Xu Hướng 3/2024 # Thơ – Wikipedia Tiếng Việt # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thơ – Wikipedia Tiếng Việt được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đối với những định nghĩa khác, xem Thơ ( xu thế )

Thơ là hình thức nghệ thuật dùng từ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe. Từ thơ thường được đi kèm với từ câu để chỉ một câu thơ, hay với từ bài để chỉ một bài thơ. Một câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp. Một câu thơ có thể đứng nguyên một mình. Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ. Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác.

Thơ có lịch sử lâu dài. Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể bắt đầu từ nhà triết học người Hy-Lạp Aristotle (384–322 TCN). Ở Việt Nam, thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra. Những câu có vần điệu, dễ nhớ như Sấm bên đông, động bên tây vốn là những kinh nghiệm được đúc kết thông qua sự từng trải, sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên, mà đúc kết lại, truyền từ đời nọ sang đời kia, giống như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để truyền thông tin vậy. Những đúc kết bao gồm đủ mọi mặt trong cuộc sống, sau này khi được biến thành những câu ca dao, câu vè, chúng trở thành hình thức văn nghệ, giải trí.

Bạn đang đọc: Thơ – Wikipedia tiếng Việt

Thông qua giao lưu giữa các nền văn hóa, các thể loại thơ được tăng dần. Từ những cấu trúc đơn giản đến những cấu trúc phức tạp. Những xu hướng gần đây cho thấy, cấu trúc không còn là yếu tố quan trọng trong thơ. Trong các thể loại thơ ở Việt Nam, ta có thể kể đến vài loại như lục bát, song thất lục bát, các thể loại thơ Đường luật như thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú rồi đến các loại thơ mới và thơ tự do. Ngoại trừ thơ tự do, một hình thức hầu như không có một cấu trúc rõ rệt, các loại thơ khác hầu như đều có cấu trúc nhất định. Chặt chẽ nhất có thể là các loại thơ Đường, trong đó cấu trúc về nội dung, luật về số chữ trong câu, số câu trong bài, về cách gieo vần quyết định thể loại của bài thơ. Sự khắt khe trong cấu trúc làm cho thơ Đường trở nên gần như một hình loại văn học chỉ dành riêng cho các tầng lớp trung lưu trở lên, là những người có giáo dục đường hoàng. Chính vì sự khắt khe này, thơ Đường hiện nay dần dần bị phai nhạt và hầu như không còn ai để ý đến nữa.

Hiện nay, thơ trở thành hình thức nghệ thuật và thẩm mỹ hầu hết ai cũng biết đến. Không ai đã từng trải qua quy trình giáo dục mà không biết vài câu thơ. Thơ còn trở nên hình thức để bày tỏ tâm tư nguyện vọng và tiềm ẩn tính phát minh sáng tạo của con người. Có thể nói, sự sống sót của thơ đi song song với sự sống sót của ngôn từ. Còn ngôn từ tức là còn thơ .

Thơ, thơ ca hay thi ca, là khái niệm chỉ các loại sáng tác văn học có vần điệu, có đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều ý cô đọng. Một bài văn cũng có thể là một bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó súc tích và gây cảm xúc cho người đọc một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, một bài thơ thường còn mang tính vần giữa câu nọ với câu kia và tổ hợp của các câu gây ra âm hưởng nhạc tính trong bài. Thơ thường dùng như hình thức biểu tả cảm xúc trữ tình, hoặc tình cảm xúc động trước hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, như khi người ta đứng trước phong cảnh ngoạn mục, hoặc đứng trước thảm cảnh. Sự tương tác giữa tình cảm con người và hoàn cảnh tạo nên những cảm nghĩ mà người ta muốn bày tỏ với một phong độ chắt lọc, tinh khiết, không rườm rà, song có mức thông tin cao, đột phát, nhưng cô đọng và khúc chiết. Muốn làm được như vậy, người làm thơ phải có một con mắt quan sát chi tiết, tổng quát hóa, và nhanh chóng liên tưởng giữa những hình ảnh quan sát được với những gì vốn có trước đây.

Tính nhạc trong thơ là một hình thức làm cho bài thơ dễ được cảm nhận bởi người nghe hay người đọc và sức cảm nhận nhanh gọn này tựa như như hiệu ứng của việc xem phim và nghe âm nhạc trong phim hòa quyện với nhau cùng một lúc. Câu chữ trong thơ văn, hay trong ngôn từ, giúp con người tái tạo lại hình ảnh mà nó miêu tả, tuy nhiên âm thanh và vần điệu của những từ lại gây xúc cảm về âm nhạc. Sự liên kết khôn khéo giữa hai đặc thù này của ngôn từ thôi thúc sự tìm tòi những từ có âm thanh hay, xác nhận với tình cảm người viết muốn truyền, đồng thời tìm tòi những từ mới. Tính âm nhạc còn bộc lộ trong việc sử dụng những từ diễn đạt âm thanh như ” rì rào “, ” vi vút “, ” ầm ầm “, ” lanh canh “, … Chính vì đặc thù này, việc làm thơ nhiều khi tựa như như việc làm toán, hoặc việc bài binh bố trận trong quân sự chiến lược, mà bài toán hay quân địch phải chinh phục chính là cảm hứng của họ, và câu chữ hoặc từ là phép toán hay lực lượng quân đội mà họ có, và người làm thơ phải nhanh gọn tìm ra chiêu thức biểu tả tình cảm của mình dưới một hình thức cô đọng, hài hòa và hợp lý, với một số lượng từ rất nhỏ. Để lùng tìm những câu, chữ, từ, nghĩa nhanh gọn, người làm thơ thường phải kinh qua một quy trình rèn luyện lâu dài hơn, bằng cách đọc sách, học cách biểu tả tình cảm của mình bằng những câu chữ ngắn gọn, đồng thời có cảm quan nhạy bén với ngữ nghĩa của từ được dùng. Thơ còn yên cầu tính nghiên cứu và phân tích những từ ghép và cô đọng từ. Chính vì vậy, nhiều khi do làm thơ, người làm thơ dễ rơi vào thực trạng liên tưởng giữa từ của nghĩa này sang từ của nghĩa khác. Khi được dùng trong thơ, người ta còn gọi là sự ” chơi chữ ” .

Tính hội họa trong thơ, hay còn gọi là tính tạo hình, là một tính chất cơ bản. Người làm thơ, trước khi viết thơ, thường rơi vào tình trạng mà người ta gọi là “cảm hứng”. Trong tình trạng này, các hình ảnh thu được trong trí nhớ, có thể bao gồm cả các khung cảnh ở bên ngoài quan sát được, liên kết với nhau, tạo nên một thế giới nhỏ bé. Hình ảnh có thể rõ đến mức người ta gần như cảm thấy có thể động vào những vật thể, ngửi thấy mùi vị, thấy sự chuyển động của vật thể, thấy màu sắc v.v. Người làm thơ sẽ sống trong thế giới ấy trong khi họ đang nghĩ về bài thơ, họ sẽ đi lại, vào các góc của thế giới của mình, nhìn rõ hơn các vật cảnh, liên kết thêm những màu sắc, những chuyển động, những dãy liên tiếp của các sự kiện xảy ra, hay nói cách khác, họ xa rời cái thế giới mà họ đang sống. Chính vì hiện tượng này, người ta có câu nói đùa, chỉ các nhà thơ là thơ thẩn, nằm mơ hay mơ mộng như người ở trên cung trăng. Đây là một hiện trạng có thật. Sự hưng phấn do được sống trong thế giới riêng của mình, được sắp đặt nó theo ý riêng của mình, được thêm thắt, chắt lọc, được cho các vật chuyển động, xoay quanh các vật, chiêm ngưỡng chúng, cảm giác chúng v.v. gây nên sự ham mê, thôi thúc người làm thơ tiếp tục sống và diễn tả lại chúng bằng từ ngữ. Không những quan sát và diễn tả không thôi, họ còn phải nâng sự quan sát của họ lên đến một mức độ nhạy bén, hoa mỹ, không tầm thường – đây chính là sự khác biệt giữa thơ và truyện hay với các loại hình nghệ thuật khác. Một số cách dùng từ để thể hiện:

Quan sát Cách diễn tả thường thấy Cách diễn tả có tính thơ hơn

Mưa ảm đạm, xối xả, rầu rĩ thì thầm, lõm bõm, quất mặt, vắt nước, bạc trời đất, xiên ngang trời

Buồn thảm, rầu, ơi là buồn, héo hắt, tênh lãng đãng, nham nhở, đặc sệt, nhỏ giọt, thở khói đen, bám rễ, đeo trên ngực

Hoa nở, thắm, thơm lừng, thơm ngát, thơm nồng chúm chím, nứt ra, ngóc đầu, nhảy múa, hát vị ngọt, phanh lồng ngực tỏa hương

Việc chọn lọc từ tạo nên hình ảnh thường được thấy rất nhiều trong các bài thơ. Có những hình ảnh đẹp, mềm mại, hài hòa, thơ mộng. Có những hình ảnh khắc khổ, vuông thành sắc cạnh, song cũng có những hình ảnh đồ sộ, đôi khi gớm ghiếc. Mỗi một hình ảnh đều nhằm tái tạo lại thị giác, cảm quan của người làm thơ lúc họ viết. Một trong những ví dụ về hình ảnh có thể tìm thấy trong tập Truyện Kiều của Nguyễn Du:[1]

Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Do ảnh hưởng của quan niệm hội họa dưới thời người làm thơ còn sống, Nguyễn Du thường sử dụng phong thái thủy mặc trong thơ của mình. Phong cảnh đơn sơ, chấm điểm, phác thảo và nhẹ nhàng, nhưng không kém sức quyến rũ. Một câu khác của Bà Huyện Thanh Quan trong bài Qua đèo Ngang:

Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Hay Nguyễn Khuyến :

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Hay gần đây hơn của Trần Đăng Khoa trong bài Nghe thầy đọc thơ:

Em nghe thầy đọc bao ngày Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà Mái chèo nghiêng mặt sông xa Bâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa

Không chỉ là những hình ảnh đẹp, tĩnh tại, hình ảnh trong thơ còn động đậy, hoạt bát. Người đọc thơ vừa hình tượng được vật thể, vừa thấy màu sắc, vừa thấy sự chuyển động của chúng. Chính vì lý do này, nhiều khi các vật được miêu tả trong thơ được nhà thơ cho thêm tính “hoạt họa” của nó, hay còn gọi là “nhân cách hóa”. Dùng động từ cho những vật tưởng là vô tri, vô giác cũng giống như việc thổi sức sống vào trong vật thể, làm nó sống động trong đầu người đọc thơ. Chẳng hạn Trần Đăng Khoa đã viết trong bài Mặt bão:

Bão đến ầm ầm Như đoàn tàu hỏa Bão đi thong thả Như con bò gầy

Hay trong bài “Góc Hà Nội”

Nắng tháng tư xỏa mặt Che vội vàng nỗi nhớ đã ra hoa.

..

Thành phố ngủ trong rầm rì tiếng gió Nhà ai quên khép cửa Giấc ngủ thôi miên cả bến tàu[2]

|Khoa]] làm lúc 9 tuổi trong bài Buổi sáng nhà em:

Ông trời nổi lửa đằng đông Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay

..

Chị tre chải tóc bên ao Nàng mây áo trắng ghé vào soi gương Bác nồi đồng hát bùng boong Bà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà

Song nó cũng xuất hiện trong những bài của những nhà thơ lớn tuổi. Ví dụ Nguyễn Mỹ trong bài Con đường ấy[3]:

Nắng bay từng giọt – nắng ngân vang Ở trong nắng có một ngàn cái chuông

Hoặc Hàn Mặc Tử trong bài Một Nửa Trăng:

Hôm nay chỉ có nửa trăng thôi Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi

Đặc biệt tính ví von trong thơ Hồ Xuân Hương gây nhiều trạng thái tình cảm nửa hư, nửa thực, gần như là trêu chọc người đọc, như trong bài Đánh Cờ :

Quân thiếp trắng, quân chàng đen, Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa. Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa, Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên. Hai xe hà, chàng gác hai bên, Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ.

Hay trong bài Ốc nhồi ( thơ Hồ Xuân Hương ) :

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi, Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi. Quân tử có thương thì bóc yếm, Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.

Nếu hình ảnh trong đầu của nhà thơ không sôi động, thì người đọc thơ cũng không có cảm quan sôi động của bài thơ. Sự tương tác giữa họa, nhạc trong thơ hoàn toàn có thể gần như tựa như với sự góp phần của họa sỹ, nhạc sĩ, hay nói cách khác, sự dàn dựng một bộ phim, và họa sỹ, nhạc công, đạo diễn phim v.v. toàn bộ đều chỉ bởi nhà thơ với ngòi bút và những từ ngữ trong một mạng lưới hệ thống ngôn từ mà ra .

Cách sử dụng dùng hình ảnh động đậy bằng việc cho thêm các động từ cũng thường được thấy trong các bài thơ Đường, đặc biệt là trong các vế đòi hỏi tính đối lập. Chẳng hạn Hồ Xuân Hương trong bài Lên chơi Đông Sơn tự:

Đông Sơn cảnh chiếm một hồ riêng, Uyên báu bay về, khói pháp chen, Đá núi điểm đầu, mưa phất xuống, Ngàn hoa nở rộ, gió tung lên, Đế Bà hương hỏa thơm bên xóm, Trịnh Chúa xe qua vết cũ còn, Cứu độ bè từ qua bể khổ, Chim âu ngủ đứng bến ngư thôn.

Một điểm khá quan trọng trong phim ảnh, nhạc, thơ hoặc bất kỳ một hình thức thẩm mỹ và nghệ thuật nào là tính lôgic của những sự kiện. Sự tăng trưởng của những hình ảnh từ nhỏ đến lớn, từ trầm đến thanh, từ mịn màng đến không nhẵn v.v. phải luôn luôn được xem xét. Người đọc thơ bị hấp dẫn một phần cũng vì tính lôgic của nó. Rất nhiều bài thơ, ngay cả của những thi sĩ nổi tiếng, do sắp xếp những hình ảnh trong thơ thiếu tính lôgic mà bài thơ của họ không được mấy người chú ý. Những hình ảnh đẹp họ gợi lên, hay những tương tác giữa những nhân vật trong thơ, cũng như tiến trình dẫn đến cao trào không có một sự tăng trưởng lôgic nhất định, gây cảm xúc bấp bênh, lõm bõm, và rời rạc cho người đọc. Nhạc trong thơ, hay sự tiến trình của cao trào cũng như thoái trào trong thơ, cũng tương tự như như tiến trình của âm nhạc, yên cầu phải theo cung, theo nhịp và theo sự tiến triển của thời hạn. Trong hội họa tiến trình này còn được hiểu như tiến trình của những gam màu, đồng dạng hoặc trái chiều. Thơ không phải là một tổng hợp của những hình ảnh lộn xộn, tuy nhiên là một chuỗi những hình ảnh được gắn lại với nhau theo một quy trình sắp xếp hài hòa và hợp lý, không kể tính thuận nghịch. Chính vì đặc tính này, người làm thơ, hay những nhà thơ, còn hoàn toàn có thể được gọi là những ” nghệ sĩ “. Họ không chỉ là người biết nhiều từ vựng, biết mường tượng cảnh sắc giỏi, mà họ còn là người biết sắp xếp những sự kiện hài hòa và hợp lý, và những bài thơ của họ tái tạo lại tình cảm, tái tạo lại sự kiện trong đầu người đọc nhanh gọn và gắn bó, như sự tăng trưởng tình cảm của họ khi họ viết một bài thơ. Nắm bắt được sự tăng trưởng tình cảm của mình, thiết kế xây dựng được cao trào yên cầu nhà thơ gần như có thêm một bản sao của chính mình. Họ phải quan sát cảm quan và sự tiến triển tình cảm của chính bản thân, ghi nhớ chúng và viết lại. Cảm quan của nhà thơ, sự quy tụ của những sự kiện bên ngoài, tính triết lý v.v. đều tác động ảnh hưởng bởi ngoại cảnh và thiên nhiên và môi trường xã hội. Không một nhà thơ nào không bị ảnh hưởng tác động của điều kiện kèm theo chính trị, lịch sử vẻ vang, phong thái tâm lý của thời đại khi họ còn sống .

Tứ thơ, hay ý tứ của bài thơ, là tình cảm, hình ảnh chủ đạo mà bài thơ muốn truyền đạt. Phong cách là cách chọn từ, cách diễn đạt ý tưởng của mình, chẳng hạn: ngộ nghĩnh, đơn sơ, mộc mạc, đơn giản, thanh thoát, gồ ghề, góc cạnh, mỉa mai, châm biếm, hoặc là cao thượng, đầy tính triết lý v.v. Cấu tứ của bài thơ là cấu trúc và ý tưởng gộp lại. Cách sắp xếp các câu thơ, sự sắp xếp của bài thơ, luật sử dụng trong bài thơ, vần điệu và tính nhạc đều là một phần của cấu tứ. Để có một cấu tứ tốt, người làm thơ thường phải nâng tầm mắt mình cao hơn tình cảm của mình, bao quát toàn bộ bài thơ, làm chủ chính tác phẩm của mình.

Một điểm nữa khá quan trọng, song lại có thể là lỗ hổng lớn nhất trong tất cả các bài bàn luận về thơ là dư âm. Dư âm là cảm quan người đọc có được sau khi đọc một cụm từ, một câu thơ, một đoạn thơ, hay một bài thơ. Tuy nguồn gốc của dư âm là ở bản thân cấu kết của các từ, cách sử dụng từ, của âm thanh và hình ảnh do các từ tạo ra, song kết quả của dư âm còn do ảnh hưởng của tâm trạng người đọc, cảm quan của người đọc, hay nói cách khác, khả năng cảm nhận của người đọc. Sở dĩ dư âm là một lỗ hổng lớn là vì tính khó bao trùm được của bất cứ một bàn luận nào về khía cạnh này. Có thể nói dư âm là kết xuất của cảm quan của người viết thơ cộng với cảm quan của người đọc thơ. Tạo được dư âm như mình mong muốn là cái thần của người làm thơ. Nó cũng tương tự như cảm quan của người nghe âm nhạc, sau khi nghe một đoạn nhạc. Tính mỹ thuật và âm hưởng của bài thơ, của đoạn nhạc là cái làm cho người ta nhớ và mến trọng. Có lẽ vì thế mà nhiều nhà thơ dùng ngoại cảnh để nói nội tình hơn là phân tích tình cảm nội tâm, tức là đi gián tiếp hay hơn là đi trực tiếp, hay lấy cái chung để nói cái riêng tư hay hơn là lấy cái riêng tư để nói cái riêng tư. Dư âm còn có thể là cái hương vị của bài thơ, từ đó người đọc cảm nhận được phong thái, cái hay cái đẹp trong tâm tư của nhà thơ. Nếu tôi nói hoa thơm thì người đọc chưa chắc đã cảm thấy hoa thơm, nhưng nếu tôi nói thoảng đưa trong không gian thì người đọc thấy cái gì nhè nhẹ, hình dung được cái hương bay. Hay nói cách khác, người làm thơ không diễn tả những gì hiển hiện trước mặt, không nói những gì hiển nhiên vốn có, bằng ngôn ngữ cửa miệng, đầu lưỡi, tức là thứ ngôn ngữ vẫn dùng thường ngày, song dùng một cách khác, gián tiếp chỉ đến điều mình muốn nói. Một trong những ví dụ là cách dùng hình ảnh cái bàn với những cái ghế trống rỗng trong vở nhạc kịch Những người khốn khổ, phỏng theo tiểu thuyết cùng tên của Victor Hugo.

There’s a grief that can’t be spoken. There’s a pain goes on and on. Empty chairs at empty tables Now my friends are dead and gone.

Phantom faces at the window. Phantom shadows on the floor. Empty chairs at empty tables Where my friends will meet no more.

Tạm dịch :

Có những nỗi thương tiếc không bật được thành lời. Có những nỗi đau lê gót chẳng dừng. Những cái ghế vắng vẻ bên những cái bàn trống không Những người bạn của tôi giờ đã chết và không còn nữa.

Ảo ảnh của những gương mặt ngoài cửa sổ. Những bóng ma trên sàn nhà. Những cái ghế vắng vẻ bên những cái bàn trống không Nơi những người bạn của tôi không còn gặp nhau được nữa.

Nếu cộng những câu trên với bản nhạc hát chúng thành bài hát thì dư âm là những giọt nước mắt trào ra. Như vậy việc dùng hình ảnh gián tiếp để nói cái nỗi đau ở trong lòng có ảnh hưởng tác động mạnh hơn, có sức truyền cảm lớn hơn, hơn là chỉ đơn thuần nói ” những người bạn của tôi chết cả rồi ” .Làm thơ là việc khó và không phải ai cũng hoàn toàn có thể làm được. Nhiều khi người ta cho rằng năng lực làm thơ là một thiên phú, trời cho và thường gây cảm hứng thán phục nếu ai đó có năng lực ” xuất khẩu thành thơ “. Đương nhiên khi làm thơ, người làm thơ phải có hiểu biết và một trí tuệ nhất định, tuy nhiên kể cả khi dùng trí tuệ thì trí tuệ của người làm thơ cũng bị xúc cảm của tình cảm chủ quan chi phối .

Thơ là thể loại văn học lấy cảm xúc, lấy trí tuệ súc tích được diễn đạt theo hình thức có vần điệu hoặc tự do (không vần điệu). Trong việc sáng tác các thể loại văn học thì nhà thơ là người cần thiên phú nhất, cho nên ít khi do học mà làm được thơ hay, dù nếu đã làm được thơ hay và cũng được học thì vẫn tốt hơn.

Thơ tồn tại như một loại thể văn học, còn “chất Thơ” hay “chất Thi ca” thì tồn tại ở nhiều loại hình, loại thể văn nghệ và trong thiên nhiên nói chung. Ví dụ một phong cảnh đẹp, một không khí môi trường gợi cảm xúc thi ca – như mùa thu vàng, chiều đông tuyết nhẹ rơi lãng đãng, khi tiễn hay đón gặp lại người thân sau nhiều năm xa vắng… làm cho tâm hồn tràn lên cảm xúc trữ tình, khiến ta như muốn ca lên, hát lên để biểu lộ một cái gì đó dạt dào hay xao xuyến.

Âm ( sound ) do sự nhóm họp của một hoặc nhiều nguyên âm tạo nên. Những âm gần giống nhau, không kể những phụ âm đứng trước hay đứng sau hay sự ảnh hưởng tác động của những dấu gây sự trầm bổng của âm, tạo nên vần trong thơ. Chẳng hạn, âm đơn :

à, ca, cha, đá, lá, ta

âm kép :

biên, chiêm, chuyên, xuyên

Bảng phân các loại âm sau đây được trích từ Hệ thống thanh trong tiếng Việt (Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm):

Loại thanh Tên các thanh Dấu chỉ thanh Ghi chú

Bằng

Trắc

Vần ( rhyme ) là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Đây là một quy luật để nối những câu trong bài thơ với nhau. Thường vần được dùng để nối câu gieo vào chữ sau cuối của câu thơ. Có hai loại vần :

vần bình: những chữ không dấu hoặc dấu huyền — ba, bà

vần trắc: những chữ có dấu hỏi, ngã, sắc, nặng — bả, bã, bá, bạ

Chữ ” đấy “, ” cấy ” cùng phát ra một âm ” ây ” tuy nhiên đều thuộc trắc thanh. Những tiếng ” dâu “, ” màu “, ” sầu ” có âm ” âu ” và ” au ” và thuộc bình thanh .Vần thể còn được ý niệm là vần giàu hay nghèo :

Vần giàu (hay còn gọi là Vần Chính): những chữ có cùng âm và thanh

Thanh bằng: Phương, sương, cường, trường

Thanh trắc: Thánh, cảnh, lãnh, ánh

Vần nghèo (hay còn gọi là Vần Thông): đồng thanh nhưng với âm tương tự

Thanh bằng: Minh, khanh, huỳnh, hoành

Thanh trắc: Mến, lẽn, quyện, hển

Ví dụ hai câu dùng vần chính:

Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông[4] Cưỡng vận Khi hai vần là vần thông với nhau mà thôi.

Người lên ngựa kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san Lạc vận Khi hai vần không thuộc vần chính hay vần thông.

Người về chiếc bóng năm canh Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Trong thơ Việt, có hai cách gieo vần

Gieo vần ở giữa câu (yêu vận hay “vần lưng”): Chữ cuối của câu trên vần với một chữ nằm bên trong câu dưới như trong thể thơ lục bát, chữ cuối câu có sáu chữ vần với chữ thứ sáu của câu tám chữ sau đó. Chẳng hạn truyện Kiều (1(6)-2(6)) (2(8)-3(6)) (3(8)-4(6)) (4(8)-..):

Người về chiếc bóng năm canh Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi Vầng trăng ai xẻ làm đôi? Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

Gieo vần ở cuối câu (cước vận hay “vần chân”): Các chữ ở cuối câu vần với nhau.

Vần tiếp Các cặp trắc bằng xen kẽ tiếp nhau. Chẳng hạn Xuân Diệu trong Tương Tư Chiều (2,3) (4,5) (6,7):

Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm,

Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em.

Không gì buồn bằng những buổi chiều êm,

Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối.

Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối;

Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành;

Mây theo chim về dãy núi xa xanh

Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ.

Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ.

Vần chéo Trong thi đoạn bốn câu, chữ cuối câu thứ nhất vần với câu thứ ba và chữ cuối câu thứ hai vần với câu thứ tư. Chẳng hạn Anh Thơ trong bài Tiếng chim tu hú (1,3) (2,4):

Nắng hè đỏ hoa gạo

Nước sông Thương trôi nhanh

Trên đường đê bước rảo

Gió nam giỡn lá cành

Nhiều khi chỉ cần chữ cuối câu thứ hai vần với câu thứ tư mà thôi. Chẳng hạn Quang Dũng trong bài Đôi bờ (2,4):

Xa quá rồi em người mỗi ngả

Bên này đất nước nhớ thương nhau

Em đi áo mỏng buông hờn tủi

Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

Vần ôm Trong thi đoạn bốn câu, chữ cuối câu thứ nhất vần với câu thứ tư và chữ cuối câu hai vần với câu thứ ba. Vần trắc ôm vần bằng, hay ngược lại. Chẳng hạn Nguyên Sa trong Áo lụa Hà Đông (1,4) (2,3):

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

Vần ba tiếng Trong thi đoạn bốn câu, chữ cuối câu một, câu hai và câu thứ tư vần với nhau. Câu ba khác vần. Chẳng hạn Thâm Tâm trong Tống Biệt Hành (1,2,3).

Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Cách gieo vần dùng chữ cuối cùng của câu cũng xuất hiện trong các bài thơ của châu Âu, chẳng hạn như hai câu trích trong bài On His Being Arrived to the Age of Twenty-three của nhà thơ người Anh John Milton (tiếng Anh):

That I to manhood am arrived so near, And inward ripeness doth much less appear,

Hay tạm dịch là :

Tuổi thanh xuân đến quá nhanh Đã nào một chút trưởng thành trong tôi

Ở đây âm “ia” (của near và appear) được dùng để làm vần nối hai câu thơ.

Điệu (rhythm), hay còn gọi là nhạc điệu, tạo nên do âm thanh của từ được chọn và nhịp điệu ngắt câu. Nhạc trong thơ được tạo nên bởi ba yếu tố: vần, tiết tấu và từ. Thơ lục bát, ca dao là một thể loại giàu nhạc tính.

Âm hưởng của vần:

(a)- Vần bằng thường gây cảm giác nhẹ nhàng, mềm mại.

Gió mơn man sợi nắng mành Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài Dương gian hé rạng hình hài Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi[5] (b) – Vần trắc thường gây cảm giác mạnh mẽ, động đậy, tỉnh thức.

Gió mơn man sợi nắng mành Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài Dương gian hé rạng hình hài Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi

Tiết tấu của câu: Tiết tấu là nói đến cái nhịp, cái điệu của câu thơ. dựa vào chỗ ngắt đoạn, tức chỗ chia câu thành từng vế, mỗi vế có nghĩa trọn vẹn. Đó là nhịp dài (–), khi ngâm người ta ngừng lại ngân nga lâu một chút. Ngoài ra, trong mỗi vế, khi ngâm tùy theo hứng, người ta cũng có thể ngừng lại ngân nga ngắn hơn ở những chỗ vế chia thành từng bộ phận, đó là nhịp ngắn (-).

Dương gian (-) hé rạng (-) hình hài (–) Trời (-) se sẽ lạnh (-), đất ngai (–) ngái mùi(–)

Nhịp trong thơ: tạo nên do sự phân định của câu và của từ, tương tự khi viết cho dấu phẩy, khi đọc ngưng hơi.

Nhịp (4/4) – (2/2/2/2) Em ngồi cành trúc (–) em tựa cành mai (–) Đông đào (-) tây liễu (-) biết ai (-) bạn cùng (–) Nhịp (2/2/2) – (2/2/2/2) Trời mưa (-) ướt bụi (-) ướt bờ (-) Ướt cây (-) ướt lá (–) ai ngờ (-) ướt em (–) Nhịp (2/4) – (2/2/2/2) Yêu mình (–) chẳng lấy được mình (–) Tựa mai (-) mai ngã (–) tựa đình (-) đình xiêu (–) Nhịp (2/4) – (4/4) Đố ai (-) quét sạch lá rừng (–) Để ta khuyên gió (–) gió đừng rung cây (–) Nhịp (2/4) – (2/4/2) Hỡi cô (-) tát nước bên đàng (–) Sao cô (-) múc ánh trăng vàng (–) đổ đi (–) Nhịp (4/2) – (2/4/2) Trách người quân tử (-) bạc tình (–) Chơi hoa (–) rồi lại bẻ cành (–) bán rao (–) Nhịp (3/2/2) – (4/3/2) Đạo vợ chồng (-) thăm thẳm (-) giếng sâu (–) Ngày sau cũng gặp (–) mất đi đâu (-) mà phiền (–)

Nhạc tính của từ: Theo ngữ học, mỗi từ đơn của ta thường là một âm tiết, khi phát lên nhẹ hay mạnh, trong hay đục là tùy theo vị trí phát âm của nó trong khẩu cung (kể từ môi đến cuống họng, kể cả độ mở của miệng). Một từ được phát lên tại vị trí nào trong khẩu cung là phải chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố tạo nên nó: nguyên âm, phụ âm đầu, phụ âm cuối và thanh. Vì thế từ nào có:

nguyên âm bổng như: i, ê, e

phụ âm vang như: m, n, nh, ng

thanh bổng như: không dấu, dấu sắc, dấu hỏi, thì từ được phát ra, âm sẽ cao, trong và nhẹ.

Ngược lại, từ nào gặp phải:

nguyên âm trầm: u, ô, o,

phụ âm tắc: p, t, ch, c,

và thanh trầm: dấu huyền, dấu ngã, dấu nặng thì từ phát ra âm sẽ đục và nặng. Sự trong đục của các từ ngắt nhịp trong câu, và nhất là của các từ dùng làm vần có ảnh hưởng nhiều nhất đến nhạc tính của thơ. Hôm qua (-) tát nước đầu đình (–) Bỏ quên cái áo (-) Trên cành hoa sen (–) Em được (–) thì cho anh xin (–) Hay là (-) em để làm tin (-) trong nhà. (–) Những từ ngắt nhịp và những từ dùng làm vần trong 4 câu thơ này hầu hết đều có những yếu tố tạo nên âm vang và trong, nên nhạc thơ nghe vui, diễn tả được tình cảm trong sáng, yêu đời của chàng trai ở đây. Nụ tầm xuân (-) nở ra xanh biếc. (–) Em đã có chồng (–) anh tiếc (-) lắm thay. (–) Âm “iếc” trong 2 từ “biếc” và “tiếc” lấy làm vần ở đây có 2 nguyên âm bổng (iê) vút cao với thanh sắc cũng thuộc loại thanh bổng nhưng đã bị đứt hơi, tắc nghẽn bởi phụ âm cuối ‘c’, được mệnh danh là âm tắc, nên khi đọc lên nghe như tiếng nấc, nhạc thơ vì vậy chậm lại, nghe nghẹn ngào, tức tưởi. Như thế, vần “iếc” ở đây gieo rất đắt, đã cực tả được nỗi tiếc nuối đứt ruột của chàng trai khi trở lại chốn cũ, gặp lại người xưa, tình mình thì đang nồng, người mình yêu lại quá đẹp, nhưng than ôi muộn mất rồi, vì nay nàng đã là gái có chồng! Yêu ai tha thiết, thiết tha Áo em hai vạt trải ra chàng ngồi. Đôi khi để đảm bảo cho nhạc tính của câu ca dao (âm luật, âm vận), những âm tiết của từ kép có thể đảo ngược vị trí. Như câu ca dao trên hai âm tiết “tha thiết” được đảo thành “thiết tha” vì thể lục bát chỉ gieo vần bằng (tha, ra). Thơ hoặc ca dao hay sử dụng từ láy, nhờ sự lập lại toàn thể hay một số yếu tố của từ gốc mà từ láy khi phát âm, hai điểm phát âm sẽ trùng nhau (từ láy hoàn toàn) hay tiến sát gần nhau (từ láy không hoàn toàn) tạo thành một chuỗi hòa âm, giúp cho nhạc điệu của thơ vừa phong phú, vừa tăng uyển chuyển, nhịp nhàng.

Vần bằng (hay cũng gọi là “bình”) được ký hiệu bằng B, vần trắc được ký hiệu bằng T, vần không theo luật ký hiệu bằng số 0 (vần tự do, có thể là thanh bất kì, bằng hoặc trắc).

Thơ lục bát có nguồn gốc truyền kiếp, là một thể thơ dân tộc bản địa ta, thơ lục bát gồm có hoàn toàn có thể từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng ( câu lục ) và một câu 8 tiếng ( câu bát ), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác, số câu trong bài không số lượng giới hạn .

Lục bát là một trong hai thể loại thơ chính của Việt Nam (lục bát và song thất lục bát). Thơ lục bát ở Việt Nam được truyền bá và phát triển hàng trăm năm nay. Thơ lục bát đã thấm đẫm tâm hồn người Việt chúng ta vì đó là thể thơ trong ca dao, đồng dao và các bài ru con. Ngày nay thơ lục bát vẫn được các nhà thơ hiện đại tiếp thu, hoàn chỉnh và giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dễ làm, thường dùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người.

Thơ lục bát có nguồn gốc truyền kiếp, là một thể thơ dân tộc bản địa ta, thơ lục bát gồm có hoàn toàn có thể từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng ( câu lục ) và một câu 8 tiếng ( câu bát ), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác, số câu trong bài không số lượng giới hạn. Thông thường thì khởi đầu bằng câu sáu chữ và chấm hết ở câu tám. Nhưng cũng có khi kết thúc bằng câu sáu để đạt tính cách lơ lửng, hiểu ngầm, hay diễn đạt sự bất thần. Thơ lục bát cũng cần tuân thủ luật về thanh và vần, thế cho nên tìm hiểu và khám phá thơ lục bát là khám phá về luật và vần của nó. Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà. Các vần chính là hình thức kết dính những câu thơ lại với nhau .Luật thanh trong thơ lục bát ; Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận ; nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là những tiếng thứ 1,3,5 trong câu hoàn toàn có thể tự do về thanh, nhưng những tiếng thứ 2,4,6 thì phải theo luật ngặt nghèo. Luật như sau :

Câu số

Vần

1

0

B

0

T

0

B

2

0

B

0

T

0

B

0

B

Chữ thứ

1

2

3

4

5

6

7

8

Ví dụ :Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân ( B – T – B )Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều( Tố Hữu )Về phối thanh, chỉ bắt buộc những tiếng thứ tư phải là trắc, những tiếng thứ hai, thứ sáu, thứ tám phải là bằng, nhưng trong câu tám những tiếng thứ sáu thứ tám phải khác dấu, nếu trước là dấu huyền thì sau phải là không dấu hoặc ngược lại :Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Thế nhưng nhiều lúc hoàn toàn có thể tự do về tiếng thứ hai của câu lục hay câu bát, hoàn toàn có thể biến nó thành thanh trắc. Hoặc là câu lục giữ nguyên mà câu bát thì lại theo thứ tự T-B-T-B những câu thơ thế này ta gọi là lục bát biến thể .Ví dụ :Có xáo thì xáo nước trong T-T-BĐừng xáo nước đục đau lòng cò con T-T-B-BHay :Con cò lặn lội bờ sôngGánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non T-B-T-BCách gieo vần trong thơ lục bát : Thơ lục bát có cách gieo vần khác với những thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thơ lục bát tính linh động về vần. Thể thơ lục bát thường được gieo vần bằng ; tiếng cuối của câu lục hiệp với tiếng thứ sáu của cậu bát, tiếng thứ sáu của câu bát hiệp với tiếng của câu lục tiếp ; cứ như thế đến hết bài lục bát :Trăm năm trong cõi người taChữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhauTrải qua một cuộc bể dâuNhững điều trông thấy mà đau đớn lòngNhư thế ngoài vần chân có cả ở hai câu 6, 8 lại có cả vần lưng trong câu tám. Tiểu đối trong thơ lục bát : Đó là đối thanh trong hai tiếng thứ 6 ( hoặc thứ 4 ) của câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Nếu tiếng này mang thanh huyền thì tiếng kia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại .Ví dụ :Đau đớn thay phận đàn bàLời rằng bạc mệnh cũng là lời chung .Ngoài đối thanh còn có đối ý :Dù mặt lạ, đã lòng quen( Bích câu kì ngộ )Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát : Thơ lục bát thường thì ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, hoặc 4/4 để diễn đạt những tình cảm yêu quý, buồn đau …Người thương / ơi hỡi / người thươngĐi đâu / mà để / buồng hương / hờ hữngĐôi khi để nhấn mạnh vấn đề nên người ta đổi thành nhịp lẻ đó là nhịp 3/3 :Chồng gì anh / vợ gì tôiChẳng qua là cái nợ đời chi đâyKhi cần diễn đạt những điều trắc trở, khúc mắc, can đảm và mạnh mẽ, bất ngờ đột ngột hay tâm trạng không bình thường, bất định thì hoàn toàn có thể chuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5, 3/5 …Thể thơ lục bát với cách gieo vần, phối thanh và ngắt nhịp giản dị và đơn giản mà biến hóa vô cùng linh động, nhiều mẫu mã và phong phú, nó rất dồi dào năng lực diễn đạt. Đa số ca dao được sáng tác theo thể lục bát. Theo thống kê của những nhà nghiên cứu có hơn 90 % lời thơ trong ca dao được sáng tác bằng thểthơ nàyTừ những đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa trên hoàn toàn có thể thấy về cơ bản thể thơ lục bát vẫn là thể thơ nền nã, gọn gàng với những pháp luật rõ ràng về vần nhịp, về số tiếng mỗi dòng thơ, về công dụng đảm trách của mỗi câu trong thể. Tuy vậy cũng có lúc câu lục tràn sang câu bát, câu lục và câu bát dài quá khổ, có khi xê dịch phối thanh, hiệp vần … đó là dạng lục bát biến thể. Sự biến đổi đó là do nhu yếu diễn đạt tình cảm ngày càng đa dạng và phong phú, phong phú phá vỡ khuôn hình 6/8 thường thì. Tuy nhiên dù phá khuôn hình, âm luật, cách gieo vần của thể thơ lục bát cơ bản vẫn giữ nguyên. Đó là tín hiệu đặc trưng cho ta nhận ra nó vẫn là thể lục bát .Bên cạnh lục bát truyền thống cuội nguồn còn có lục bát biến thể là những câu có hình thức lục bát nhưng không phải trên sáu dưới tám mả có sự co và giãn nhất định về âm tiết về vị trí hiệp vần … Hiện tượng lục bát biến thể là yếu tố đáng quan tâm trong ca dao, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể xem xét 1 số ít trường hợp : lục bát biến thể tăng, tiếng lục bát biến thể giảm số tiếng .Xét về mặt nội dung thơ lục bát diễn đạt tâm trạng nhiều chiều của nhân vật trữ tình. Thông thường người tầm trung hay mượn thể loại văn vần này để bày tỏ nỗi lòng, tâm trạng của mình trong đời sống, hoạt động và sinh hoạt, tình yêu … do vậy thể thơ hầu hết của ca dao vẫn là thể lục bát vì nó có năng lực diễn đạt tất thảy những cung bậc xúc cảm như : tình yêu trai gái, tình yêu mái ấm gia đình, xóm làng, yêu đồng ruộng, đất đai, yêu lao động, yêu vạn vật thiên nhiên …. Dân tộc nào cũng có một thể thơ, một điệu nhạc tương thích với cách điệu đời sống của dân tộc bản địa đó. Lục bát là thể thơ hài hoà với nhịp đập của tâm hồn, nếp nghĩ, cách hoạt động và sinh hoạt của dân cư Nước Ta. Ca dao, lời nói mang đầy âm sắc dân tộc bản địa cũng được chuyển tải bằng lục bát. Việc phát minh sáng tạo thể thơ độc lạ này bộc lộ đời sống niềm tin nhiều mẫu mã của người tầm trung, rất nhiều nhà thơ thành công xuất sắc nhờ thể thơ này. Những truyện thơ vĩ đại nhất của Nước Ta như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên đều được biểu lộ bằng hình thức thơ Lục bát. Sau này những nhà thơ văn minh cũng đã rất thành công xuất sắc khi vận dụng thể lục bát trong những sáng tác của mình. Nguyễn Bính, Đồng Đức Bốn tiêu biểu vượt trội cho dòng lục bát dân gian. Dòng lục bát trí tuệ hoàn toàn có thể xem Lửa thiêng của Huy Cận trong trào lưu Thơ Mới là thành tựu mở màn. Dòng lục bát văn minh có Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Tố Hữu …Bởi cái chất duyên dáng, kín kẽ, không ồn ào của lối nghĩ phương Đông, lục bát đã giữ cho mình luôn có cái vẻ nền nã. Ngày nay thể lục bát vẫn là niềm tự hào của dân tộc bản địa Nước Ta .

Song thất là hai câu bảy chữ nối theo hai câu lục bát. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn đã được Đoàn Thị Điểm diễn nôm lại bằng thể thơ này. Trong câu bảy chữ trên, chữ thứ ba là vần trắc, chữ thứ năm là vần bình, chữ thứ bảy là vần trắc; trong câu bảy chữ dưới, chữ thứ ba là vần bình, thứ năm là vần trắc, và chữ thứ bảy là vần bình. Hai câu lục bát tiếp sau thì theo luật thường lệ.

Câu số Vần

1 0 0 T 0 B 0 T

2 0 0 B 0 T 0 B

3 0 B 0 T 0 B

4 0 B 0 T 0 B 0 B

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp lại về buồng cũ gối chăn Đoái trông theo đã cách ngăn Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh

Chữ sau cuối của câu có bảy chữ trên vần với chữ thứ năm của cây bảy chữ dưới, chữ cuối câu bảy chữ ở dưới vần với chữ cuối của câu sáu chữ trong hai câu lục bát tiếp theo, chữ cuối câu sáu chữ lục bát vần với chữ thứ sáu của câu có tám chữ, và chữ cuối của câu tám chữ lục bát vần với chữ thứ năm của câu bảy chữ tiếp theo. Tuy nhiên, chữ cuối câu lục bát tám chữ cũng hoàn toàn có thể vần với chữ thứ ba câu bảy chữ, biến hóa âm trong vần chữ này đổi sang vần bình. Do đó, chữ thứ ba trong câu bảy chữ trên hoàn toàn có thể là trắc hay bằng .

Câu số Vần

1 0 0 0 0 B 0 T

2 0 0 B 0 T 0 B

3 0 B 0 T 0 B

4 0 B 0 T 0 B 0 B

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên Nhủ rồi tay lại trao liền Bước đi một bước lại vin áo chàng

Nếu chữ thứ hai là vần bằng thì chữ thứ tư là vần trắc .

Câu số Vần

1 0 T 0 B

2 0 B 0 T

Chữ thứ 1 2 3 4

Bão đến ầm ầm Như đoàn tàu hỏa[6]

trái lại, nếu chữ thứ hai là vần trắc thì chữ thứ tư là vần bằng .

Câu số Vần

1 0 B 0 T

2 0 T 0 B

Chữ thứ 1 2 3 4

Chim ngoài cửa sổ Mổ tiếng võng kêu[7]

Song nhiều bài thơ không theo luật ở trên .

Bão đi thong thả Như con bò gầy

Tương tự như luật của thơ bốn chữ ở trên, song cũng nhiều trường hợp không theo luật.

Hôm nay đi chùa Hương Hoa cỏ mờ hơi sương Cùng thầy me em dậy Em vấn đầu soi gương[8]

Dùng chữ cuối cùng, với cách gieo vần như vần chéo hoặc vần ôm:

Vần chéo Quê hương là gì hở mẹ Mà cô giáo dạy phải yêu Quê hương là gì hở mẹ Ai đi xa cũng nhớ nhiều

Đỗ Trung Quân – Quê Hương Vần ôm Xuân hồng có chàng tới hỏi: — Em thơ, chị đẹp em đâu? — Chị tôi tóc xõa ngang đầu Đi bắt bướm vàng ngoài nội

Huyền Kiêu – Tình sầu

Do ảnh hưởng của Thất ngôn tứ tuyệt trong thơ Đường, thơ bảy chữ hiện nay vẫn còn mang âm hưởng luật của nó. Có hai loại câu:

Vần bằng

Câu số Vần

1 0 B 0 T 0 B B

2 0 T 0 B 0 T B

3 0 T 0 B 0 T T

4 0 B 0 T 0 B B

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông[9] Tú Xương – Thương vợ

Hay gần đây hơn :

Em ở thành Sơn chạy giặc về Tôi từ chinh chiến cũng ra đi Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

(Quang Dũng – Đôi mắt người Sơn Tây) Vần trắc

Câu số Vần

1 0 T 0 B 0 T B

2 0 B 0 T 0 B B

3 0 B 0 T 0 B T

4 0 T 0 B 0 T B

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau: Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu Phen này ông quyết đi buôn cối Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu[10]

Hiện nay, thể thơ này được cải biên và nó chỉ còn là :

Câu số Vần

1 0 B 0 T 0 B 0

2 0 T 0 B 0 T 0

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

Ta về cúi mái đầu sương điểm Nghe nặng từ tâm lượng đất trời Cảm ơn hoa đã vì ta nở Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

Tô Thùy Yên – Ta về

Chữ cuối có vần trắc thì chữ thứ ba là vần trắc, chữ thứ năm và sáu là vần bằng

Vần

0 0 T 0 B B 0 T

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Chữ cuối có vần bằng thì chữ thứ ba là vần bằng, chữ thứ năm và sáu là vần trắc.

Vần

0 0 B 0 T T 0 B

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Nhưng nhiều lúc cũng không như thế .

Vần tiếp Tôi sẽ trách — cố nhiên — nhưng rất nhẹ; Nếu trót đi, em hãy gắng quay về, Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở. Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ, Cho nghìn sau… lơ lửng… với nghìn xưa…

Hồ Dzếnh – Ngập Ngừng Vần chéo Trong ánh nắng hạt sương dần nhẹ bỗng Rồi tan vào thoáng đãng trời xanh Cánh hoa mỏng rập rờn với gió Có nhớ về hạt sương sớm long lanh?

Hải Kỳ – Giấc mơ Vần ôm Đêm Trường Sơn. Lá với nước rầm rì Hơi đá lạnh nép mái nhà nghe ngóng Chúng tôi ngồi xòe tay trên lửa nóng Máu bàn tay mang hơi lửa vào tim

Nguyễn Khoa Điềm – Bếp lửa rừng

Muốn cho thơ tám chữ thêm âm điệu, 1 số ít nhà thơ thường gieo vần chữ thứ tám của câu trên với chữ thứ năm hay sáu của câu dưới :

Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi Những hào hùng, uất hận gối lên nhau

Cao Tần – Ta làm gì cho hết nửa đời sau?

Thơ lục bát

Thơ song thất lục bát

Thơ bốn chữ

Thơ năm chữ

Thơ sáu chữ

Thơ bảy chữ

Thơ tám chữ

Thơ tự do

Xem bài: Nhà thơ

Slovenia – Wikipedia Tiếng Việt

Slovenia (tiếng Slovenia: Slovenija [slɔˈʋéːnija])[6], tên chính thức là Cộng hòa Slovenia (Slovene:  (trợ giúp·thông tin))[7] là một quốc gia thuộc khu vực Nam Âu. Slovenia giáp với Ý về phía tây, giáp với Áo về phía bắc, giáp với Hungary về phía đông bắc, giáp với Croatia về phía đông và phía nam. Ngoài ra Slovenia còn tiếp giáp với biển Adriatic về phía tây nam. Thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Slovenia là Ljubljana. Slovenia là một quốc gia có diện tích tương đối nhỏ và ít dân. Theo số liệu tháng 7 năm 2007, dân số Slovenia là 2.009.245 người[8].

Slovenia tọa lạc tại Trung và Đông Nam Âu và giáp với Địa Trung Hải. Lãnh thổ lê dài từ vĩ độ 45 ° đến 47 ° B, kinh độ từ 13 ° đến 17 ° Đ. Kinh tuyến 15 ° Đ tương ứng với đường chia đôi quốc gia theo hướng đông-tây. [ 9 ] Điểm TT của quốc gia có tọa độ 46 ° 07 ‘ 11,8 ” B và 14 ° 48 ‘ 55,2 ” Đ, [ 10 ] nằm tại điểm dân cư Slivna của khu tự quản Litija. [ 11 ] Đỉnh cao nhất của Slovenia là Triglav ( 2.864 m hay 9.396 ft ) ; độ cao trung bình của nước này là 557 m ( 1.827 ft ) .Bốn vùng địa lý lớn tại châu Âu gặp nhau tại Slovenia : dãy Alps ( Anpơ ), dãy Dinarides, the bồn địa Pannonia, và Địa Trung Hải. Dãy Alps — gồm có Alps Julius, Alps Kamnik-Savinja và dãy Karavanke, cũng như khối núi Pohorje-chiếm hầu hết Bắc Slovenia, và vùng dọc biên giới với Áo. Bờ biến Adriatic của Slovenia lê dài chừng 47 km ( 29 mi ). [ 12 ]

Hơn một nửa nước này (10.124 km2 hay 3.909 dặm vuông Anh) phủ rừng. Điều này làm Slovenia trở thành quốc gia nhiều rừng thứ ba châu Âu, sau Phần Lan và Thụy Điển, chủ yếu là rừng cử, lãnh sam-cử và cử-sồi.[13] Tàn dư của rừng nguyên thủy vẫn còn có thể được tìm thấy, lớn nhất là ở vùng Kočevje. Thảo nguyên chiếm 5.593 km2 (2.159 dặm vuông Anh), đồng và vườn chiếm 954 km2 (368 dặm vuông Anh).

Bạn đang đọc: Slovenia – Wikipedia tiếng Việt

Quyền hạn tư pháp ở Slovenia được thực thi bởi những thẩm phán, những người được bầu bởi Quốc hội. Quyền tư pháp ở Slovenia được thực thi bởi tòa án nhân dân với những nghĩa vụ và trách nhiệm chung và những TANDTC chuyên ngành đối phó với những yếu tố tương quan đến những khu vực pháp lý đơn cử. Công tố viên nhà nước là một cơ quan nhà nước có thẩm quyền độc lập chịu nghĩa vụ và trách nhiệm so với những trường hợp truy tố chống lại những người bị nghi là tội phạm. Tòa án Hiến pháp, gồm có 9 thẩm phán được bầu trong 9 năm về, quyết định hành động sự tương thích của pháp lý với Hiến pháp, tổng thể những luật và lao lý phải tương thích với những nguyên tắc chung của lao lý quốc tế và với những thỏa thuận hợp tác quốc tế đã được phê duyệt. [ 15 ]

1

Vùng ven biển;

Carniola: 2a

Vùng thượng

2b

Vùng nội địa,

2c

Vùng hạ

3

Carinthia;

4

Styria;

5

Prekmurje

Khu tự quản (có tư cách pháp nhân)

Slovenia chính thức được chia thành 211 khu tự quản (11 trong số này là các khu tự quản đô thị). Các khu tự quản là bộ phận tự trị địa phương duy nhất tại Slovenia. Mỗi khu tự quản có một trưởng khu tự quản (župan, tạm dịch là thị trưởng nếu là khu tự quản đô thị), được bầu lên theo hình thức phổ thông cứ mỗi 4 năm, và một hội đồng khu tự quản (občinski svet). Tại đa số các khu tự quản, hội đồng khu tự quản được bầu theo hệ thống đại diện tỉ lệ; chỉ một ít khu tự quản sử dụng lối đầu phiếu đa số tương đối. Tại các khu tự quản đô thị, hội đồng khu tự quản được gọi là hội đồng thành phố hay hội đồng thị trấn.[16] Mỗi khu tự quản cũng có một trưởng hành chính khu tự quản (načelnik občinske uprave) do trưởng khu tự quản bổ nhiệm. Người này có trách nhiệm điều hành nền hành chính địa phương.[16]

Địa khu hành chính (không tư cách pháp nhân)

Không có đơn vị hành chính chính thức chuyển tiếp giữa khu tự quản và Cộng hòa Slovenia. 62 địa khu hành chính được chính thức gọi là “các đơn vị hành chính” (upravne enote) là đơn vị lãnh thổ bên dưới duy nhất của Slovenia và được đặt tên theo thủ phủ của nó. Tương tự như đơn vị quận của Việt Nam Cộng hòa hay quận của Pháp, đơn vị hành chính này không có tư cách pháp nhân và vì thế không có hội đồng địa khu do dân chúng bầu lên. Người đứng đầu địa khu này do Bộ trưởng Hành chính Công bổ nhiệm.

Một địa khu hành chính hoàn toàn có thể có từ 1 hay nhiều khu tự quản nằm bên trong địa giới của nó .

Các vùng truyền thống và đặc tính

Các vùng thống kê : 1 – Goriška, 2 – Gorenjska, 3 – Koroška, 4 – Podravska, 5 – Pomurska, 6 – Osrednjeslovenska, 7 – Zasavska, 8 – Savinjska, 9 – Obalno-kraška, 10 – Notranjsko-kraška, 11 – Jugovzhodna Slovenija, 12 – SpodnjeposavskaThành phố TP. hà Nội, Ljubljana, trong lịch sử dân tộc là TT hành chính của vùng Carniola và thuộc Hạ Carniola trừ địa khu Šentvid nằm trong Thượng Carniola là nơi biên giới giữa vùng chiếm đóng của Đức và tỉnh Ljubljana trong suốt thời Chiến tranh quốc tế thứ hai. [ 18 ]

Các vùng thống kê

Hai đại vùng này là:

Đông Slovenia (Vzhodna Slovenija – SI01) gồm có các vùng thống kê: Pomurska, Podravska, Koroška, Savinjska, Zasavska, Spodnjeposavska, Jugovzhodna Slovenija và Notranjsko-kraška.

Tây Slovenia (Zahodna Slovenija – SI02) gồm có các vùng thống kê Osrednjeslovenska, Gorenjska, Goriška và Obalno-kraška.

Vương cung thánh đường Maria ở Brezje, còn được gọi là nhà thời thánh vương quốc Slovenia, là nhà thời thánh được những tín hữu hành hương nhiều nhất ở Slovenia .

Tôn giáo tại Slovenia ( 2002 [ 33 ] )

 Công giáo Roma (57.8%)

 Vô thần (15.7%)

 Không tôn giáo (10.2%)

 Không xác định (7.1%)

 Không trả lời (3.5%)

 Hồi giáo (2.4%)

 Chính thống giáo Đông phương (2.3%)

 Giáo hội Luther (0.8%)

 Khác (0.2%)

Trước cuộc chiến tranh quốc tế II, 97 % dân số tự công bố là tín hữu Công giáo Rôma, khoảng chừng 2,5 % là Giáo hội Luther, và khoảng chừng 0,5 % dân số tự nhận mình là thành viên của những giáo phái khác. [ 34 ] Công giáo Rôma có một vị trí quan trọng trong đời sống, xã hội và chính trị ở Slovenia trước khi chính sách Cộng sản được thiết lập ở nước này. Sau năm 1945, quốc gia đã trải qua một quy trình thế tục hóa từ từ nhưng không thay đổi .Sau một thập kỷ đàn áp nghiêm trọng những tôn giáo, chính sách Cộng sản đã trải qua một chủ trương khoan dung tương đối về phía Công giáo, nhưng số lượng giới hạn tính năng xã hội của họ. Sau năm 1990, Giáo hội Công giáo Rôma lấy lại một số ít tác động ảnh hưởng trước kia của nó, nhưng Slovenia vẫn còn là một xã hội thế tục hóa. Theo tìm hiểu dân số năm 2002, 57,8 % dân số là Công giáo. Như những nơi khác ở châu Âu, tín hữu Công giáo bị giảm : năm 1991, 71,6 % dân số tự công bố mình là tín hữu Công giáo, có nghĩa là giảm hơn 1 % mỗi năm. Phần lớn người Công giáo Slovenia thuộc về nghi lễ Latinh. Một số ít người Công giáo Hy Lạp sống ở khu vực Carniola. [ 35 ]Mặc dù có số lượng tương đối nhỏ ( ít hơn 1 % dân số trong năm 2002 ), nhưng đạo Tin Lành đã để lại những di sản quý báo cho Slovenia vì ý nghĩa lịch sử vẻ vang của nó, người ta cho rằng tiếng Slovenia tiêu chuẩn và văn học tiếng Slovenia đã được khởi nguồn từ sự Cải Cách Tin Lành trong thế kỷ XVI. Ngày nay, một nhóm tín hữu Tin Lành thuộc Giáo hội Luther thiểu số đáng kể sống trong những khu vực phía đông của Prekmurje, nơi họ chiếm khoảng chừng 1/5 dân số và được chỉ huy bởi một giám mục ở Murska Sobota. [ 36 ]

Ngoài hai giáo phái Kitô giáo trên, một cộng đồng nhỏ người Do Thái cũng đã có mặt trong lịch sử. Mặc dù số lượng đã giảm sút trong vụ thảm sát Holocaust, Do Thái giáo vẫn còn vài trăm tín đồ, chủ yếu sống ở Ljubljana, nơi còn các giáo đường Do Thái duy nhất hoạt động trong cả nước.[37]

Theo tìm hiểu dân số năm 2002, Hồi giáo là tôn giáo lớn thứ hai với khoảng chừng 2,4 % dân số. Người Hồi giáo Slovenia đến từ Bosnia, Kosovo và Macedonia. [ 38 ] Các tôn giáo lớn thứ ba, với khoảng chừng 2,2 % dân số, là Chính Thống giáo, với hầu hết những Fan Hâm mộ thuộc Giáo hội Chính thống Serbia trong khi một thiểu số khác thuộc Giáo hội Chính Thống Macedonia và những nhà thời thánh Chính Thống khác .Trong năm 2002, khoảng chừng 10 % người dân Slovenia công bố mình là người vô thần, thêm 10 % không xác lập tôn giáo đơn cử, và khoảng chừng 16 % đã quyết định hành động không vấn đáp những câu hỏi về tôn giáo của họ .

Ong – Wikipedia Tiếng Việt

Bài này viết về côn trùng nhỏ có cánh. Đối với other uses, xem Ong ( xu thế )” Anthophila ” đổi hướng tới đây. Đối với chi bướm đêm, xem Anthophila ( bướm đêm )

Ong là loài côn trùng có tổ chức xã hội cao như kiến, mối. Ong sống theo đàn, mỗi đàn đều có ong chúa, ong thợ, ong non… và có sự phân công công việc rõ ràng. Ong có nhiều loài khác nhau, các loài được con người nuôi để khai thác sản phẩm như mật ong, sáp ong, sữa ong chúa,…

Bạn đang đọc: Ong – Wikipedia tiếng Việt

Ong thường sống thành đàn, nhiều nhất có khi tới 25.000 – 50.000 con, trong những tổ ở hốc cây, kẽ đá, bụi rậm, trong rừng, hoặc những tổ hòm nâng cấp cải tiến do người nuôi làm chỗ ở .

Những bông hoa được thụ phấn nhờ động vật hoang dã sớm nhất được triển khai bởi côn trùng nhỏ như bọ cánh cứng, do đó những bộc lộ của sự thụ phấn được bộc lộ rõ trước khi ong Open tiên phong. Tính mới ở ong đó là ” sự biệt hóa ” là một nhóm chuyên thao tác thụ phấn, với những biến hóa về vật lý và ứng xử đã làm tăng năng lực thụ phấn đặc biệt quan trọng của chúng, và nhìn chung chúng làm việc làm này hiệu suất cao hơn so với bất kể loài côn trùng nhỏ thụ phấn nào khác như bọ cánh cứng, ruồi, bướm và ong bắp cày phấn hoa. Sự Open của những chuyên viên thực vật này được tin là đã đưa đến sự tỏa nhánh thích nghi của thực vật có hoa, và đến lựot nó, ong cũng tăng trưởng theo .Trong số những nhóm ong còn sống sót, họ ong Colletidae theo truyền thống lịch sử được xem là nhóm nguyên thủy nhất, và nhánh chị em với nó là những con ong còn lại. Tuy nhiên, trong thế kỷ XXI, một vài nhà nghiên cứu và điều tra đã công bố rằng Dasypodaidae là một nhóm cơ sở, những loài trong nhóm colletidae là hiệu quả của sự tiến hóa quy tụ, hơn là bộc lộ thực trạng có dạng chung. Chủ đề này vẫn còn những sự không tương đồng, và quan hệ phát sinh loài giữa những họ ong vẫn chưa được hiểu rõ .

Ong hoàn toàn có thể sống đơn độc hoặc tập hợp thành nhiều kiểu hội đồng khác nhau. Đặc trưng nhất của ong là sống thành những tập hợp có tổ chứa xã hội tốt [ 2 ] biểu lộ ở ong mật, ong nghệ, và ong không ngòi thuộc phân họ ong mật. Tính xã hội, của nhiều nhóm khác nhau, được tin là đã chúng đã tiến hóa tách biệt nhiều lần trong nhóm ong .Trong xã hội ong mật, một chút ít ấu trùng được chọn làm ong chúa và hầu hết còn lại làm ong thợ. [ 3 ] Đối với ong mật, những enzym trong ruột của ong mật có năng lực hóa giải chất độc của loại thuốc trừ sâu thường được sử dụng để diệt ve trong tổ ong mật .Ong chúa là con ong cái duy nhất có quyền đẻ trứng trong đàn o ­ ng, dài và to hơn những o ­ ng đực, ong thợ, cánh ngắn hơn thân, có trách nhiệm đẻ trứng nhưng không làm ra mật, o ­ ng chúa nở từ một cái trứng như những trứng khác, nhưng ấu trùng được nuôi bắng tuyến nước bọt của ong thợ đặc biệt quan trọng rất bổ, chứa trong một ổ riêng chỉ sử dụng cho ong chúa hoặc ong sẵn sàng chuẩn bị tăng trưởng thành ong chúa. Ong chúa sống 3 – 5 năm, mỗi tổ chỉ có một con o ­ ng chúa, nếu trong tổ có nhiều ong sẽ tách thành tổ mới, thường vào mùa xuân .

Ong đực to hơn o­ng thợ, làm nhiệm vụ giao phối với o­ng chúa mỗi khi o­ng chúa bay ra. Ong đực thường xuất hiện vào mùa hè và chỉ sống 1 – 2 tháng, sang mùa thu thì bị đuổi ra khỏi tổ mà chết do bị bỏ đói.

Ong nghệ có tổ chứa xã hội tốt theo cách khá giống với tổ chức triển khai xã hội của Vespidae như ong bắp cày. Ong chúa sẽ tự tạo tổ của mình. Đàn ong nghệ có từ 50 đến 200 con tại thời điểm số thành viên cao nhất thường gặp vào giữa đến cuối hè. Kiến trúc tổ đơn thuần, số lượng giới hạn bởi kích cỡ của khoang tổ, và những đàn hiếm khi sống sót lâu năm .

Ong không ngòi rất phong phú về hành vi, nhưng tổng thể đều cao có tính xã hội tốt. Chúng làm tổ có kiến trúc phức tạp, và những đàn thường sống sót lâu năm .

Mật ong là phức hợp chất được thực hiện khi ong nuốt mật hoa, xử lý chúng và lưu trữ chất vào tầng tổ ong. Tất cả loài sống Apis dùng mật ong thu thập được nhờ loài bản địa để tiêu dùng. A. Mellifera và A. Cerana là những loài chỉ dùng mật ong thu hoạch cho mục đích giao đổi. Mật ong đôi khi cũng được tập hợp nhờ con người từ tổ ong không nọc khác nhau.

Năm 1911, một người nuôi ong ước tính một quart ( khoảng chừng một lít ) mật ong là tác dụng ong đàn ong bay trên khoảng chừng 48.000 dặm để tích lũy mật hoa thiết yếu để sản xuất mật ong. [ 4 ]

Mật hoa, một chất lỏng chứa lượng sucrose cao, được sản xuất trong các tuyến thực vật được gọi là tuyến mật. Đây là nguồn năng lượng quan trọng cho ong mật và đóng một vai trò quan trọng trong hút mật và sự khác biệt tiến hóa giữa các phân loài khác nhau. Nó đã được đề xuất thông qua một thí nghiệm tiến hành với ong mật châu Phi, A. m. Scutellata, nhiệt độ mật hoa ảnh hưởng đến quyết định hút mật của ong mật.[5]

Ong thợ đạt độ tuổi nhất định sẽ hút sáp ong từ một loạt các tuyến trên bụng chúng. Chúng sử dụng sáp để tạo thành các bức tường và chóp tầng tổ ong. Giống như mật ong, sáp ong được con người thu thập vì nhiều mục đích khác nhau.

Ong thu phấn hoa trong giỏ phấn và mang nó trở lại tổ. Trong tổ, phấn hoa được sử dụng làm nguồn cung cấp protein cần thiết trong nuôi ong non. Trong một số môi trường nhất định, hạt phấn dư thừa có thể được lấy từ tổ ong của A. mellifera và A. cerana. Nó thường được ăn như một chất bổ sung sức khoẻ. Tuy nhiên, phấn hoa được ong thu thập và thu hoạch để thụ phấn phải được sử dụng trong vòng vài giờ vì nó mất hiệu lực nhanh chóng, có thể là do ảnh hưởng của enzym hoặc hóa chất khác từ ong

Keo ong, được ong tạo ra từ nhựa, cao thơm và mủ cây. Một số loài sử dụng keo ong để hàn trám vết nứt trong tổ. Ong ruồi đỏ sử dụng keo ong để bảo vệ chống kiến bằng cách phủ những nhánh, từ đó tổ chúng lơ lửng, tạo ra một hào kết dính. Keo ong được con người sử dụng như một chất hỗ trợ sức khỏe thể chất theo nhiều cách khác nhau và cũng được sử dụng trong 1 số ít mỹ phẩm .

O’Toole, Christopher, và Raw, Anthony. (1991). Bees of the World. New York: Facts on File.

Michener, Charles D. (2007). The Bees of the World, second edition. Baltimore: Johns Hopkins.

Kháng Sinh – Wikipedia Tiếng Việt

Staphylococcus aureus với kháng sinh bằng S. aureus, tạo ra vùng ức chế.Thử nghiệm độ nhạy cảm củavới kháng sinh bằng chiêu thức khuếch tán đĩa Kirby-Bauer – kháng sinh khuếch tán từ đĩa chứa kháng sinh và ức chế sự sinh trưởng của, tạo ra vùng ức chế .

với kháng sinh bằng, tạo ra vùng ức chế.Thử nghiệm độ nhạy cảm củavới kháng sinh bằng chiêu thức khuếch tán đĩa Kirby-Bauer – kháng sinh khuếch tán từ đĩa chứa kháng sinh và ức chế sự sinh trưởng của, tạo ra vùng ức chế .

Kháng sinh là một loại chất kháng khuẩn hoạt động chống lại vi khuẩn và là loại chất kháng khuẩn quan trọng nhất dùng trong đối phó nhiễm khuẩn. Các thuốc kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong điều trị và phòng ngừa nhiễm khuẩn.[1][2] Chúng có thể tiêu diệt hoặc cản trở vi khuẩn sinh trưởng. Một số lượng kháng sinh hữu hạn còn có khả năng chống nguyên sinh vật.[3][4] Kháng sinh không có tác dụng chống lại virus gây các bệnh ví dụ như cảm lạnh hay cúm,[5] thuốc ức chế virus được gọi là thuốc chống virus hoặc kháng virus chứ không phải kháng sinh.

Đôi khi, thuật ngữ kháng sinh được sử dụng rộng rãi để nói đến mọi chất dùng để chống vi sinh vật, nhưng trong cách dùng y tế thông thường, kháng sinh (như penicillin) là loại được sản xuất tự nhiên (bởi một vi sinh vật chống vi sinh vật khác), trong khi kháng khuẩn không phải kháng sinh (như sulfonamide và antiseptic) là chất được tổng hợp hoàn toàn. Tuy nhiên, cả hai loại đều có chung mục tiêu là giết hoặc ngăn chặn vi sinh vật sinh trưởng và cả hai đều nằm trong hóa trị liệu kháng khuẩn. Các chất kháng khuẩn bao gồm thuốc sát khuẩn, xà phòng kháng khuẩn, chất tẩy hóa học; trong khi kháng sinh là loại kháng khuẩn quan trọng dùng chuyên biệt hơn trong y khoa[6] và đôi khi trong thức ăn chăn nuôi.

Bạn đang đọc: Kháng sinh – Wikipedia tiếng Việt

Con người đã sử dụng kháng sinh từ thời cổ đại. Nhiều nền văn minh đã vận dụng bánh mì mốc, hiệu ứng có lợi của nó được nhắc đến nhiều từ Ai Cập, Trung Quốc, Serbia, Hy Lạp, La Mã cổ đại. John Parkinson ( 1567 – 1650 ) là người tiên phong ghi chép trực tiếp việc sử dụng mốc để trị nhiễm trùng. Kháng sinh đã cách mạng hóa y học trong thế kỷ 20. Alexander Fleming ( 1881 – 1955 ) tò mò ra penicillin ngày này vào năm 1928 và nó đã chứng tỏ quyền lợi lớn lao với việc được sử dụng thoáng đãng trong thời chiến. Tuy nhiên, tính hiệu suất cao và dễ tiếp cận của kháng sinh cũng dẫn đến hành vi lạm dụng [ 7 ] và 1 số ít vi trùng đã tiến hóa kháng kháng sinh. [ 1 ] [ 8 ] [ 9 ] [ 10 ] Do đó, Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá và nhận định kháng kháng sinh là ” mối rình rập đe dọa nghiêm trọng không chỉ là Dự kiến cho tương lai mà nó đang xảy ra ngay lúc này, ở mọi nơi trên quốc tế và có tiềm năng tác động ảnh hưởng đến bất kể ai, ở bất kể độ tuổi nào, bất kể vương quốc nào “. [ 11 ]

Có nhiều con đường khác nhau để phân phối kháng sinh cho khung hình, trong đó phổ cập nhất là đường miệng ( thuốc uống ). Đối với những trường hợp nặng hơn, đặc biệt quan trọng là nhiễm trùng body toàn thân ăn sâu, kháng sinh hoàn toàn có thể được cấp qua đường tĩnh mạch hoặc tiêm. [ 1 ] [ 13 ] Ở những khu vực nhiễm trùng thuận tiện tiếp cận, kháng sinh hoàn toàn có thể được cấp tại chỗ dưới dạng thuốc nhỏ mắt vào kết mạc để trị viêm kết mạc hoặc thuốc nhỏ tai cho nhiễm trùng tai và những trường hợp viêm tai ngoài cấp tính. Sử dụng tại chỗ cũng là lựa chọn điều trị cho 1 số ít thực trạng da như mụn trứng cá và viêm mô tế bào. [ 17 ] Ưu điểm của cấp kháng sinh tại chỗ là lượng kháng sinh cao và duy trì tại điểm nhiễm trùng, giảm rủi ro tiềm ẩn độc tính và khung hình hấp thu, tổng lượng kháng sinh cần dùng ít hơn qua đó làm giảm rủi ro tiềm ẩn dùng sai cách. [ 18 ] Sử dụng kháng sinh tại chỗ trên những kiểu vết thương phẫu thuật nhất định giúp làm giảm rủi ro đáng tiếc nhiễm trùng tại vị trí phẫu thuật. [ 19 ] Tuy nhiên, có một số ít nguyên do tổng quan dẫn đến quan ngại về cấp phép kháng sinh tại chỗ : hấp thu kháng sinh body toàn thân phần nào hoàn toàn có thể xảy ra, định lượng kháng sinh vận dụng khó mà đúng mực, và năng lực Open phản ứng quá mẫn cục bộ hay viêm da tiếp xúc. [ 18 ] Kháng sinh được khuyến nghị phân phối càng sớm càng tốt, đặc biệt quan trọng trong nhiễm trùng rình rập đe dọa tính mạng con người. Nhiều khoa cấp cứu tích trữ kháng sinh vì mục tiêu này. [ 20 ]

Hành vi tiêu thụ kháng sinh khác nhau nhiều giữa những nước. Theo báo cáo giải trình của WHO công bố năm 2023 sử dụng tài liệu năm năm ngoái từ 65 nước, Mông Cổ có lượng tiêu thụ cao nhất với tỷ suất 64,4 liều một ngày trên mỗi 1.000 dân cư, trong khi thấp nhất là Burundi với 4,4 liều. Amoxicillin và amoxicillin / clavulanic acid là những loại được dùng nhiều nhất. [ 21 ]

Người ta luôn kiểm tra mọi tác động ảnh hưởng xấu đi của kháng sinh trước khi phê duyệt cho sử dụng lâm sàng, khi đó kháng sinh thường được nhìn nhận là bảo đảm an toàn và dung nạp tốt. Tuy nhiên, một số ít kháng sinh liên hệ với khoanh vùng phạm vi rộng những công dụng phụ bất lợi từ nhẹ cho đến rất nặng tùy vào loại kháng sinh sử dụng, vi trùng tiềm năng, và bản thân người bệnh. [ 22 ] [ 23 ] Tác dụng phụ hoàn toàn có thể phản ánh dược tính hoặc độc tính của kháng sinh hoặc tương quan đến phản ứng quá mẫn hay dị ứng. [ 4 ] Tác dụng bất lợi có khoanh vùng phạm vi từ sốt và buồn nôn đến những thực trạng nghiêm trọng hơn như viêm da ánh sáng và phản vệ. [ 24 ] tin tức bảo đảm an toàn của những thuốc mới thường không khá đầy đủ bằng những thuốc đã được sử dụng từ lâu. [ 22 ]

Một số loại kháng sinh còn hoàn toàn có thể làm hại ty thể, một bào quan có nguồn gốc vi trùng thấy ở sinh vật nhân chuẩn, gồm có con người. Tổn thương ty thể gây kích ứng oxy hóa trong tế bào và được yêu cầu là chính sách sinh ra công dụng phụ từ fluoroquinolone. [ 29 ] Chúng còn được biết ảnh hưởng tác động đến lục lạp. [ 30 ]

Tiếp xúc với kháng sinh sớm trong cuộc sống có tương quan đến khối lượng khung hình ngày càng tăng ở người và chuột. [ 31 ] Đầu đời là quy trình tiến độ quan trọng cho sự thiết lập hệ vi sinh đường ruột và sự tăng trưởng trao đổi chất. [ 32 ] Chuột được vận dụng trị liệu kháng sinh liều thấp với penicillin, vancomycin, hoặc chlortetracycline có biến hóa trong năng lượng trao đổi chất cùng thành phần hệ vi sinh ruột. [ 33 ] Một nghiên cứu và điều tra báo cáo giải trình rằng chuột nhận penicillin liều thấp ( 1 μg / g khối lượng khung hình ) gần lúc sinh và suốt quy trình cai sữa thì khối lượng khung hình và khối lượng mỡ ngày càng tăng, lớn nhanh hơn, và ngày càng tăng bộc lộ gen tương quan đến sự tạo mỡ so với chuột đối chứng. [ 34 ] Ngoài ra, penicillin phối hợp với chính sách ăn nhiều chất béo còn làm tăng hàm lượng insulin lúc đói ở chuột. [ 34 ] Tuy nhiên, chưa rõ kháng sinh có gây béo phì ở người hay không. Các điều tra và nghiên cứu đã tìm ra mối đối sánh tương quan giữa tiếp xúc kháng sinh sớm ( dưới 6 tháng ) và khối lượng khung hình ngày càng tăng ( tại 10 và 20 tháng ). [ 35 ] Một điều tra và nghiên cứu khác phát hiện loại kháng sinh tiếp xúc cũng quan trọng với rủi ro đáng tiếc thừa cân cao nhất là những người tiếp nạp macrolide trong phép so sánh với penicillin và cephalosporin. [ 36 ] Vì vậy sống sót mối quan hệ giữa tiếp xúc kháng sinh sớm trong đời và béo phì ở người nhưng đây có là quan hệ nhân quả hay không thì không rõ. Cần có sự xem xét giữa rủi ro đáng tiếc này và công dụng có lợi của điều trị chỉ định lâm sàng bằng kháng sinh ở trẻ nhỏ. [ 32 ]

Có một vài nghiên cứu và điều tra về việc liệu sử dụng kháng sinh có làm tăng rủi ro tiềm ẩn thuốc tránh thai đường miệng mất công dụng. [ 37 ] Đa số trong đó chỉ ra kháng sinh không tác động ảnh hưởng đến thuốc tránh thai, [ 38 ] như những nghiên cứu và điều tra lâm sàng ám chỉ tỷ suất thất bại của thuốc ngừa thai gây bởi kháng sinh là rất thấp ( khoảng chừng 1 % ). [ 39 ] Tình huống mà hoàn toàn có thể làm tăng rủi ro tiềm ẩn thuốc tránh thai đường miệng mất tính năng gồm có không tuân thủ hướng dẫn, nôn mửa, hay tiêu chảy. Những rối loạn đường tiêu hóa hay không ổn định trong hấp thu thuốc tránh thai đường miệng ảnh hưởng tác động đến nồng độ ethinylestradiol trong máu. [ 37 ] Phụ nữ kinh nguyệt không đều hoàn toàn có thể gặp rủi ro đáng tiếc thuốc thất bại cao hơn và cần được khuyên dùng những giải pháp tránh thai dự trữ trong thời hạn điều trị kháng sinh đến hết một tuần sau khi ngưng. Nếu hoài nghi bệnh nhân có những yếu tố rủi ro tiềm ẩn làm giảm hiệu suất cao thuốc tránh thai thì khuyến nghị giải pháp dự trữ. [ 37 ]Trường hợp kháng sinh bị cho tác động ảnh hưởng đến hiệu quả của thuốc tránh thai ( ví dụ rifampicin ), nguyên do hoàn toàn có thể là men gan tăng hoạt tính thôi thúc phá vỡ những thành phần hoạt tính của thuốc. [ 38 ] Tác động đến hệ vi sinh đường ruột mà hoàn toàn có thể dẫn đến giảm hấp thu estrogen trong ruột kết cũng được yêu cầu nhưng chưa đi đến Tóm lại và còn tranh cãi. [ 40 ] [ 41 ] Các bác sĩ lâm sàng khuyến nghị vận dụng những giải pháp tránh thai bổ trợ nếu có sử dụng kháng sinh bị hoài nghi tương tác với thuốc tránh thai đường miệng. [ 38 ] Cần thêm những nghiên cứu và điều tra về tương tác giữa kháng sinh và thuốc tránh thai đường miệng cũng như nhìn nhận kỹ lưỡng yếu tố rủi ro tiềm ẩn riêng của bệnh nhân mà tiềm năng khiến thuốc mất tính năng trước khi bác bỏ sự thiết yếu của tránh thai dự trữ. [ 37 ]

Trị liệu kháng sinh thành công đến đâu nhờ vào vào 1 số ít yếu tố, như chính sách phòng vệ của vật chủ, vị trí nhiễm trùng, những thuộc tính dược động và dược lực của kháng sinh. [ 48 ] Hoạt tính diệt khuẩn của kháng sinh hoàn toàn có thể nhờ vào vào pha sinh trưởng của vi trùng và thường yên cầu tế bào vi trùng đang trong quy trình phân loại và chuyển hóa. [ 49 ] Những phát hiện này dựa trên cả điều tra và nghiên cứu phòng thí nghiệm lẫn điều trị thực tiễn. [ 48 ] [ 50 ] Vì nồng độ tiếp tục ảnh hưởng tác động đến hoạt tính của kháng sinh [ 51 ] nên việc miêu tả đặc thù trong ống nghiệm thường gồm có xác lập nồng độ ức chế tối thiểu và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu của kháng sinh. [ 48 ] [ 52 ] Hoạt tính kháng khuẩn và những thông số kỹ thuật dược lý, dược động của kháng sinh là những yếu tố giúp Dự kiến hiệu quả lâm sàng. [ 53 ]

Đối với những bệnh truyền nhiễm quan trọng như lao, liệu pháp kết hợp (sử dụng cùng lúc hai loại kháng sinh trở lên) được áp dụng để làm trì hoãn hoặc ngăn chặn tình trạng kháng kháng sinh. Trong nhiễm trùng cấp tính, các kháng sinh nằm trong liệu pháp kết hợp được kê nhờ tác dụng hiệp lực nhằm cải thiện kết quả điều trị do nhiều kháng sinh kết hợp cho hiệu quả cao hơn là chỉ dùng một loại.[54][55] Nhiễm Staphylococcus aureus kháng methicillin có thể được chữa bằng liệu pháp kết hợp fusidic acid với rifampicin.[54] Tuy nhiên các kháng sinh còn có thể đối kháng nhau, dùng chung hai loại như thế không hiệu quả bằng một.[54] Ví dụ, chloramphenicol và tetracyclines không phù hợp đi cùng penicillin. Dẫu vậy điều này còn thay đổi tùy vào loài vi khuẩn.[56] Nhìn chung không nên kết hợp kháng sinh kìm khuẩn với kháng sinh diệt khuẩn.[54][55]

Kháng sinh thường được phân loại dựa vào chính sách hoạt động giải trí, cấu trúc hóa học, hay phổ hoạt động giải trí. Đa số kháng sinh nhắm đến tính năng hoặc quy trình sinh trưởng của vi trùng. [ 58 ] Các loại mà nhắm đến thành tế bào ( penicillin và cephalosporin ) hay màng tế bào vi trùng ( polymyxin ), hay cản trở enzyme vi trùng thiết yếu ( rifamycin, lipiarmycin, quinolone, và sulfonamide ) có tính diệt khuẩn. Chất ức chế tổng hợp protein ( macrolide, lincosamide, và tetracycline ) thì thường có tính kìm khuẩn ( ngoại trừ aminoglycoside là diệt khuẩn ). [ 59 ] Cách phân loại khác dựa vào đặc tính của tiềm năng. Kháng sinh ” phổ hẹp ” nhắm đến những loại vi trùng đơn cử như là gram âm hay gram dương, trong khi kháng sinh phổ rộng tác động ảnh hưởng một khoanh vùng phạm vi rộng hơn. Sau 40 năm con người không tìm ra nhóm hợp chất kháng khuẩn mới thì đến cuối thập niên 2000 đầu thập niên 2010 đã có thêm bốn nhóm được đưa vào sử dụng lâm sàng : lipopeptide mạch vòng ( như là daptomycin ), glycylcycline ( như là tigecycline ), oxazolidinone ( như là linezolid ), và lipiarmycin ( như là fidaxomicin ). [ 60 ] [ 61 ]

Vi khuẩn trở nên đề kháng lại kháng sinh là hiện tượng kỳ lạ phổ cập. Hiện tượng này thường phản ánh quy trình tiến hóa diễn ra trong thời hạn trị liệu bằng kháng sinh. Chữa trị bằng kháng sinh hoàn toàn có thể tinh lọc ra những chủng vi trùng có năng lượng sinh lý hay di truyền ưu trội để sống sót qua những liều kháng sinh cao. Dưới những điều kiện kèm theo nhất định, việc làm này hoàn toàn có thể dẫn đến hiệu quả vi trùng đề kháng ưu tiên sinh trưởng, trong khi vi trùng nhạy cảm bị ức chế bởi thuốc. [ 62 ] Kháng sinh như penicillin và erythromycin từng có hiệu suất cao cao chống nhiều loài và chủng vi trùng nay đã trở nên kém hiệu suất cao hơn do sức đề kháng ngày càng tăng của nhiều chủng vi trùng .Sự đề kháng hoàn toàn có thể mang hình thức làm giảm phẩm chất dược phẩm, như vi trùng đất làm giảm giá trị sulfamethazine tiếp xúc với sulfamethazine qua phân lợn chứa thuốc. [ 63 ] Vi khuẩn có được tính đề kháng thường nhờ thừa kế [ 64 ] tuy nhiên còn một cách khác là chuyển gen ngang. Chuyển gen ngang dễ xảy ra hơn ở những vị trí sử dụng kháng sinh liên tục. [ 65 ]Kháng kháng sinh hoàn toàn có thể áp đặt ngân sách sinh học, do đó làm giảm tính thích ứng của những chủng kháng, điều giúp hạn chế sự lây lan của vi trùng kháng kháng sinh ( ví dụ như khi không có những chất kháng khuẩn ). Tuy nhiên những đột biến bổ trợ hoàn toàn có thể bù đắp cho ngân sách này và tương hỗ vi trùng sống sót. [ 66 ]Dữ liệu cổ sinh vật cho thấy cả kháng sinh lẫn kháng kháng sinh đều là những hợp chất và chính sách cổ xưa. [ 67 ]Tồn tại một số ít chính sách phân tử của kháng kháng khuẩn. Kháng kháng khuẩn về thực chất hoàn toàn có thể là một phần cấu trúc gen của chủng vi trùng. [ 68 ] [ 69 ] Ví dụ, một tiềm năng kháng sinh hoàn toàn có thể biến mất khỏi bộ gen vi trùng. Sự đề kháng thu được là tác dụng từ một đột biến trong nhiễm sắc thể vi trùng hay việc kiếm được DNA ngoài nhiễm sắc thể. [ 68 ] Vi khuẩn sinh tính kháng đã tăng trưởng những chính sách đề kháng mà tỏ ra tương tự như hay hoàn toàn có thể được truyền cho những chủng kháng. [ 70 ] [ 71 ] Sự Viral tính kháng thường xảy ra trải qua truyền đột biến dọc trong quy trình sinh trưởng và bởi tái tổng hợp di truyền DNA bằng hoán đổi gen ngang. [ 64 ] Chẳng hạn gen kháng kháng khuẩn hoàn toàn có thể được hoán đổi giữa những loài hay những chủng vi trùng khác nhau qua plasmid, thứ mang những gen đề kháng này. [ 64 ] [ 72 ] Plasmid mang một vài gen đề kháng khác nhau hoàn toàn có thể trao sức đề kháng chống nhiều chất kháng khuẩn. [ 72 ] Sự đề kháng chéo trước 1 số ít chất kháng khuẩn còn hoàn toàn có thể xảy ra khi một chính sách đề kháng do một gen đơn mã hóa truyền tính kháng nhiều hơn một hợp chất kháng khuẩn. [ 72 ]

Các chủng và loài kháng kháng khuẩn, đôi khi được gọi là siêu khuẩn, giờ góp phần vào sự trở lại của những căn bệnh mà từng có thời gian con người kiểm soát tốt. Ví dụ, sự xuất hiện của chủng vi khuẩn gây bệnh lao kháng những phép điều trị kháng sinh hiệu quả trước kia đã đặt ra những thách thức về liệu pháp. Mỗi năm ước tính có gần nửa triệu ca lao kháng đa thuốc mới xảy ra trên toàn thế giới.[73] NDM-1 là một enzyme mới được biết đã trao sức đề kháng một phạm vi rộng kháng sinh beta-lactam cho vi khuẩn.[74] Cục Bảo vệ Sức khỏe Vương quốc Anh phát biểu rằng “đa số vi khuẩn phân lập có enzyme NDM-1 kháng mọi kháng sinh truyền tĩnh mạch tiêu chuẩn cho điều trị nhiễm trùng nặng”.[75] Vào ngày 26 tháng 5 năm 2024 một siêu khuẩn E. coli được phát hiện ở Hoa Kỳ có khả năng kháng colistin, kháng sinh “hàng phòng vệ cuối cùng”.[76][77]

Áp phích từ chiến dịch ” Get Smart ” của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ dự tính đặt trong phòng thao tác của những bác sĩ và cơ sở chăm nom sức khỏe thể chất khác, cảnh báo nhắc nhở rằng kháng sinh không có công dụng so với những bệnh do virus như cảm lạnh .

Theo The ICU Book “nguyên tắc đầu tiên về kháng sinh là cố gắng không sử dụng chúng, và nguyên tắc thứ hai là cố gắng không sử dụng chúng quá nhiều”.[78] Chữa trị bằng kháng sinh không phù hợp và lạm dụng kháng sinh đã góp phần làm xuất hiện vi khuẩn kháng kháng sinh. Tự ý sử dụng kháng sinh là một ví dụ về dùng không đúng cách.[79] Nhiều kháng sinh thường xuyên được kê để điều trị những triệu chứng hay bệnh mà không đáp ứng với kháng sinh hay có xu hướng tự khỏi mà không cần chữa trị. Kháng sinh không chính xác hay không tối ưu cũng được kê cho những dạng nhiễm trùng nhất định.[22][79] Lạm dụng kháng sinh như penicillin và erythromycin liên hệ với sự nổi lên của kháng kháng sinh kể từ thập niên 1950.[80] Sử dụng kháng sinh rộng rãi trong bệnh viện cũng liên hệ với sự gia tăng các loài và chủng vi khuẩn mà đã không còn phản ứng với điều trị bằng những loại kháng sinh phổ biến nhất.[80]

Hình thức dùng sai kháng sinh thông dụng gồm có người du hành sử dụng thừa thãi để phòng bệnh, chuyên viên y tế không kê được liều lượng đúng mực trên cơ sở khối lượng khung hình và tiền sử sử dụng của bệnh nhân, và bệnh nhân không hoàn thành xong đơn thuốc mà bác sĩ đề xuất. Một nghiên cứu và điều tra về nhiễm khuẩn đường hô hấp phát hiện ” những bác sĩ có thiên hướng kê kháng sinh cho những bệnh nhân tỏ ra mong ước chúng “. [ 81 ] Những can thiệp nhiều yếu tố nhắm đến cả bác sĩ lẫn bệnh nhân hoàn toàn có thể làm giảm hành vi kê đơn thuốc kháng sinh không tương thích. [ 82 ] [ 83 ] Việc thiếu điểm xét nghiệm chẩn đoán chăm nom nhanh, đặc biệt quan trọng trong những thực trạng hạn chế nguồn lực, được xem là một trong những yếu tố dẫn lái hành vi dùng sai kháng sinh. [ 84 ]

Một số tổ chức lo ngại kháng kháng sinh đã vận động để xóa bỏ việc sử dụng kháng sinh không cần thiết.[79] Vấn đề ngộ dụng và lạm dụng kháng sinh đã được chú tâm với sự thành lập của Tổ công tác Liên ngành về Kháng kháng khuẩn Hoa Kỳ. Đội ngũ này hướng đến mục tiêu tích cực hành động đối phó kháng kháng sinh và được sự phối hợp của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm, Viện Y tế Quốc gia, cùng những cơ quan khác của Hoa Kỳ.[85] Tồn tại một nhóm chiến dịch tổ chức phi chính phủ là Keep Antibiotics Working (Giữ cho Kháng sinh còn Tác dụng).[86] Ở Pháp, một chiến dịch của chính phủ được phát động năm 2002 đã dẫn đến sự sụt giảm rõ rệt hành vi kê đơn kháng sinh không cần thiết, nhất là ở trẻ em.[87]

Trước hồi đầu thế kỷ 20, chữa trị nhiễm trùng đa phần dựa vào y học dân gian. Con người đã diễn đạt những hỗn hợp có thuộc tính kháng khuẩn được sử dụng trong điều trị nhiễm trùng từ hơn 2000 năm trước. [ 67 ] [ 94 ] Nhiều nền văn hóa truyền thống thời xưa như Ai Cập cổ đại và Hy Lạp cổ đại sử dụng những vật tư thực vật và mốc được lựa chọn đặc biệt quan trọng để trị nhiễm trùng. [ 95 ] [ 96 ] Công tác điều tra và nghiên cứu xác ướp người Nubia trong thập niên 1990 đã phát hiện hàm lượng tetracycline đáng kể. Theo phỏng đoán thì tetracycline đến từ loại bia được pha chế vào thời gian đó. [ 97 ]Việc sử dụng kháng sinh trong y học văn minh khởi đầu với sự mày mò kháng sinh tổng hợp có nguồn gốc từ thuốc nhuộm. [ 58 ] [ 98 ] [ 99 ] [ 100 ] [ 101 ]

Paul Ehrlich và Sahachiro HataSự kiện này đã báo trước kỷ nguyên chữa trị bằng chất kháng khuẩn khởi đầu với việc Alfred Bertheim và Ehrlich mày mò một loạt kháng sinh tổng hợp nguồn gốc arsenic vào năm 1907. [ 100 ] [ 101 ] Ehrlich và Bertheim đã thử nghiệm những hóa chất khác nhau có nguồn gốc thuốc nhuộm để trị trypanosomiasis ở chuột và nhiễm spirochaeta ở thỏ nhưng những hợp chất khởi đầu của họ quá độc. Trong khi đó Ehrlich và Sahachiro Hata, một nhà vi trùng học người Nhật Bản thao tác với Erlich để tìm thuốc chữa giang mai, đã thành công xuất sắc với hợp chất thứ 606 trong chuỗi thí nghiệm họ triển khai. Vào năm 1910 Ehrlich và Hata công bố mày mò ra thứ mà họ gọi là thuốc 606 tại Hội nghị Y học Quốc tế ở Wiesbaden. [ 102 ] Công ty Hoechst mở màn đưa ra thị trường hợp chất dưới tên salvarsan, nay có tên arsphenamine, vào năm 1910. [ 102 ] Thuốc này được dùng để chữa giang mai trong nửa đầu thế kỷ 20. Vào năm 1908, Ehrlich nhận Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học vì những góp phần cho miễn dịch học. [ 103 ] Hata được đề cử Giải Nobel Hóa học năm 1911 và Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 1912 và 1913. [ 104 ]Vào năm 1932 hay 1933, một nhóm điều tra và nghiên cứu do Gerhard Domagk đứng vị trí số 1 đã tăng trưởng thuốc kháng khuẩn hoạt động giải trí trong khung hình tiên phong và sulfonamide tiên phong tại những phòng thí nghiệm của IG Farben ở Đức, [ 99 ] [ 101 ] [ 105 ] điều giúp Domagk đoạt giải Nobel Y Sinh 1939. [ 106 ] Sulfanilamide, thuốc prontosil hoạt tính, không hề được cấp văn bằng bản quyền trí tuệ vì vốn đã được sử dụng trong ngành công nghiệp thuốc nhuộm vài năm. [ 105 ] Prontosil có hiệu suất cao tương đối rộng chống cầu khuẩn gram dương nhưng không chống được họ vi trùng đường ruột. Thành công này đã mau chóng kích thích nghiên cứu và điều tra. Công cuộc tò mò và tăng trưởng chất sulfonamide này đã mở ra kỷ nguyên của chất kháng khuẩn. [ 107 ] [ 108 ]

Penicillin được Alexander Fleming tò mò năm 1928Kể từ cuối thế kỷ 19, con người đã tường thuật những quan sát về việc 1 số ít vi sinh vật sinh sôi làm ngưng trệ sự sinh sôi của những vi sinh vật khác. Những quan sát về tính đối kháng giữa vi sinh vật đã dẫn đến việc tò mò chất kháng khuẩn tự nhiên. Louis Pasteur nhận xét : ” nếu tất cả chúng ta hoàn toàn có thể can thiệp vào sự đối địch đã thấy giữa 1 số ít vi trùng thì điều đó có lẽ rằng mang đến kỳ vọng lớn nhất cho trị liệu “. [ 109 ]

Vào năm 1874 bác sĩ William Roberts nhận thấy những mẻ cấy Penicillium glaucum được dùng trong chế tạo một số loại phô mai xanh không biểu hiện nhiễm vi khuẩn.[110] Hai năm sau nhà vật lý John Tyndall cũng có đóng góp cho lĩnh vực này.[111] Louis Pasteur đã tiến hành nghiên cứu chỉ ra Bacillus anthracis không sinh trưởng nếu có sự hiện diện của Penicillium notatum.

Vào năm 1895 bác sĩ người Ý Vincenzo Tiberio công bố một tài liệu về năng lượng kháng khuẩn của 1 số ít chiết xuất mốc. [ 112 ]

Vào năm 1897 nghiên cứu sinh Ernest Duchesne đệ trình một luận án có tựa “Đóng góp cho nghiên cứu về cạnh tranh sống còn ở vi sinh vật: sự đối kháng giữa mốc và vi khuẩn”,[113] tác phẩm học thuật đầu tiên bàn đến năng lực trị liệu của mốc bắt nguồn từ hoạt tính kháng khuẩn của chúng. Trong luận án này, Duchesne đề xuất rằng vi khuẩn và mốc tham gia vào một trận chiến vĩnh hằng vì sự tồn vong. Ông quan sát thấy khuẩn E. coli bị Penicillium glaucum tiêu diệt khi cả hai sinh sôi trong cùng mẻ cấy. Chưa dừng lại ở đó, ông còn quan sát được rằng với những động vật thí nghiệm bị tiêm những liều trực khuẩn thương hàn (liều lượng đủ gây tử vong) cùng với Penicillium glaucum thì sẽ không bị nhiễm thương hàn. Không may sau khi giành học vị, Duchesne đi nghĩa vụ quân sự nên không thể thực hiện thêm nghiên cứu nào.[114] Ông qua đời sau đó vì lao, một căn bệnh mà hiện có thể chữa được bằng kháng sinh.[114]

Alexander Fleming được trao giải Nobel vì vai trò trong tiến trình mày mò ra penicillin

Vào năm 1928, Alexander Fleming công nhận sự tồn tại của penicillin, một phân tử do những loại mốc nhất định sản sinh có khả năng giết chết hoặc ngăn chặn sự sinh trưởng của những loại vi khuẩn nhất định. Trong khi làm việc với một mẻ cấy vi khuẩn gây bệnh, Fleming để ý thấy bào tử một loại mốc xanh là Penicillium chrysogenum ở một tấm cấy. Ông quan sát thấy sự hiện diện của mốc đã tiêu diệt hoặc ngăn vi khuẩn sinh sôi.[115] Fleming cho rằng mốc này phải tiết ra một chất kháng khuẩn mà ông đặt tên là penicillin vào năm 1928. Fleming tin con người có thể khai thác thuộc tính kháng khuẩn này cho hóa trị liệu. Ban đầu Fleming mô tả một số thuộc tính sinh học của nó rồi nỗ lực sử dụng một chế phẩm thô để điều trị một số dạng nhiễm trùng, tuy nhiên ông không thể tiến xa hơn nếu không có sự trợ giúp của những chuyên gia hóa học.[116][117]

Ernst Chain, Howard Florey và Edward Abraham đã tinh chế thành công penicillin G, penicillin đầu tiên vào năm 1942 nhưng nó chưa được phổ biến rộng rãi bên ngoài quân đội Đồng minh trước năm 1945. Sau này, Norman Heatley đã phát triển công nghệ chiết xuất ngược giúp tinh chế hiệu quả lượng lớn penicillin. Cấu trúc hóa học của penicillin được Abraham đề xuất lần đầu vào năm 1942[118] và được Dorothy Crowfoot Hodgkin xác minh năm 1945. Penicillin tinh chế thể hiện hoạt tính kháng khuẩn hiệu nghiệm chống một phạm vi rộng vi khuẩn và có độc tính thấp ở người. Hơn nữa, không như sulfonamide tổng hợp, hoạt tính của penicillin không bị hạn chế bởi những thành phần sinh học như mủ. Sự phát triển của penicillin đã làm vực lại mối quan tâm đến nghiên cứu những hợp chất kháng sinh có độ hiệu quả và an toàn tương tự.[119] Chain và Florey đã phát triển thành công penicillin làm thuốc điều trị, điều mà Fleming, người vô tình khám phá ra penicillin, không thể làm. Cả ba đã cùng nhau chia sẻ giải Nobel Y học năm 1945.[120]

Florey tín nhiệm Rene Dubos tiên phong tìm kiếm một cách thận trọng và có hệ thống các hợp chất kháng khuẩn mới, điều dẫn đến việc khám phá gramicidin và khôi phục nghiên cứu của Florey về penicillin.[121] Vào năm 1939, trùng thời điểm Chiến tranh thế giới thứ Hai bắt đầu, Dubos báo cáo phát hiện kháng sinh có nguồn gốc tự nhiên đầu tiên là tyrothricin, một hợp chất có 20% gramicidin và 80% tyrocidine từ Bacillus brevis. Đây là một trong những kháng sinh được sản xuất thương mại đầu tiên và rất hiệu quả trong điều trị vết thương và lở loét trong Chiến tranh thế giới thứ Hai.[121] Tuy nhiên gramicidin không thể sử dụng toàn thân vì độc tính. Tyrocidine cũng tỏ ra quá độc cho sử dụng toàn thân. Các kết quả nghiên cứu thu được không được hai phe Trục và Đồng minh chia sẻ trong Thế chiến II và bị hạn chế tiếp cận trong Chiến tranh Lạnh.[122]

Vào giữa thế kỷ 20 số lượng chất kháng sinh mới được đưa vào sử dụng trong y tế ngày càng tăng đáng kể. Có 12 nhóm kháng sinh mới được đưa vào từ năm 1935 đến 1968. Tuy nhiên, sau đó số nhóm mới sụt giảm rõ ràng khi mà trong khoảng chừng 1969 đến 2003 chỉ có thêm hai nhóm. [ 123 ]

Thuốc biệt dược & cách sử dụng, Nhà xuất bản Y Học 2004, DS.Phạm Thiệp – DS. Vũ Ngọc Thuý

Nét Thơ Trong Làng Du Lịch Việt Nam

Trong cuộc sống hàng ngày, chợ là điểm đến không thể thiếu đối với chị em phụ nữ nói riêng và người dân Việt Nam nói chung. Từ ngày xưa, chợ đã được hình thành ở khắp mọi miền đất nước, với nhiều hình thức họp chợ khác nhau. Ngày nay, các trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi xuất hiện khá nhiều, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người dân; tuy nhiên, chợ vẫn là nơi rất quan trọng, cung cấp thực phẩm cho hầu hết mọi gia đình ở Việt Nam. Bên cạnh những vật chất cần thiết cho cuộc sống, chợ còn đem đến những giá trị tinh thần cho đất Việt – mang sắc thái văn hóa đầy sống động của đất nước.

Chợ, nét thơ trong làng du lịch Việt Nam – Ảnh: Kyo

Mời bạn xem:

Chợ – Nét Thơ Trong Làng Du Lịch Việt Nam – Phần 1

Chợ – Nét Thơ Trong Làng Du Lịch Việt Nam – Phần 2

Chợ – Nét Thơ Trong Làng Du Lịch Việt Nam – Phần 3

7. CHỢ PHIÊN BẮC HÀ – LÀO CAI

Tấp nập chợ Phiên Bắc Hà – Lào Cai – Ảnh: Sưu tầm

Chợ phiên Bắc Hà thuộc huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thành phố Lào Cai khoảng 76km. Các phiên họp chợ ở vùng núi Việt Nam diễn ra không đều đặn, tuy nhiên tỉnh Lào Cai ngày nào cũng có chợ phiên diễn ra ở những huyện khác nhau, trong đó chợ phiên Bắc Hà là phiên chợ lớn nhất của tỉnh Lào Cai.

Chợ phiên luôn thu hút các du khách quốc tế – : Sưu tầm

Quanh năm, bất kể mưa nắng, gió bão, hay giá lạnh, mọi người đều háo hức chuẩn bị họp chợ phiên từ tờ mờ sáng đến chiều vãn vào chủ nhật mỗi tuần. Trước đây, chợ họp trên một ngọn đồi thoai thoải nằm giữa thị trấn, ngày nay để thuận tiện cho việc mua bán và phục vụ du lịch, chợ đã được xây mới trên nền chợ cũ.

Chợ Phiên vùng núi Việt Nam – Ảnh: Tui Tí

Chợ phiên Việt Nam là nơi giao lưu, trao đổi hàng hóa địa phương với các huyện, tỉnh lân cận và cũng là nơi giao lưu tìm hiểu văn hóa của các dân tộc Hmông, Dao, Tày, Nùng… Chợ được chia thành những khu chợ nhỏ: chợ ẩm thực, chợ thổ cẩm, chợ gia cầm, chợ thực phẩm và chợ ngựa, chợ trâu, chợ “khuyển”…

Trẻ em vui mừng khi được đi “chơi chợ”  – Ảnh: Billy Julie

Đây là nơi lý tưởng để khám phá vẻ nguyên sơ, đậm nét dân tộc ở vùng núi cao Tây Bắc, Việt Nam. Chẳng đi chợ mua bán như người miền xuôi, đồng bào ở đây đều rất thích thú đi “chơi chợ” mỗi cuối tuần. Hơn hết, chợ phiên Bắc Hà được Tạp chí du lịch Serendib của Srilanka xếp vào 1 trong 10 chợ phiên nổi tiếng nhất Đông Nam Á.

Gian hàng thổ cẩm rực rỡ sắc màu – Ảnh: Sưu tầm

Món Thắng cố bạn nhất định phải thưởng thức khi có dịp ghé chợ phiên -Ảnh: Sưu tầm

Các phiên chợ vùng cao Tây Bắc luôn thu hút du khách nước ngoài đến Việt Nam tham quan, trải nghiệm và cùng hòa vào bầu không khí nhộn nhịp, tưng bừng như trẩy hội. Qua bao năm tháng, chợ phiên Việt Nam có những đổi thay theo hướng tích cực hơn để người dân có cuộc sống ổn định, tốt đẹp; nhưng những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống ở mỗi phiên chợ vẫn được giữ gìn và phát huy.

8. CHỢ TÌNH KHAU VAI – HÀ GIANG

Từ đâu văng vẳng tiếng hát:

Chàng ơi xuống núi cùng em

Nhớ mang theo ngựa và đi một mình

Em đây tuy chẳng còn xinh

Có ô che nắng chợ Tình phong lưu.

Cứ đến 27/3 âm lịch hàng năm, mọi người cùng tụ họp tại chợ Tình Khau Vai -Ảnh: ksdlethanh

Chợ Tình Khau Vai (hay chợ phong lưu) họp trên một quả đồi tại thôn Khau Vai, xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Chợ họp mỗi năm chỉ duy nhất một lần vào ngày 27/3 âm lịch.

Chợ tình Khau Vai là chợ của những mối tình dang dở, nhưng những năm gần đây, chợ tình không chỉ là nơi để những mối tình buồn có dịp được vui mà còn là nơi để nam thanh nữ tú các bản vui xuân, tìm hiểu nhau.

Đến với chợ tình Khau Vai, du khách sẽ được dự 2 phần chính của chợ gồm:

*Phần lễ hội:

Những đồng bào có mặt ở chợ sẽ dâng lễ lên miếu ông, miếu bà, thể hiện tấm lòng biết ơn đối với những thế hệ cha ông đã khai thác vùng đất này.

Mọi người tưng bừng nhảy múa – Ảnh: Sưu tầm

Sau đó, mọi người sẽ dự hội với các hoạt động nghệ thuật, thể thao truyền thống như: nhảy múa, thổi khèn…được các nam nữ các bản cùng nhau thể hiện.

*Phần tâm tình:

Đến phần kế tiếp, theo quy ước muôn đời, người vợ người chồng sẽ đi một ngả khác nhau, để tìm người bạn tình thuở trước “có duyên không nợ”. Từng cặp đôi sẽ rủ nhau lên đồi để tâm tình cho thỏa nỗi nhớ mong: có nước mắt, có nụ cười, có những niềm hạnh phúc nhỏ; rồi lại bịn rịn chia tay chờ đến phiên chợ năm sau. Đó là những tình cảm trong sáng, chẳng chút hờn ghen hay trách móc.

Mỗi năm đến chợ tình Khau Vai họ đều gặp nhau – Ảnh: Ma Tuyen

Mọi người uống rượu trước khi chia tay chợ Tình – Ảnh: Ma Tuyen

Chợ phong lưu hình thành từ một câu chuyện tình buồn huyền thoại của chàng Ba người Nùng và cô Út dân tộc Giáy. Dù không đến được với nhau, nhưng những giá trị tình cảm đôi lứa của họ vẫn vẹn nguyên, là biểu tượng bất tử của tình yêu. Họ đã vượt qua bao cản trở để đến với nhau và cũng đã hy sinh hạnh phúc riêng để bảo vệ gia đình.

Chợ tình Khau Vai – nơi tình yêu bất tử – Ảnh: Sưu tầm

Theo vòng quay của thời gian, phiên chợ tình ngày nào vẫn là một nét đẹp văn hóa độc đáo, giàu giá trị nhân văn ở Việt Nam. Ở nơi địa đầu của Tổ quốc vẫn luôn có một phiên chợ tình xứng đáng để mọi người đến để khám phá những giá trị truyền thống tốt đẹp.

Chợ ở Việt Nam có rất nhiều và cũng rất nhiều loại chợ khác nhau. Mỗi hình thức chợ đáp ứng những nhu cầu khác nhau, nhưng tất cả đều chứa đựng những giá trị văn hóa truyền thống mà bao thế hệ đã giữ gìn, phát huy theo thời gian. Cuộc sống ngày càng hiện đại nhưng chợ đã trở thành một nét văn hóa của đất nước – nét thơ trong làng du lịch Việt. Người dân Việt Nam hôm nay và mai sau sẽ luôn giữ gìn nét dung dị, hồn hậu, dân dã, cả sự ồn ào náo nhiệt, sôi nổi của những chợ Việt truyền thống.

Nội dung bài viết thuộc bản quyền của Mytour (Không bao gồm hình ảnh). Mọi sao chép cần ghi rõ nguồn, tên tác giả, nhiếp ảnh gia cùng với liên kết về nội dung tương ứng tại Mytour..

Đăng bởi: Hạnh Vương

Từ khoá: Chợ – Nét Thơ Trong Làng Du Lịch Việt Nam – Phần 4

‘Học Tủ’ Là Gì?, Tiếng Việt

1. Việt Nam: Tủ sách Khoa học Nhân văn. Bergerud, Eric M. (2000).

Notes Bibliography Bergerud, Eric M. (2000).

2. Bố, con vừa làm vỡ tủ đựng cúp và bị đình chỉ học rồi.

Dad, I broke a trophy case and got suspended.

3. cái tủ

a closet

4. Nhưng khi em đang mở cửa tủ thì Ethan nghe tiếng em gái mình đi học về .

But as he was unlocking the cabinet , he heard his kid sister arriving home from school .

5. • Các chất hóa học dùng trong nhà: Cất ngoài tầm tay của trẻ nhỏ trong tủ có khóa.

• Household chemicals: Store them out of the child’s reach in a lockable cupboard.

6. (118) Trẻ em thấy hình của Chúa Giê Su trong một cái tủ đựng đồ ở trường học.

(118) Child sees a picture of Jesus in a school locker.

7. Vậy câu hỏi là nó có thể thật sự tìm cần sa trong tủ đồ học sinh không?

So the question was, can it actually find marijuana in students’lockers?

8. Tủ tiền cạn rồi.

The cash register is getting rusty.

9. Nhưng tủ sách bán chạy.

But big selling bookcase.

10. Trong cái hộc tủ đó.

In that drawer.

11. Dán chúng lên tủ lạnh.

Tape a set to your refrigerator.

12. Khi đã biết đôi chút về Nhiệt động lực học qua con vịt, bạn sẽ hiểu cơ chế tủ lạnh.

Once you’ve got a bit of thermodynamics with the duck, you can also explain fridges.

13. Có kem trong tủ lạnh đấy.

There’s some ice cream in the fridge.

14. Cũng như khi bạn đi dò cần sa trong tủ đồ của học sinh, nó sẽ chỉ ngay vào ai đó.

Like if you’re looking for marijuana in students’ lockers, it’ll point right to somebody.

15. Có tủ mái vòm ở đây.

There was an arch right here.

16. Ba, kiểm tra tủ bên trái.

Three, clear the closet on the left.

17. Chị ấy đứng kia chỗ dãy tủ.

Well, she was over there by the lockers.

18. Em tránh cái hộc tủ đó ra.

Get away from that drawer.

19. Cáp kết nối nằm ở tủ dưới.

The access cable’s in the base.

20. Nó được giấu trong tủ của cậu.

It was hidden in your closet.

21. Giống như vậy, khi bắt đầu một buổi học hỏi chúng ta nên lựa chọn trong tủ sách cá nhân những dụng cụ học hỏi cần thiết sẽ dùng.

Similarly, when we begin a study period, we should select in our personal library the study tools we will need.

22. Tè vào trong tủ áo – không tốt.

Urinating in wardrobes – bad. Hmm.

23. Có loại ngũ cốc nào trong tủ?

What type of cereal’s in the cabinet?

24. Ai để rau diếp trong tủ lạnh?

Who keeps lettuces in their fridge?

25. Còn chai bia nào trong tủ lạnh không?

Are there more beers in the fridge?

Cập nhật thông tin chi tiết về Thơ – Wikipedia Tiếng Việt trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!