những nét độc đáo của văn hóa Việt Nam.

Câu 6. Vì sao có thể khẳng định: “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hóa không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó, mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa các giá trị của văn hóa bên ngoài, về mặt đó, lịch sử đã chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh”. Hãy liên hệ với thực tế lịch sử và văn học Việt Nam để làm sáng tỏ vấn đề này.

– Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều năm bị đô hộ, áp bức. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta đã chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa nước ngoài. Nhưng sự ảnh hưởng được tiếp nhận một cách có chọn lọc, trên cơ sở giữ gìn được những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp. Nhờ đó mà nền văn hóa dân tộc trở nên phong phú, đa dạng hơn.

– Liên hệ thực tế lịch sử: Trong thời kỳ bị thực dân Pháp xâm lược, dân tộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởng bởi văn hóa của nước Pháp ở kiến trúc, tôn giáo…

II. Luyện tập

Viết một bài luận (khoảng 3 trang) về một trong những vấn đề sau đây:

1. Anh (chị) hiểu thế nào là truyền thống “tôn sư trọng đạo” – một nét đẹp của văn hoá Việt Nam ? Trình bày những suy nghĩ của anh (chị) về truyền thống này trong nhà trường và xã hội hiện nay.

Gợi ý:

– Giải thích thế nào là “Tôn sư trọng đạo”?

“Tôn sư”: Tôn trọng thầy cô giáo

“Trọng đạo”: Coi trọng đạo lí

– Tại sao cần phải “tôn sư trọng đạo”?

Thấy cô nâng đỡ, truyền đạt tri thức, chắp cánh nâng đỡ con người trong hành trình dài rộng của cuộc đời

Thầy cô dạy ta cách sống, cách làm người, hướng con người tới những giá trị sống tốt đẹp

Thầy cô là những người bạn luôn bên cạnh chia sẻ với học trò mỗi lúc buồn vui hay hạnh phúc.

Biết ơn thầy cô giáo là nét đẹp trong cách sống của con người, là biểu hiện của một người thực sự có văn hóa.

* Liên hệ truyền thống Tôn sư trọng đạo trong nhà trường và xã hội:

– Xã hội: ngày 20 tháng 11 được lấy là ngày nhà giáo Việt Nam.

Học sinh gửi những lời tri ân tới thầy cô nhân ngày 20 tháng 11.

Học hành chăm chỉ, lễ phép, ngoan ngoãn với thầy cô giáo…

2. Theo anh (chị), nét đẹp văn hoá gây ấn tượng nhất trong những ngày Tết Nguyên đán của Việt Nam là gì ? Trình bày hiểu biết và quan điểm của anh (chị) về vấn đề này.

Gợi ý:

– Gói bánh chưng…

– Chúc Tết và lì xì đầu năm.

– Tết trồng cây…

3. Theo anh (chị), hủ tục cần bài trừ nhất trong các ngày lễ, tết ở Việt Nam là gì? Trình bày hiểu biết và quan điểm của anh (chị) về vấn đề này.

Gợi ý: đánh bài, uống rượu bia, hủ tục mê tín dị đoan…

Soạn bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Mẫu 2

Câu 1. Tác giả phân tích đặc điểm của vốn văn hóa dân tộc dựa trên những phương diện cụ thể nào của đời sống vật chất và tinh thần?

– Đời sống vật chất: thích chừng mực vừa phải, mong ước thái bình, an cư lạc nghiệp để làm ăn no đủ, sống thanh nhàn, thong thả, có đông con, nhiều cháu, không mong gì cao xa, khác thường,…

– Đời sống tinh thần:

Tôn giáo: không cuồng tín, cực đoan mà dung hòa các tôn giáo khác nhau tạo nên sự hài hòa, không tìm sự siêu thoát tinh thần bằng tôn giáo, coi trọng cuộc sống trần tục hơn thế giới bên kia.

Advertisement

Nghệ thuật: sáng tạo những tác phẩm tinh tế nhưng không có quy mô lớn, không mang vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ, phi thường.

Ứng xử: trọng tình nghĩa nhưng không chú ý nhiều đến trí, dũng, chuộng sự khéo léo, không kì thị, cực đoan, thích sự yên ổn.

Quan niệm về cái đẹp: cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo, hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng, quy mô vừa phải.

Kiến trúc: tuy nhỏ nhưng điểm nhấn lại là sự hài hòa, tinh tế với thiên nhiên.

Lối sống: ghét phô trương, thích kín đáo, trọng tình nghĩa…

Câu 2. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật nhất trong sáng tạo văn hóa của Việt Nam là gì? Đặc điểm này nói lên thế mạnh gì của vốn văn hóa dân tộc? Lấy dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm này.

– Đặc điểm nổi bật của sáng tạo văn hóa Việt Nam là: Giàu tính nhân bản; tinh thần chung là thiết thực, linh hoạt và dung hòa…

– Đặc điểm này đã nói lên thế mạnh của vốn văn hóa dân tộc: Tạo ra cuộc sống bình ổn, nhẹ nhàng với những vẻ đẹp dịu dàng thanh lịch sống có tình nghĩa có văn hóa trên một cái nền nhân bản.

– Dẫn chứng: Trang phục truyền thống thể hiện nét đẹp của từng dân tộc.

Câu 3. Những đặc điểm nào có thể xem là hạn chế của vốn văn hóa dân tộc?

Văn hóa Việt Nam chưa có tầm vóc lớn lao, chưa có vị trí quan trọng, chưa nổi bật và chưa có ảnh hưởng tới các nền văn hóa khác:

Thần thoại không phong phú.

Tôn giáo, triết học không phát triển, ít quan tâm đến giáo lý.

Khoa học kỹ thuật không phát triển thành truyền thống.

Âm nhạc, hội họa, kiến trúc không phát triển đến tuyệt kĩ.

Thơ ca chưa tác giả nào có tầm vóc lớn lao.

Câu 4. Những tôn giáo nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến văn hóa truyền thống Việt Nam? Người Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng nào để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc? Tìm một số ví dụ trong nền văn học để làm sáng tỏ vấn đề này.

– Những tôn giáo có ảnh hưởng mạnh đến văn hóa truyền thống Việt Nam là: Phật giáo và Nho giáo.

– Người Việt Nam đã tiếp nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng chọn lọc tư tưởng tiến bộ, nhân văn của tôn giáo để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc.

– Ví dụ: Sự hiếu thảo; Lòng tốt bụng…

Câu 5. Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực hay hạn chế của văn hóa Việt Nam? Hãy giải thích rõ vấn đề này?

– Nhận định: “Tinh thần chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực, linh hoạt, dung hòa” nhằm nêu lên mặt tích cực.

– Giải thích: Ở đây không phải là sự sáng tạo, tìm tòi, khai phá nhưng nó khẳng định được sự khéo léo, uyển chuyển của người Việt trong việc tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại để tạo nên những nét độc đáo của văn hóa Việt Nam.

Câu 6. Vì sao có thể khẳng định: “Con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hóa không chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó, mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa các giá trị của văn hóa bên ngoài, về mặt đó, lịch sử đã chứng minh là dân tộc Việt Nam có bản lĩnh”. Hãy liên hệ với thực tế lịch sử và văn học Việt Nam để làm sáng tỏ vấn đề này.

– Lịch sử: Khoảng thời gian dài bị đô hộ, áp bức và đồng hóa. Những giá trị văn hóa gốc phần nhiều đã bị mai một, xóa nhòa. Bởi vậy, văn hóa Việt Nam không thể trông cậy vào khả năng tạo tác mà phải trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, khả năng đồng hóa các giá trị văn hóa bên ngoài là một yếu tố.

– Các tôn giáo như “đạo Phật”, Nho giáo được tiếp thu một cách chọn lọc.

– Văn hóa Việt Nam cũng tiếp thu những tư tưởng của văn hóa phương Tây hiện đại nhưng cũng “Việt hóa”.

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Lưu Biệt Khi Xuất Dương Soạn Văn 11 Tập 2 Bài 19 (Trang 3) trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!