Xu Hướng 2/2024 # Thác Đôi Kỳ Thú Ở Quảng Ninh – Truyền Thuyết Về Chuyện Tình Đẹp # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thác Đôi Kỳ Thú Ở Quảng Ninh – Truyền Thuyết Về Chuyện Tình Đẹp được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thác Đôi kỳ thú ở Quảng Ninh – Truyền thuyết về chuyện tình đẹp

Thác Đôi Quảng Ninh nằm cách trung tâm xã Quảng Sơn khoảng 15km. Du khách phải đi 14km đến xã Quảng Sơn, rồi đi tiếp 14 km đến bản Tài Chi. Để đến được thác Đôi, du khách phải theo chân những người bản địa am hiểu vùng đất này. Vì hiện nay không có đường vào thác, mà phải đi tắt qua suối hay đường rừng, nên khách phải đi giày hoặc dép chuyên dụng.

Thác đôi tách làm 2 sau đó hợp thành hồ. Ảnh: Báo Quảng Ninh.

Có hai đường đến với thác Đôi, một đường có thể đi được xe máy men theo các đồi sim tự nhiên, vào tháng 5 hoa sim nở rộ và đến tháng 7 sim chín tím các quả đồi.

Quanh thác có nhiều tảng đá lớn. Ảnh: Báo Quảng Ninh.

Đường khác đến với thác Đôi là đường đi bộ. Đây là đường tắt qua lòng suối và qua những cánh rừng nguyên sinh, bạn được chiêm ngưỡng cảnh vật hoàn toàn tự nhiên, những tảng đá to, nhỏ muôn hình thù.

Rừng nguyên sinh quanh thác. Ảnh: Báo Quảng Ninh.

Trong rừng có những cây gỗ lớn cổ thụ và nhiều loài thảo mộc, thuốc quý. Lá dong rừng rất nhiều chiếm cả vạt rừng, đây là nguồn lá dong để bà con gói bánh chưng vào dịp tết, bên suối còn có nhiều bụi chuối rừng ra hoa kết trái.

Đường vào thác gập ghềnh. Ảnh: Báo Quảng Ninh.

Bao quanh thác Đôi là khu rừng phòng hộ nguyên sinh của huyện Hải Hà. Các cánh rừng nguyên sinh giữ nước cho 2 con sông Hà Cối và Tài Chi, cung cấp nước chính cho các xã làm nông nghiệp ở huyện.

Vượt qua đoạn đường rừng khoảng 3km bạn sẽ đến được thác. Thác cao 10m, dòng nước được chia làm đôi rồi đổ xuống một cái hồ rộng, nước trong xanh nhìn rõ đáy. Thác Đôi bắt nguồn từ nguồn nước núi Cao Ba Lanh, chảy qua bản Tài Chi rồi đổ xuống xuôi theo dòng sông Hà Cối. Ngọn thác cung cấp nước cho hàng ngàn héc-ta rừng và ruộng của bà con.

Vẻ đẹp rừng xanh. Ảnh: Huyện Hải Hà.

Truyền thuyết về thác Đôi Quảng Ninh được người dân truyền tai nhau: Xa xưa có một đôi trai gái người Dao yêu nhau. Cô gái đẹp như ánh trăng rằm khiến quỷ thần mê mệt, lên kế hoạch bắt cô về làm vợ. Đôi trai gái biết chuyện và cùng chạy trốn đến bật máu chân vì chạy qua suối. Rồi một hôm quỷ thần đã đuổi đến sông Tài Chi.

Tắm thác. Ảnh: Huyện Hải Hà.

Cặp đôi đã nhảy xuống sông. Quỷ thần ném đá xuống chặn dòng sông. Đôi trai gái đã biến thành hai dòng thác, vượt qua hòn đá lớn tạo thành dòng nhấn chìm quỷ thần. Câu chuyện về dòng nước dù có chia đôi nhưng rồi lại hòa làm một tạo thành hồ nước, giống như tình yêu đích thực dù có lúc chia xa nhưng vẫn về với nhau.

Ảnh: Long Vũ.

Khám phá thác Đôi Quảng Ninh, du khách còn được khám phá văn hóa đồng bào Dao. Đồng bào còn lưu giữ rất nhiều nét văn hóa truyền thống độc đáo của người Dao từ xa xưa, có bản sắc lâu đời.

Ở bản Lý Quáng có bà Diềng Chống Sếnh được Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam trao tặng danh hiệu “Nghệ nhân Dân gian Việt Nam” vào năm 2013. Bà Sếnh là người có nhiều công lao trong việc truyền dạy nghề thêu thùa trang phục truyền thống cho phụ nữ trong xã.

Người Dao ở huyện Hải Hà. Ảnh: Báo Quảng Ninh.

Ở bản này còn có anh Chíu Sáng Hỉ, là người thổi kèn theo các điệu nhạc truyền thống của người Dao hay nhất huyện Hải Hà. Anh có thể thổi được tất cả 18 bài kèn đám ma, 12 bài kèn đám cưới của người Dao. Điều đặc biệt, anh Hỷ còn biết tự tay làm được kèn, vốn trước kia đều do các nghệ nhân “cha truyền, con nối”.

Trang phục dân tộc người Dao Thanh Phán rực rỡ. Ảnh: Huyện Hải Hà.

Ngoài ra ở huyện Hải Hà còn có những đồi chè xanh, khung cảnh thiên nhiên đẹp hoang sơ thơ mộng của xã đảo Cái Chiên hay sự nhộn nhịp tươi mới của khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh và cảnh đẹp nên thơ của những khu vườn mẫu, thôn mẫu… Đây đều là những địa điểm du khách có thể tìm đến tham quan cùng với thác Đôi Quảng Ninh.

chúng mình gợi ý một số tour miền Bắc – Hạ Long hấp dẫn:

Đăng bởi: Vũ Thị Lan

Từ khoá: Thác Đôi kỳ thú ở Quảng Ninh – Truyền thuyết về chuyện tình đẹp

Truyền Thuyết Một Tình Yêu

Nằm sâu trong lòng Vịnh Hạ Long, trong quần đảo Bồ Hòn đẹp như tranh vẽ, có hang Trinh Nữ, được nhiều người gọi là “ Động Trinh Nữ ”. Quý khách có thể tham quan Hang Trinh Nữ hòa quyện giữa vẻ đẹp thiên nhiên quyến rũ của Vịnh Hạ Long với dấu ấn văn hóa dân gian cổ kính của di sản Việt Nam.

Truyền thuyết về hang Trinh Nữ

Có một cô con gái đánh cá nghèo nhưng xinh đẹp phục vụ cho một điền chủ giàu có của vùng đánh cá ở Vịnh Hạ Long. Bị mê hoặc bởi sắc đẹp của nàng, tên địa chủ giàu có buộc gia đình phải gả cô gái cho mình làm vợ lẽ. Cô gái phản đối, vì cô ấy đã có người yêu, lúc đó đang trên biển khơi đánh bắt cá để chuẩn bị cho đám cưới của họ.

Tên địa chủ tức giận vì bị cô từ chối, đày cô đến một hòn đảo hoang, nơi cô bị đói và kiệt sức. Vào một đêm kinh hoàng, giữa cơn mưa và gió khủng khiếp, cô ấy biến thành đá, nơi mà ngày nay chúng ta gọi là Hang Trinh Nữ hay “ Động Trinh Nữ ”. Ngày nay giữa lòng hang vẫn còn một phiến đá có hình người con gái đang nằm xõa tóc dài nhìn ra biển, chờ người yêu trở về.

Vị trí địa lý

Hang Trinh Nữ nằm trong lòng của Vịnh Hạ Long ở độ cao 107006’26”Đ và vĩ độ 20050’04”B.

Nó nằm trên hai cánh của một vòng cung núi nhỏ ở phía đông của chuỗi đảo Bồ Hòn trên Vịnh Hạ Long. Hang Trinh Nữ cách hang Sửng Sốt hơn 3km về phía Đông Nam, cách hang Trống khoảng 500m về phía Bắc, cách cảng quốc tế Tuần Châu 16km về phía Đông và cách trung tâm thành phố Hạ Long khoảng 14km về phía Đông Nam.

Cấu trúc

Hang Trinh Nữ có dạng buồng có bậc, lối đi dốc, 2 cửa quay vào nhau. Chúng cao khoảng 15m và rộng 25m. Hang được bao bọc bởi hệ thống măng đá, nhũ đá với các cột phát triển tập trung và cửa động Tây Bắc. Toàn bộ hang động có thể được chia thành ba ngăn liền nhau.

Tính thẩm mỹ

Hang động tuyệt đẹp này đã được phát hiện trong một thời gian. Nó là rộng rãi với cảnh thiên nhiên huyền bí. Ánh sáng xuyên qua hang động làm cho măng đá và nhũ đá lấp lánh và hiện lên hình thù rực rỡ như một nàng tóc dài thướt tha đang nhìn ra đại dương. Những măng đá và nhũ đá lấp lánh và từ trần nhà đổ xuống như những chiếc đèn chùm. Hướng về phía Đông Nam, đây hoàn toàn là một khung cảnh nguyên sơ khi nhìn xuống làn nước biển màu ngọc bích và những cây cao sừng sững.

Địa chất học

Hang Trinh Nữ là di tích hang động karst cổ và thuộc nhóm hang động hóa thạch, hang động, hang động phân tầng. Hang cao hơn mực nước biển 5-10m. Trước cửa Tây Bắc là bãi biển chủ yếu bằng cát và vỏ động vật. Rải rác trên bãi biển là những tảng đá đồ sộ bị rêu bao phủ.

Phần lớn măng đá và nhũ đá đã ngừng phát triển, tuy nhiên một số ít vẫn phát triển ở ngăn thứ hai, các vết nứt vẫn cho phép hạt mưa lọt qua.

Trong ngăn thứ ba về phía cửa Đông Bắc, các khối đá vôi bị sụp đổ do một dòng chảy ngầm lớn chảy ra biển. Dòng suối này đã mài mòn và hòa tan lớp đá vôi bên dưới tạo thành tầng rỗng dẫn đến sụt lở.

Đa dạng sinh học

Bên trong hang Trinh Nữ có một cái ao nhỏ. Theo nghiên cứu của Bois Sket và Peter Tronteli, Đại học Liubliana, Slovenia, ao này chứa 3% muối và có dấu hiệu sống của loài tôm Alpheoid sống trong môi trường nước mặn. Một mẫu của cá chân chèo Calanoid – Bathynellacea cũng được tìm thấy ở đây. Điều thú vị là nhóm này chỉ sống ở nước ngọt và gần như không thể tìm thấy trong nước biển. Ngoài ra còn có một số loại dơi và chim thường nhập cư bên trong hang động này.

Nhiều thảm thực vật đa dạng được nhìn thấy khắp hang động và nhiều loại trong số đó là theo mùa.

Bên ngoài hang, thảm thực vật tươi tốt bao phủ từ đỉnh các mỏm đá xuống chân hang. Vùng biển giữa hang Trinh Nữ và hang Trống rất êm ả, trong xanh đẹp như tranh vẽ.

Lịch sử & Văn hóa

Hang Trinh Nữ là một trong những di tích khảo cổ của nền văn hóa Hạ Long, được hình thành từ 4.500 năm. Nền văn hóa này đã thể hiện một nền văn hóa thịnh vượng của ngư dân trên quy mô lớn.

Hiện tại, ở phía bên trái của hang động, có một lớp trầm tích mỏng với diện tích khoảng 4m2 dưới một tảng đá lớn bao gồm vỏ sò và các thứ linh tinh vụn vỡ, trong đó có những mảnh gốm mang dấu ấn văn hóa Hạ Long. Những điều này cho thấy khu vực này từng là một cảng từ thế kỷ 14-16. Do các di tích nằm gần cửa hang và do ảnh hưởng của thủy triều và người qua lại nên nền văn hóa gần như bị phá hủy hoàn toàn.

Ngoài ra, hang Trinh Nữ còn là di tích lịch sử cách mạng. Trong chiến tranh Việt Nam, hang động là một trong những trọng điểm của “ Con tàu không số ” chỉ chuyển vũ khí, đạn từ miền Bắc chi viện cho miền Nam. Hang động cũng là căn cứ của Thủy quân lục chiến với trách nhiệm bảo đảm các tuyến đường thủy qua Vịnh Hạ Long.

Hướng tầm nhìn ra bên ngoài, du khách có thể ngắm nhìn khung cảnh Vịnh Hạ Long ở phía xa và bầu không khí thanh bình khiến tâm hồn thư thái. Chính vì cảnh đẹp như vậy nên động Trinh Nữ đã trở nên nổi tiếng trong du lịch Hạ Long.

Đối với ngư dân, hang động Trinh Nữ là ngôi nhà của họ, nhưng đối với những cặp tình nhân trẻ, nó được coi là biểu tượng của tình yêu đích thực, và là nơi lãng mạn để tuyên thệ yêu đương. Bước vào Động Trinh Nữ, người ta thấy ở giữa hang có một bức tượng đá của một cô gái nằm dài với mái tóc dài buông thõng đang nhìn ra biển với hy vọng vô vọng.

Nếu bạn là người yêu thích một câu chuyện tình cảm động nhưng buồn thì không nên bỏ qua truyền thuyết về động Trinh Nữ.

Bên cạnh đó, nó còn mang một màu sắc khác biệt mà các hang động khác ở Vịnh Hạ Long không có, trở thành điểm nhấn giữa vịnh Hạ Long hùng vĩ.

Đăng bởi: Nguyễn Bảo Trâm

Từ khoá: Hang Trinh Nữ – Truyền thuyết một tình yêu

Sự Tích Vua Hùng: Truyền Thuyết Về Công Dựng Nước

Vua Hùng là ai?

Hùng Vương (雄王) hay Vua Hùng (chữ Nôm: 𤤰雄) là cách gọi dành cho các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt, tồn tại vào khoảng thế kỷ 7 tới thế kỷ 2 TCN. Câu chuyện các vua Hùng không có trong chính sử mà nằm trong các truyền thuyết dân gian của người Việt được kể lại qua nhiều đời. Với người Việt Nam, các vua Hùng đại diện cho tổ tiên, cho truyền thống dựng nước và là niềm tự hào về nền văn minh đậm đà bản sắc riêng suốt nhiều nghìn năm.

Theo Đại Việt sử lược và nhiều tài liệu khác, triều đại Hùng Vương được truyền qua 18 đời, gồm những vị sau.

1. Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tức Lục Dục Vương, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 tr. TL) lên ngôi năm 41 tuổi, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879 tr. TL) đến Đinh Hợi (2794 tr. TL).

2. Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825 tr. TL), lên ngôi 33 tuổi, ở ngôi tất cả 269 năm, từ năm Mậu Tý (2793 tr. TL) đến năm Bính Thìn (2525 tr. TL).

3. Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr. TL) lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi 272 năm, từ năm Đinh Tỵ (2524 tr. TL) đến 2253 tr. TL.

4. Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr. TL), ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 tr. TL) đến năm Mậu Thìn (1913 tr. TL).

5. Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 tr. TL), lên ngôi khi năm 59 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 tr. TL) đến Mậu Tý (1713 tr. TL).

6. Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr. TL), lên ngôi khi 29 tuổi, ở ngôi tất cả 81 năm, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr. TL) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr. TL).

7. Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 tr. TL), lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 tr. TL) đến năm Kỷ Tỵ (1432 tr. TL).

8. Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 tr. TL) lên ngôi khi 39 tuổi, ở ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431 tr. TL) đến năm Kỷ Dậu (1332 tr. TL).

9. Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 tr. TL), lên ngôi khi 45 tuổi, ở ngôi tất cả 80 năm, từ 1331 đến 1252 tr. TL.

10. Hùng Uy Vương, húy Hoàng Long Lang, trị vì 90 năm, từ 1251 đến 1162 tr. TL.

11. Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 tr. TL), lên ngôi khi 51 tuổi, ở ngôi tất cả 107 năm, từ năm Canh Tý (1161 tr. TL) đến năm Bính Tuất (1055 tr. TL).

12. Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 tr. TL), lên ngôi khi năm 52 tuổi, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Đinh Hợi (1054 tr. TL) đến năm Nhâm Tuất (969 tr. TL).

13. Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 tr. TL), lên ngôi khi 23 tuổi, ở ngôi tất cả 115 năm, từ năm Quý Hợi (968 tr. TL) đến Đinh Mùi (854 tr. TL).

14. Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 tr. TL) lên ngôi khi 42 tuổi, ở ngôi tất cả 99 năm, từ 853 đến 755 tr. TL.

15. Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 tr. TL), lên ngôi khi 35 tuổi, ở ngôi tất cả 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 tr. TL) đến năm Canh Thân (661 tr. TL).

16. Hùng Tạo Vương, húy Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 tr. TL), ở ngôi tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660 tr. TL) đến năm Nhâm Thìn (569 tr. TL).

17. Hùng Nghị Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 tr. TL) lên ngôi khi 9 tuổi, ở ngôi tất cả 160 năm, từ năm Quý Tỵ (568 tr. TL) đến năm Nhâm Thân (409 tr. TL).

18. Hùng Duệ Vương, sinh năm Canh Thân (421 tr. TL), lên ngôi khi 14 tuổi, ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu (408 tr. TL) đến năm Quý Mão (258 tr. TL).

 Sự tích Vua Hùng

Ngày xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân lúc đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh thì phải lòng và lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục là bậc thánh trí thông minh nên rất được Đế Minh yêu quý, muốn cho nối ngôi. Lộc Tục cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi (anh trai Lộc Tục) là con nối ngôi, cai quản phương Bắc là nước Xích Thần và phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, các bộ tộc Bách Việt, gọi là nước Xích Quỷ.

Kinh Dương Vương khi xuống Thủy phủ, đã lấy con gái Long Vương Động Đình Quân tên là Thần Long Long Nữ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân thay cha trị nước Xích Quỷ, còn Kinh Dương Vương không biết rõ đã đi đâu sau khi truyền vị. Đế Nghi truyền ngôi cho con trai là Đế Lai cai trị phương Bắc, Đế Lai nhân thiên hạ vô sự mà đi chu du khắp nơi, đi qua nước Xích Quỷ, thấy Lạc Long Quân đã về Thủy phủ, liền lưu con gái của mình là Âu Cơ ở lại đó.

Lạc Long Quân trở về, thấy Âu Cơ xinh đẹp, liền biến hóa thành chàng trai phong tú mỹ lệ, Âu Cơ lúc này mới đem lòng cảm mến, Lạc Long Quân liền rước nàng về núi Long Trang. Hai người ở với nhau một năm, sinh ra bọc trăm trứng, sinh ra trăm người con trai anh dũng phi thường.

Lạc Long Quân ở lâu dưới Thủy phủ, Âu Cơ vốn là người Bắc quốc, nhớ nhà liền gọi Long Quân trở về. Âu Cơ nói với Lạc Long Quân:

“Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với Quân, sinh được một trăm con trai mà không gì cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng, không vợ, một mình vò võ“.

Lúc này, Lạc Long Quân mới bảo rằng:

“Ta là loài rồng, sinh trưởng ở Thủy tộc; nàng là giống Tiên, người trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp mà lại có con nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi con về Thủy phủ, phân trị các xứ, năm mươi con theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe không được bỏ nhau“.

Âu Cơ cùng năm mươi người con trai ở tại Phong Châu, tự suy tôn người con trưởng lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương

Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước ra làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đóng đô ở bộ Văn Lang, Phong Châu.

 Truyền thuyết công lao của Vua Hùng

Lãnh thổ của nước Văn Lang được xác định ở khu vực đồng bằng sông Hồng, phía đông bắc giáp với Âu Việt, phía tây bắc thuộc các tỉnh miền bắc Việt Nam và một phần đất tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc ngày nay, phía đông giáp với biển Đông, phía tây tiếp giáp và chạy dọc theo dãy núi Hoàng Liên Sơn (thuộc Lào Cai, Sơn La ngày nay), phía nam giáp Hồ Tôn Tinh (hay Hồ Tôn), một quốc gia Champa cổ. Dân số của Văn Lang vào khoảng 40, 50 vạn người, chủ yếu phân bố ở khu vực trung du, hạ du sông Hồng và sông Mã.

Hùng Vương sai các em trai phân trị, đặt em thứ làm Tướng võ, Tướng văn.

Advertisement

xưng thần là khôi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền nhau cho đến hiệu là Hùng Vương không đổi.

Trong sách Đại Việt Sử ký Toàn thư có ghi chép phần đầu tiên đặt tên là Kỷ Hồng Bàng thị, 3 tiểu mục là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương. Sách Lĩnh Nam chích quái đặt tên là Truyện Hồng Bàng.

Theo sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục: Theo sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng chép. Giao Chỉ khi chưa đặt làm quận huyện, bấy giờ có ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống mà làm ruộng, khai khẩn ruộng ấy là Lạc dân, thống trị dân ấy là Lạc Vương, người giúp việc là Lạc Tướng: đều dùng ấn đồng thao xanh. Nước gọi là Văn Lang. Phong tục thuần hậu, mộc mạc, chưa có chữ nghĩa, còn dùng lối thắt nút dây làm dấu ghi nhớ; truyền được mười tám chi.

Có một số nguồn sử học viết về lãnh thổ của vua Hùng, phía tây đến Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc), phía bắc đến hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung Quốc), phía nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, là nhầm lẫn với nước Xích Quỷ trong truyền thuyết của người Bách Việt cổ. Nước Văn Lang thuộc tộc người Lạc Việt chỉ là một trong số những tộc người Bách Việt, và cũng là tổ tiên của người Kinh ngày nay. Lạc Việt cùng với Âu Việt là 2 tộc người Bách Việt sống tại vùng đất phía nam. Sau này An Dương Vương (hay Thục Phán), vua nước Âu Việt (nằm ở phía tây bắc nước Văn Lang), đánh bại vua Hùng của nước Văn Lang lập nên nước Âu Lạc. Dân số Âu Lạc thời đó cũng chỉ khoảng 70 vạn, 80 vạn người. Nếu lãnh thổ Văn Lang muốn giáp Ba Thục, Tứ Xuyên và Hồ Động Đình, Hồ Nam thì phải bao gồm cả các tỉnh Quý Châu (diện tích 176.167 km²) và Hồ Nam (diện tích 210.000 km²), phần lớn tỉnh Vân Nam (diện tích 394.000 km²), một phần tỉnh Quảng Tây (diện tích 236.700 km²) của Trung Quốc.

Theo truyền thuyết, năm 2557-2258 TCN, tức năm Mậu Thân thứ 5 đời Đường Nghiêu, Hùng Vương sai sứ sang tặng vua Nghiêu con rùa thần có lẽ hơn nghìn tuổi, mình rùa hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy lịch (lịch rùa).

Tìm hiểu thêm về Giỗ tổ Hùng Vương: Nguồn gốc, ý nghĩa ngày mùng 10 tháng 3

Kinh Nghiệm Du Lịch Bãi Cháy (Quảng Ninh) Cho Cặp Đôi

Bãi Cháy (Quảng Ninh) nằm ở đâu?

Du lịch Bãi Cháy từ lâu đã trở thành điểm đến yêu thích của du khách khi đi Quảng Ninh. Vậy bạn liệu có biết tại sao Bãi Cháy lại có sức hút đến vậy không?

Bãi Cháy được mệnh danh là một trong những bãi biển đẹp nhất Quảng Ninh. Đây cũng là nơi thu hút khá đông du khách trong dịp cuối tuần, dịp hè. Bởi đến đây, ngoài tắm biển bạn còn được tham gia nhiều hoạt động vui chơi hấp dẫn khác.

Du lịch Bãi Cháy (Quảng Nin) – một chuyến đi hứa hẹn với vô số điều thú vị đang đợi bạn.

Hiện Bãi Cháy thuộc phường Bãi Cháy, Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là một bãi tắm nhân tạo, nằm dọc vịnh Hạ Long có bãi cát dài và rộng. Cạnh đó là một dải đồi thấp chạy thoai thoải về phía biển ôm lấy hàng thông cổ thụ. Mặc dù là bãi biển nhân tạo nhưng du khách sẽ thấy vẻ đẹp thiên nhiên luôn hiện hữu. Màu nước biển trong xanh sẽ khiến du khách thỏa lòng khi ngụp lặn.

Nên đến đây vào thời điểm nào?

Có thể nói bạn sẽ dễ dàng tham quan, du lịch Bãi Cháy vào nhiều thời điểm trong năm. Tuy nhiên để có một chuyến đi thật sự trọn vẹn thì bạn có thể đến đây vào mùa hè. Tháng 6, 7, 8 chính là lúc Bãi Cháy có khí hậu mát mẻ, ít bão lũ, nước trong xanh.

Du lịch Bãi Cháy – Những điểm tham quan, vui chơi thú vị nhất Bãi biển Bãi Cháy

Biển Bãi Cháy nổi bật với cát trắng, biển xanh.

Cầu Bãi Cháy

Đây là cây cầu nằm trên quốc lộ 18, nối giữa Hòn Gai và Bãi Cháy qua vịnh Cửa Lục. Và là một trong 5 cây cầu dây văng dự ứng lực một mặt phẳng dây lớn nhất thế giới. Cây cầu nhìn xa như cây đàn gác trên hai mỏm đồi ca, sớm chiều vui đùa với gió biển. Cầu đẹp nhất vào ban đêm với hệ thống đèn chiếu sáng, khiến cả Bãi Cháy rực rỡ. Chính vì vậy, khách đi du lịch Bãi Cháy thường đến đây để chiêm ngưỡng.

Cầu Bãi Cháy càng xinh đẹp và rực rỡ khi về đêm.

Chợ đêm Bãi Cháy

Nằm ngay trên bờ biển Bãi Cháy, chợ đêm là một điểm mua sắm khá tuyệt vời. Du khách đi du lịch Bãi Cháy có thể ghé đến đây để mua quà tặng người thân. Chợ đêm rất lớn, mở cửa từ 6h chiều đến tận đêm khuya. Được chia thành các khu bán hàng khác nhau. Bao gồm giày dép, túi xách, đồ lưu niệm và những đặc sản như cà phê, hạt điều,…

Những món quà bé bé xinh xinh mang đậm màu sắc của vùng biển. Như vòng tay, vòng cổ, chuông gió, chuỗi hạt vô cùng bắt mắt. Bạn cũng sẽ dễ dàng bắt gặp khách du lịch nước ngoài cũng đến đây mua sắm.

Chợ đêm Bãi Cháy luôn đông đúc, nhộn nhịp với đầy đủ từ quần áo, phụ kiện đến hải sản.

Công viên Sun World Halong Park

Công viên Sun World Halong được xem là địa điểm vui chơi lớn nhất miền Bắc. Du lịch Bãi Cháy nhất định phải đến đây để thỏa sức tham gia những trò chơi vui nhộn.

Sun World Halong Park – nơi để bạn thoải mái vui chơi và sống ảo.

Phố cổ Bãi Cháy

Thêm một góc nhỏ để sống ảo tại Phố cổ Bãi Cháy.

Du lịch Bãi Cháy – Bỏ túi những quán ăn ngon – bổ – rẻ

Du lịch Bãi Cháy nên gì và ở đâu?

Thành Thúy – Cơm Bình Dân & Lẩu Hải Sản

Địa chỉ: 104 Anh Đào, Phường Bãi Cháy, TP Hạ Long, Quảng Ninh.

Nhà hàng Linh Đan

Địa chỉ: 104 Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Linh Đan là một trong những nhà hàng có tiếng ở khu vực Bãi Cháy. Nhà hàng mang phong cách hiện đại, sang trọng với thực đơn rất phong phú. Đặc biệt nếu là tín đồ của hải sản thì bạn đã đến đúng nơi rồi đó. Nhà hàng mở cửa từ 07:00 đến 22:30 nên rất thuận tiện cho du khách đi du lịch Bãi Cháy.

Siêu thị Ốc Kim Quy

Địa chỉ: 660, Đường Hạ Long, Phường Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Hải Sản Toản Hường

Địa điểm: 1 Vườn Đào, phường Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Một quán ăn giá bình dân được nhiều người lựa chọn khi đi du lịch Bãi Cháy. Các món như tôm sốt chua ngọt, tôm nướng mọi, canh ngao khá nổi tiếng. Và không chỉ khách trong nước mà đây còn là điểm đến quen thuộc của khách nước ngoài. Chú ý quán mở cửa từ 09:00 đến 22:00.

Hải sản Thủy Chung: 4 Cái Dăm, Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Nhà hàng Cua Vàng: 32 Phan Chu Trinh, Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Nhà hàng Việt Nam: Đường Hạ Long, Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Hải sản Thiên Anh: Khu đô thị Cái Dăm, Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Ngọc Chung – Hải sản các loại: Đường Hạ Long, Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Du lịch Bãi Cháy – Chọn ngay nơi lưu trú lý tưởng nhất Color Homestay Hạ Long Greenbay

Địa chỉ: Greenbay Hạ Long, Hoàng Quốc Việt, Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Color Homestay Hạ Long Greenbay với gam màu xanh nổi bật, đặc trưng.

Seaview Homestay Hạ Long

Địa chỉ: Greenbay Hạ Long, Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Seaview Homestay có thiết kế gần gũi, tạo không gian ấm áp, thoái mái nhất cho du khách.

Condotel Twinkle Star Quảng Ninh

Địa chỉ: Tòa T2 Greenbay Hùng Thắng, Hoàng Quốc Việt, Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Homestay T&N Bãi Cháy

Địa chỉ: Lô C109 Khu Đông Hùng Thắng, Bãi Cháy, Hạ Long, Quảng Ninh.

Homestay T&N nổi bật với kiến trúc ấn tượng, hài hòa với thiên nhiên.

Đăng bởi: Huyền Lê

Từ khoá: Kinh nghiệm du lịch Bãi Cháy (Quảng Ninh) cho cặp đôi

Thuyết Minh Về Đôi Đũa ❤️️ 10 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Thuyết Minh Về Đôi Đũa ❤️️ 10 Bài Văn Ngắn Hay Nhất ✅ Một Vật Dụng Rất Quen Thuộc Trong Những Bữa Ăn Gia Đình Việt Nam.

Chia sẻ đến bạn đọc mẫu Dàn Ý Thuyết Minh Về Đôi Đũa chi tiết được nhiều bạn đọc nhiều quan tâm.

I. Mở bài:

Giới thiệu về đối tượng thuyết minh – đôi đũa.

Giới thiệu về đôi đũa cần thiết với em như thế nào, hiểu biết khái quát của em về nó.

II. Thân bài:

Miêu tả về đôi đũa: Chất liệu, màu sắc, tay cầm như thế nào.

Lợi ích của đôi đũa.

Con người sử dụng đôi đũa như thế nào?

III. Kết bài:

Cảm nghĩ của em về đôi đũa.

Khẳng định sự cần thiết và giá trị của đôi đũa.

SCR.VN Gợi Ý 💦 Thuyết Minh Về Đồ Vật, Đồ Dùng Sinh Hoạt ❤️️ 15 Mẫu Hay

Bài Văn Thuyết Minh Về Đôi Đũa Điểm 10 để lại nhiều ấn tượng cho các bạn đọc với lối văn logic và ấn tượng.

Mặc dù là dụng cụ ăn cơm phổ biến nhưng đôi đũa lại là một phần của văn hóa cổ xưa, xuất hiện trong rất nhiều truyền thuyết và phong tục dân gian khác nhau. Hiện có mặt khắp nơi bởi sự phổ biến của ẩm thực châu Á, đôi đũa từng là dụng cụ ăn cơm được lựa chọn ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam trong hàng ngàn năm.

Đôi đũa ra đời sớm nhất được làm bằng kim loại trong thời nhà Thương vào khoảng năm 1600 đến 1046 TCN, được phát hiện tại di tích khảo cổ Ân Khư, tỉnh Hà Nam. Sau đó, đũa ăn dần dần được sử dụng rộng rãi. Người ta thường cắt thực phẩm thành miếng nhỏ trước khi nấu để tránh sử dụng dao trên bàn ăn, điều được xem là thô lỗ.

Khổng Tử, triết gia sống ở thế kỷ thứ 6 TCN là người thông kim bác cổ nhưng sống giản dị, thanh đạm và an hòa. Ông đã khuyên mọi người không nên dùng dao trên bàn ăn bởi nó có thể khiến người ta nghĩ đến những việc sát sinh. Ông cũng không bao giờ cho phép dao xuất hiện trên bàn ăn của mình. Tư tưởng của Khổng Tử đã được nhiều người noi theo và đũa vì thế nhanh chóng phát triển và trở nên phổ biến.

Trên bề mặt, đôi đũa giải thích các nguyên lý cơ bản của triết học Trung Hoa, đáng chú ý nhất là nguyên lý nhị phân âm – dương. Hai chiếc đũa phải được dùng như một cặp, một chiếc làm trụ trong khi chiếc còn lại di chuyển để gắp thức ăn. Điều này phản ánh sự tinh thông về âm dương tương ứng với các yếu tố chủ động và thụ động, hình thành khái niệm về một tổng thể vận động không ngừng.

Hình dáng phổ biến của đôi đũa thường là một đầu tròn và một đầu vuông, tượng trưng cho trời và đất. Điều này có nguồn gốc từ bát quái, một tập hợp những nguyên tắc sử dụng để bói toán. Những ngón tay đặt ở giữa tượng trưng cho con người được nuôi dưỡng bởi trời và đất. Bởi vì tượng trưng cho sự hòa hợp của trời và đất nên đôi đũa được xem là điềm lành và thường được gói kèm vào của hồi môn trong đám cưới để chúc phúc cho những cặp đôi.

Theo truyền thống, độ dài tiêu chuẩn của một đôi đũa được đo lường bằng 7 thốn (1 thốn = 2,54 cm) và 6 phân (1 phân = 1 cm). Điều này đại diện cho thất tình lục dục được đề cập đến trong đạo lý của Phật giáo.

Khi cầm đũa đúng cách, những ngón tay tự nhiên đặt vào 3 vị trí: Ngón cái và ngón trỏ trên cao, ngón út và ngón đeo nhẫn ở dưới thấp, ngón giữa nằm ở giữa 2 chiếc đũa. Điều này không đơn giản chỉ là một quy ước bề mặt, nó còn tượng trưng cho quan niệm truyền thống của người Trung Hoa xưa về trời, đất và con người.

Những vật dụng vô cùng thân thuộc trong đời sống hàng ngày tưởng chừng như một sự phát hiện ngẫu nhiên, nhưng lại chứa đựng trong đó nội hàm sâu sắc về con người và vũ trụ. Và có thể thấy, sự hòa hợp giữa đất trời và con người luôn là yếu tố được tìm thấy trong những phát minh của người xưa.

Người xưa tin rằng có một mối liên kết tồn tại giữa thiên thượng và con người. Họ một lòng thờ kính Thần vì Thần là đấng tối cao sáng tạo ra hết thảy vạn sự vạn vật trong không gian vũ trụ này. Những niềm tin như thế đã thấm nhuần vào văn hóa và cuộc sống, từ những lễ nghi tín ngưỡng đến những phong tục dân gian lưu truyền từ thế hệ này đến bao thế hệ khác.

Cũng vì tấm lòng kính ngưỡng Thần, người xưa luôn coi trọng đạo đức và không ngừng tu dưỡng bản thân, vì họ luôn cho rằng: “Người đang làm, Thần đang nhìn”. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi văn hóa và đạo đức của người xưa đã đạt tới những đỉnh cao huy hoàng mà thời hiện đại khó lòng hình dung được.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Bài văn Thuyết Minh Về Đôi Đũa Ngắn Gọn và súc tích thể hiện qua từng câu văn, từ ngữ sinh động và sáng tạo.

Muôn đời nay, đôi đũa trở thành vật dụng không thể thiếu trong bữa cơm thường ngày của người Việt. Nhiều nghiên cứu cho rằng, đũa có nguồn gốc từ nền văn minh Trung Hoa, cũng có người lại khẳng định đũa thuộc văn minh lúa nước Đông Nam Á có cách đây cả mấy ngàn năm.

Ngày trước, tùy theo địa vị xã hội mà ông hoàng, bà chúa thường dùng đũa ngọc, ngà, quan lại dùng gỗ mun, còn người bình dân thì chỉ là đôi đũa tre, đũa gỗ đơn sơ, mộc mạc. Miền Bắc và miền Trung thường gắn với các lũy tre làng nên người dân thường lấy thân tre già chẻ vót làm đũa.

Ở miền Nam, người ta lại hay dùng cây dừa để làm nên đôi đũa. Đũa truyền thống Việt Nam có thân tròn và để mộc, một đầu vuông để các ngón tay cầm, một đầu được vót tròn để gắp thức ăn, không sơn quét, trang trí (trừ một số đũa chuyên dùng để thờ cúng). Tùy theo kích thước và công dụng mà đũa cũng được phân chia làm nhiều loại: đũa ăn chỉ dài độ 22-25 cm. Đũa lớn chuyên dùng để xào nấu dài khoảng 30- 35 cm để tránh hơi nóng và dầu mỡ không bắn dính vào tay.

Lại còn có những đôi đũa cả hay còn gọi là đũa bếp to dẹt, chuyên dùng để đảo, xới cơm trong những nồi lớn, dài tới 60-70 cm, dành cho cả hàng chục người ăn.

Dù chỉ là một vật dụng nhỏ bé nhưng đôi đũa lại chứa đựng trong đó cả một lịch sử lâu đời cùng những triết lý sâu sắc trong gia đình người Việt. Thông qua bữa cơm, đôi đũa đã trở thành một vật dụng để ông bà, cha mẹ có thể dạy con cháu những bài học về nền nếp, lễ nghĩa.

SCR.VN Giới Thiệu Bài 🍀 Thuyết Minh Về Đồ Dùng Trong Gia Đình ❤️️ 18 Bài Mẫu Hay

Bài văn Thuyết Minh Về Đôi Đũa Hay Nhất được chúng tôi chọn lọc và chia sẻ rộng rãi sau đây.

Đối với nhiều nước châu Á, đũa là một vật dụng rất quen thuộc trong bữa ăn. Tuy nhiên, văn hóa dùng đũa ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau về cách sử dụng lẫn quan niệm.

Đũa là vật dụng quan trọng và cùng quen thuộc với người dân Á Đông, nó trở thành một nét văn hóa của người Á châu. Và cùng với lịch âm, nến, giấy, mực… đũa là một trong những phát minh lớn của người Trung Quốc. Cách đây 3000 năm (thời Ân Thương) con người đã biết sử dụng đũa để gắp thức ăn thay cho việc bốc tay.

Thời gian đầu đũa ăn chưa được gọi là đũa, mà là “trợ” hoặc là “giáp”, đến thế kỷ thứ 6, 7 trước công nguyên đũa còn được gọi là “cân”. Sau đó vì một số quan niệm của người dân Giang Nam miền Đông Trung Quốc đã đổi tên thành “đũa”. Từ đó, đũa đã trở thành nền văn minh, bộ mặt của cả một nền văn hóa rộng lớn gồm nhiều nước châu Á.

Từ khoảng năm 1800 trước Công nguyên, những đôi đũa có kích thước lớn thường dùng để nấu ăn là chính. Đến khoảng năm 200 trước Công nguyên, đũa bắt đầu trở thành món đồ dùng phổ biến trong các bữa ăn.

Đối với người Việt, việc dùng đũa không chỉ đơn thuần chỉ là một công cụ để gắp thức ăn, nó còn thể hiện sự quan tâm, chia sẻ một cách tinh tế. Hầu như khi khởi đầu các bữa ăn, đặc biệt là trong các bữa tiệc, trước khi gắp đồ cho chính mình, họ thường dùng đôi đũa còn sạch để gắp đồ ăn mời mọi người quanh bàn. Còn trong suốt bữa ăn, nếu muốn tiếp đồ ăn cho người khác, phải đảo đầu đũa, đây là phép lịch sự tối thiểu nhất.

Nhìn chung, quy tắc dùng đũa của người Việt không quá khắt khe, trẻ nhỏ thường chỉ bắt đầu học cách sử dụng đũa khi đã lên 5 – 6 tuổi. Và cũng như nhiều quốc gia Á Đông khác, ngoài việc chống thẳng đôi đũa trong chén cơm bị coi là điềm gỡ, gắn liền với hình ảnh chén cơm cúng. Ở Việt Nam còn kiêng gõ đũa vào nhau, gõ đũa vào bát hay các vật dụng khác tạo tiếng động khi đang ăn. Họ quan niệm rằng, điều này sẽ khiến ma đói tìm tới quấy nhiễu, thêm vào đó đây là phép lịch sự mà người Việt rất đề cao.

Những đôi đũa truyền thống Việt Nam có thân tròn và để mộc, không sơn quét, trang trí, đầu đũa cũng thường không để quá nhỏ. Thông thường, ở miền Bắc đũa sẽ được làm từ tre còn ở miền Nam đũa thường được làm từ gỗ dừa.

Đọc Thêm Bài 🌵 Thuyết Minh Về Laptop, Máy Tính Để Bàn ❤️️ 15 Bài Mẫu Hay

Thuyết Minh Về Đôi Đũa Ăn Cơm, một vật dụng rất quen thuộc đối với mỗi người trong bữa cơm gia đình.

Mỗi vùng miền ở Việt Nam đều có nét văn hóa khác nhau nhưng điểm chung là đều sử dụng đũa. Ở miền Bắc có những lũy tre làng bao phủ nên người dân dùng thanh tre già để gọt đũa, miền Nam lại chủ yếu là những tán dừa nên sử dụng đũa dừa. Tuy nhiên, thông dụng nhất vẫn là đũa tre, đũa gỗ. Xưa người nông dân tự vót đũa thành thanh vuông, một đầu được vót tròn để dễ gắp thức ăn. Chính vì thế có câu ca dao về việc vót đũa trong dân gian:

Ở Việt Nam, thông dụng nhất vẫn là đũa tre, đũa gỗ.

Hiện nay để đáp ứng nhu cầu cho người dùng, ở Việt Nam có đa dạng các loại đũa hơn như đũa nhựa, đũa inox, đũa nhôm. Đũa nhựa cũng là dạng đũa phổ biến trong đời sống.

Cũng chỉ có ở Việt Nam mới có đũa để xới cơm từ nồi ra bát, đó là dạng đũa cả lớn, dẹt và làm từ tre hoặc gỗ. Trước khi xới cơm, muốn cơm không dính cần nhúng đũa cả vào nước; sau khi xới cơm dùng chiếc đũa nọ gạt cơm ra khỏi chiếc kia để đũa sạch cơm. Đây là cách sinh hoạt xưa kia ở các vùng nông thôn Việt Nam và hiện nay gần như không còn.

SCR.VN tặng bạn 💧 Thuyết Minh Về Cái Bát, Cái Chén, Cốc Nước 💧 10 Mẫu Hay

Văn Mẫu Thuyết Minh Về Đôi Đũa Chọn Lọc là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các em chuẩn bị tốt cho kì thi của mình.

Đôi đũa tre đơn sơ mộc mạc của văn hóa đất Việt luôn hiện diện trong mọi nhà người Việt, luôn âm thầm nhắc nhở họ về tình yêu quê hương đất nước, về sự đoàn kết và bình đẳng trong xã hội Việt Nam… Nhìn thật sâu vào đôi đũa tre, ta sẽ biết mình nên làm gì trong bổn phận và trách nhiệm của một người dân đất Việt.

Hễ là người Việt, dù giàu sang hay nghèo túng, không ai chưa từng biết đến đôi đũa tre mộc mạc mang đầy ý nghĩa đậm đà trong linh hồn dân tộc Việt Nam. Đôi đũa tre hầu như đã trở thành đặc điểm của văn hóa Việt Nam không kém gì chiếc áo bà ba thân thương, tà áo dài duyên dáng hoặc món ăn thuần túy canh chua cá kho tộ.

Từ đồng quê cho đến thành thị, từ những ngôi nhà lá chênh vênh đến những căn nhà cao tầng lộng lẫy, không có gia đình nào thiếu đôi đũa tre trong các bữa ăn.

Trên quê hương Việt Nam, lũy tre làng là một hình ảnh thơ mộng, hầu như được mọc khắp nơi, từ đầu ngõ, sau hè, bờ ao, cho đến bờ giậu hay đầu đình. Người dân Việt khi trồng tre, họ không nghĩ đến kinh tế hay việc làm đẹp mà vì lũy tre xanh ấy là bản thân, là linh hồn và đất nước quê hương của họ.

Vì thế, khi cầm đến đôi đũa tre, người dân Việt cảm thấy gần gũi với thiên nhiên và nguồn cội đất nước cha ông hơn. Đũa tre tuy đơn giản mộc mạc, nhưng đã nhắc nhở con cháu Việt Nam một cách âm thầm trong mọi bữa ăn về trách nhiệm yêu thương đùm bọc giống nòi và xứ sở của mình.

Ngày nay, ta thấy những loại đũa xuất hiện trên thị trường được làm bằng nhiều thứ quí giá như vàng, bạc, ngà, mun. Những người dân nếu có mua, thì cũng chỉ dùng để chưng bày, hay xài vào các dịp lễ lộc, còn hằng ngày các gia đình vẫn xài đũa tre đơn sơ để ăn cơm theo truyền thống.

Tiếp theo đón đọc 🍃 Thuyết Minh Về Cái Thùng Rác 🍃 10 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Bài Văn Thuyết Minh Về Đôi Đũa Ấn Tượng giúp các em có thể học hỏi và trau dồi thêm cho mình nhiều kiến thức hay.

Đũa, một cặp thanh có chiều dài bằng nhau, cỡ khoảng 15–25 cm, là dụng cụ ăn uống cổ truyền ở Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Đông Nam Á; còn được gọi là “các nước dùng đũa”).

Đũa thường làm bằng gỗ, tre, kim loại, xương, ngà voi, và ngày nay, cả bằng chất dẻo. Có thông tin cho biết đũa và đồ dùng ăn uống bằng bạc được dùng cho vua quan để phát hiện chất độc (oxide kim loại) trong thức ăn; nếu có chất độc, đũa sẽ có màu xỉn hay đen đi, do phản ứng thế.

Đũa cũng là một đòn bẩy, tuy nhiên không đem lại lợi thế về “lực” mà đem lại lợi thế về “đường đi”, đầu đũa có thể thu hẹp hoặc mở rộng được một khoảng cách khá lớn chỉ với một chuyển động nhỏ của các ngón tay.

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu của phương Tây, các nhà sử học Tây phương nói rằng đũa là loại hình thuộc văn minh Trung Hoa, văn minh đũa (civilisation des baguettes). Đôi đũa được phát hiện sớm nhất là một cặp kim loại trong triều đại nhà Thương (khoảng năm 1600-1046 TCN) được khai quật tại địa điểm khảo cổ Ân Khư.

Được phát minh vào khoảng thời gian cách đây từ 3000-5000 năm, đũa đã trở thành nền văn minh, bộ mặt của cả một nền văn hóa rộng lớn gồm nhiều nước châu Á. Đầu tiên được sử dụng bởi người Trung Quốc , đũa sau đó đã lan rộng sang các quốc gia văn hóa Đông Á khác bao gồm Nhật Bản , Hàn Quốc và Việt Nam.

Khi các dân tộc Trung Quốc di cư đến, việc sử dụng đũa làm dụng cụ ăn uống cho một số món ăn dân tộc nhất định đã trở nên phổ biến ở các nước Nam và Đông Nam Á như Campuchia, Ấn Độ, Lào, Nepal, Myanmar, Singapore và Thái Lan. Ở Ấn Độ (chủ yếu ở Himalayakhu vực), Lào, Myanmar, Thái Lan và Nepal, đũa thường chỉ được sử dụng để ăn mì.

Tương tự, đũa đã trở nên được chấp nhận nhiều hơn trong mối quan hệ với các món ăn châu Á ở Hawaii , Crookwell , Bờ Tây Bắc Mỹ và các thành phố có cộng đồng người châu Á ở nước ngoài trên toàn cầu. Riêng tại Thái Lan, đũa chỉ dùng cho súp và mỳ sợi, do vua Thái Rama V giới thiệu đồ dùng phương Tây từ thế kỷ 19.

Đón đọc 🌿 Thuyết Minh Về Cái Tủ Sách, Giá Sách, Tủ Quần Áo 🌿 10 Mẫu Hay

Đôi đũa cũng là một sản phẩm văn hóa ẩm thực Việt Nam được chọn làm “nhân vật” đưa lên tem bưu chính. Điều này khiến cho các hậu sinh thêm tự hào về trí thông minh, tài sáng tạo của tổ tiên, cũng như nhớ lại những thông điệp mà người xưa đã âm thầm gửi gắm về quan hệ ứng xử, nhân cách tự trọng, khiêm nhường, nhân nghĩa thủy chung, sự đoàn kết và giàu bản lĩnh của tâm hồn người Việt.

Trong khi người phương Tây lúc ăn phải dùng một bộ đồ ăn gồm dao, thìa nĩa, mỗi thứ thực hiện một chức năng riêng biệt, thì người phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam…) chỉ dùng một đôi đũa (gồm hai chiếc que làm thành) nhưng sử dụng một cách tổng hợp và cực kỳ linh hoạt với hàng loạt chức năng khác nhau: gắp, xé, và, dầm, trộn, vét…

Đứng ở góc độ vật lý, thì đôi đũa là một thứ công cụ chấp dài thêm ngón tay người và được vận dụng theo nguyên lý đòn bẩy một cách thần tình để gắp thức ăn xa. Về nguồn gốc đôi đũa, lâu nay không ít học giả phương Tây cho rằng văn minh đôi đũa (civilization des baguettes) là thuộc dạng Trung Hoa.

Tuy nhiên, theo sách Lịch sử văn hóa Trung Quốc do Đàm Gia Kiện chủ biên năm 1993 thì người Trung Quốc “Thời Tiên Tần không ăn dùng đũa, mà lấy tay bốc” (giống người Ấn Độ – đó là tập quán của các cư dân trồng kê, mạch, ăn bánh mì, bánh bao và thịt). Họ chỉ bắt đầu dùng đũa từ khi thôn tính phương Nam (đời Tần – Hán), ban đầu dùng một cách hạn chế để gắp thức ăn cứng từ các món canh, mãi về sau đôi đũa mới trở thành phổ biến.

Thế kỷ VI, đôi đũa mới du nhập vào Nhật Bản. Như vậy, thực ra, nó là sản phẩm của cái nôi trồng lúa nước Đông Nam Á – nơi có nền văn minh tre trúc là vật liệu. Ăn bằng đũa là cách ăn đặc thù, mô phỏng động tác của con chim nhặt hạt, xuất phát từ thói quen ăn những thứ không thể nào dùng tay bốc hoặc mó tay vào được (như cơm, cá, nước mắm,…) của cư dân Đông Nam Á.

Không chỉ trong văn học dân gian, mà tiếp mạch nguồn cảm xúc truyền thống đó, đôi đũa lại xuất hiện trong thơ ca hiện đại, với nhiều hình ảnh sinh động mới mẻ: “Bếp tập thể đậu kho và rau luộc, Em gắp cho tôi bằng đôi đũa cau rừng” (Phạm Tiến Duật). Đặc biệt, động tác so đũa đã cho ta thưởng thức nhiều tứ thơ hay cảm động: “…Bữa ăn sum vầy bên bếp lửa, Mẹ so đũa thừa lại nhớ đến ta” (Thu Bồn).

Bên cạnh tính cặp đôi mà hình tượng đôi đũa thể hiện thì nó còn phản ánh tính tập thể: bó đũa là biểu hiện của sự đoàn kết, của tính cộng đồng (trong câu chuyện dân gian về bó đũa chỉ sự đoàn kết là sức mạnh). Đôi đũa còn là minh chứng của sự thiêng liêng, khi thề độc, người xưa thường bẻ gãy đũa để thề.

Thậm chí khi chết đi, còn có đôi đũa cắm trên quả trứng, bát cơm đặt lên áo quan đưa tiễn người về nơi an nghỉ cuối cùng… Tất cả những điều này, khi đưa đôi đũa lên tem cũng tạo nên những sức mạnh, sự độc đáo của nó. Tem về đôi đũa không nhiều, người sưu tầm bắt gặp nó là nâng niu như báu vật.

Chia Sẻ Bài 💧 Thuyết Minh Về Bàn Chải Đánh Răng ❤️️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Bài vănThuyết Minh Về Đôi Đũa Chi Tiết giúp các em có thêm nhiều ý văn thú vị để hoàn thiện bài làm của mình.

Ở Việt Nam, đũa là một vật dụng được sử dụng hằng ngày trong những bữa ăn. Đũa cũng trở thành “linh hồn” trong bữa ăn để thể hiện nét văn hóa truyền thống và các quy tắc ăn uống đặc trưng của dải đất hình chữ S.

Việt Nam là một nước nông nghiệp với nền văn minh lúa nước. Trong mâm cơm của người Việt có hạt gạo mềm dẻo, có miếng cá, miếng thịt hay sợi rau dài, chính vì đôi đũa là sự lựa chọn phù hợp để gắp thức ăn thuận tiện. Dù sang giàu hay nghèo khổ, bất cứ ai sinh ra và lớn lên trên dải đất hình chữ S đều biết đến sự hiện diện của đôi đũa mộc mạc.

Đũa là một cặp thanh bằng nhau, có chiều dài khoảng 20-25cm, được các nước Đông Á sử dụng làm dụng cụ ăn uống.

Các nhà sử học Tây phương nói rằng đũa thuộc văn minh Trung Hoa, văn minh đũa hay còn gọi là civilisation des baguettes. Có giả thuyết cho rằng đũa được cho rằng ra đời cách đây 4.000 – 5.000 năm trước, trong triều đại nhà Thương (năm 1.600 – 1.046 TCN), đôi đũa đầu tiên bằng kim loại được tìm thấy tại điểm khảo cổ Ân Khư. Vị vua cuối cùng của triều đại nhà Thương là Trụ Vương đã sử dụng đũa ngà.

Gợi Ý 💦 Thuyết Minh Về Cái Phích Nước  ❤️️ 15 Bài Ngắn Gọn Hay

Bài Văn Thuyết Minh Về Cách Dùng Đôi Đũa Ngắn Hay với cách diễn đạt bài văn hấp dẫn, sử dụng hình ảnh miêu tả chân thực.

Trong gia đình Việt, việc dạy các thành viên sử dụng đũa là việc quan trọng, thể hiện một phần về trình độ giáo dục. Khi cầm đũa, chỉ sử dụng 3 đầu ngón tay: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Ngón áp út đặt dưới mặt đũa, ngón cái và ngón trỏ cố định đũa, để lại phần cuối đũa thừa khoảng 1 phân.

Trước khi cầm đũa phải so đũa, tức là xếp cho hai đầu đũa đều nhau. Người Việt cho rằng đôi đũa cũng như tình cảm lứa đôi, chỉ trọn vẹn khi có cặp có đôi; trong gia đình muốn êm ấm hòa thuận phải so đũa sao cho bằng.

Trong mâm cơm, người nhỏ tuổi nhất so đũa và đưa cho các thành viên bắt đầu từ người lớn nhất hoặc khách quý đến chơi. Người có vai vế lớn nhất sẽ cầm đũa trước và gắp thức ăn đầu tiên, sau đó con cháu bắt đầu dùng bữa. Nên dùng đũa mới để gắp đồ ăn mời người khác trước khi gắp cho mình; còn nếu dùng đũa của mình gắp cần đảo đầu đũa. Điều này không chỉ đảm bảo vệ sinh mà còn thể hiện tính lịch sự.

Bạn cần dùng đũa gắp thức ăn vào bát rồi mới đưa vào miệng, nếu trong bát còn thức ăn không nên gắp thêm vào. Khi gắp thức ăn, không nên dùng đũa để đảo đồ ăn tìm món mình thích; không khuấy vào bát nước chấm hay bát canh chung. Với người Việt, đũa không còn chỉ đơn giản là dụng cụ phục vụ ăn uống mà còn thể hiện văn hóa, sự khéo léo, tinh tế.

Gợi ý cho bạn 🌹Thuyết Minh Về Cái Kính, Mắt Kính ❤️️ 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Bài văn Thuyết Minh Về Đôi Đũa Lớp 8 ngắn sẽ mang đến cho các em học sinh những ý văn hay và phong phú hơn.

Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng đũa được ra đời dưới nền văn minh lúa nước (cách đây khoảng 10.000 năm). Khi xưa, tổ tiên người Trung Hoa đến từ phía Tây lưu vực sông Hoàng Hà và sống chủ yếu với nền văn minh nông nghiệp khô, tức là ăn bốc bằng tay mà không dùng đũa. Khi bắt đầu kéo quân về thôn tính vùng đất phương Nam – vùng Đông Nam Á – họ mới bắt đầu có nền văn minh lúa nước. Nền văn minh này sử dụng thức ăn chính là hạt gạo nhỏ, ngắn và thường dính với nhau, lúc này việc dùng đũa trở nên hiệu quả khi ăn.

Trong văn hóa Việt có một câu chuyện dân gian chứng minh cho sự ra đời rất sớm của đôi đũa, đó là sự tích Trầu Cau. Câu chuyện ra đời trước cả thời nhà Tần và trước thời 1.000 năm Bắc thuộc. Tương truyền, thời vua Hùng Vương, có 2 anh em tên là Tân và Lang rất yêu thương, đùm bọc nhau.

Họ theo học một đạo sĩ họ Lưu và người này có cô con gái cùng tuổi với 2 anh em. Trong một lần dọn cơm, cô chỉ dọn một đôi đũa để thử lòng hai anh em xem ai sẽ nhường trước. Người anh là Tân nhất mực nhường em nên cô gái đã đem lòng quý mến và sau đó 2 người yêu nhau, kết duyên vợ chồng.

Từ ngày có vợ, người em cảm thấy anh không quan tâm mình như trước, buồn bã và bỏ đi đến một con suối gục khóc và hóa đá. Người anh đi tìm em cũng chết bên bờ suối đó và hóa thành câu cau bên cạnh tảng đá. Người vợ đi tìm chồng rồi cũng buồn và hóa câu trầu leo vấn vít lên cây cau. Từ câu chuyện này có thể thấy đôi đũa đã xuất hiện lâu đời ở Việt Nam.

Có người cho rằng động tác dùng đũa gắp thức ăn ở Việt Nam phỏng theo con chim dùng mỏ để nhặt hạt. Những biểu tượng như chim hồng, chim hạc ở Việt Nam đều là loài có mỏ dài, sử dụng mỏ để mổ thức ăn.

Có nhiều câu chuyện khác sinh ra lý giải về nguồn gốc của đôi đũa. Trong đó, có giả thuyết cho rằng ở thời đại trước, khi dân số ngày càng gia tăng, lương thực trở nên khan hiếm, con người dùng cách chia thức ăn ra thành từng miếng nhỏ để nấu được nhiều bữa, tiết kiệm hơn. Và đôi đũa ra đời để có thể chia, gắp thức ăn thành nhiều mẩu bé.

Tham khảo văn mẫu 🌺 Thuyết Minh Về Nồi Cơm Điện ❤️️ 13 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Mách Bạn Top Những Shop Quần Áo Đẹp Ở Quảng Ninh

Remmy Hạ Long – shop quần áo đẹp ở Quảng Ninh

Được xem là một trong những cửa hàng nổi tiếng tại Hạ Long về quần áo dành cho nam giới. Remmy Hạ Long chuyên cung cấp những loại quần tây áo sơ mi với thiết kế lịch lãm và vô cùng sang trọng. Những sản phẩm quần áo tại shop luôn được chọn lọc và kiểm tra kỹ càng đem lại chất lượng tốt nhất, đẹp nhất, đáp ứng tối đa nhu cầu mua sắm của mọi khách hàng

Địa chỉ:

Chi nhánh 1: 755 Lê Thánh Tông, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh

Chi nhánh 2: 34 Trần Hưng Đạo, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh

Giờ mở cửa: Từ 8:30 am – 22:00 pm

Luux Trend

Đây là shop quần áo nam nổi tiếng tại Quảng Ninh, được đánh giá cao về thiết kế cũng như chất liệu và độ bền. Các sản phẩm quần áo tại Luux Trend được nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi xuất bán, chủ yếu là đồ âu và kaki đem đến sự sang trọng, lịch lãm cho các quý ông.

Ngoài ra, Luux Trend còn cung cấp những mẫu giày handmade với thiết kế độc đáo. Đến với Luux Trend bạn sẽ được phục vụ cũng như tư vấn nhiệt tình bởi đội ngũ nhân viên nhiều kinh nghiệm và có tính thẩm mỹ cao, giúp bạn chọn lựa được những set đồ ưng ý nhất.

Địa chỉ

Chi nhánh 1: 567 Lê Thánh Tông, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh

Chi nhánh 2: 32 Trần Hưng Đạo, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh

Giờ mở cửa: Từ 8:15am – 22:00pm H2T – shop quần áo đẹp ở Quảng Ninh

Nếu bạn yêu phong cách bụi bặm, manly, phóng khoáng thì hãy đến H2T shop. Tại đây chuyên cung cấp những loại quần áo có thiết kế mạnh mẽ, cool ngầu. Áo khoác, quần jean, quần kaki là những sản phẩm chủ đạo của shop.

H2T chú trọng đến thiết kế cũng như chất lượng của sản phẩm, nên những sản phẩm được ra mắt luôn được kiểm tra kỹ càng về chất liệu cũng như từng đường kim mũi chỉ. Nhân viên tại H2T được đánh giá rất cao bởi ngoại hình bắt mắt, tư vấn nhiệt tình đem lại cho bạn trải nghiệm mua sắm tuyệt vời.

Địa chỉ: 13 Trần Hưng Đạo, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh Giờ mở cửa: Từ 8:00 am – 22:00 pm Bishop – shop quần áo đẹp ở Quảng Ninh

Bishop là shop quần áo nam ở Quảng Ninh được nhiều bạn trẻ yêu thích. Tại đây chuyên cung cấp những loại quần áo như jogger, short, set bộ thể thao, bomber, jacket, sơ mi,… mang đậm phong cách hiện đại, năng động. Những sản phẩm được bày bán tại shop luôn được kiểm tra kỹ càng về chất liệu cũng như mẫu mã, cung cấp cho khách hàng những bộ quần áo chất lượng nhất.

Mua sắm tại Bishop sẽ mang đến cho bạn một trải nghiệm tuyệt vời với dịch vụ chăm sóc khách hàng chu đáo, đội ngũ nhân viên nhiệt tình tư vấn giúp bạn lựa chọn được bộ quần áo ưng ý nhất.

Địa chỉ

Chi nhánh 1: 55 Nguyễn Văn Cừ, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh

Chi nhánh 2: 55 Anh Đào, Bãi Cháy, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh

Chi nhánh 3: 67 Trần Phú, Cẩm Phả, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh

Giờ mở cửa: Từ 8:30am – 21:30pm Khoai Tây Shop Địa chỉ: Số 14 Phố Chu Văn An, Hồng Hải, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh Giờ mở cửa: Từ 9:00 am – 21:20 pm On ROAD Store – shop quần áo đẹp ở Quảng Ninh

On ROAD Store được cho là cái tên sáng giá trong những shop quần áo nam ở Quảng Ninh, được nhiều người trẻ yêu thích. Tại đây chuyên cung cấp những loại quần áo phù hợp cho nhiều phong cách khác nhau, có thể dùng đi chơi, đi học hay thậm chí đi làm.

Địa chỉ: 565 Lê Thánh Tông, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh Giờ mở cửa: Từ 9:00 am – 22:00 pm

Đăng bởi: Nguyễn Tiến

Từ khoá: Mách bạn top những shop quần áo đẹp ở Quảng Ninh

Cập nhật thông tin chi tiết về Thác Đôi Kỳ Thú Ở Quảng Ninh – Truyền Thuyết Về Chuyện Tình Đẹp trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!