Xu Hướng 2/2024 # Văn Mẫu Lớp 10: Phân Tích 16 Câu Đầu Bài Thơ Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ Dàn Ý + 8 Mẫu Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 16 Câu Đầu # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Văn Mẫu Lớp 10: Phân Tích 16 Câu Đầu Bài Thơ Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ Dàn Ý + 8 Mẫu Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 16 Câu Đầu được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Dàn ý Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu

1. Mở bài 

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích

Đặng Trần Côn (không rõ năm sinh năm mất) quê ở làng Nhân Mục, Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, sống vào thời Lê Trung Hưng.

Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là tác phẩm viết bằng chữ Hán gây tiếng vang lớn trong giới nho sĩ đương thời với nhiều bản dịch và phỏng dịch Nôm khác nhau (Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khản, Phan Huy Ích, Bạch Liên Am Nguyễn). Bản hiện hành là bản dịch thành công nhất.

Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (từ câu 193 đến 216) miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

– Giới thiệu khái quát 16 câu thơ đầu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

a. Hành động lặp đi lặp lại một cách nhàm chán, vô vị

– “Thầm reo từng bước”: Bước chân lặng lẽ dạo trên hiên vắng.

– “Rủ thác đòi phen”: Vào trong phòng cuốn rèm, buông rèm

→ Hành động lặp lại đi lặp lại một cách vô thức, thể hiện sự bần thần, bất định của người chinh phụ

– Chữ “vắng, thưa”: Không chỉ gợi sự vắng lặng của không gian mà còn cho thấy nỗi trống vắng trong lòng người người chinh phụ

b. Thao thức ngóng trông tin chồng

– Ban ngày:

Người chinh phụ gửi niềm hi vọng vào tiếng chim thước – loài chim khách báo tin lành.

Nhưng thực tế “thước chẳng mách tin”: Tin tức chồng vẫn bặt vô âm tín.

– Ban đêm:

Người chinh phụ thao thức cùng ngọn đèn hi vọng đèn biết tin tức về chồng, san sẻ nỗi lòng cùng nàng.

Thực tế: “Đèn chẳng biết” “lòng thiếp riêng bi thiết” Câu thơ có hình thức đặc biệt khẳng định rồi lại phủ định, ngọn đèn có biết cũng như không vì nó chỉ là vật vô tri không thể san sẻ nỗi lòng cùng người chinh phụ.

So sánh với bài ca dao “khăn thương nhớ ai”, bài ca dao cũng có xuất hiện hình ảnh ngọn đèn. Nếu “đèn” trong bài ca dao là tri âm tri kỉ với người phụ nữ thì ở đây ngọn “đèn” lay lắt lại cứa sâu thêm nỗi đau trong lòng người.

– Hình ảnh so sánh “hoa đèn” và “bóng người”.

“Hoa đèn” dầu bấc ngọn đèn, thực tế là than. Cũng giống như ngọn đèn cháy hết mình để rồi chỉ con hoa đèn tàn lụi, người phụ nữ đau đáu hết lòng chờ chồng nhưng cuối cùng nhận lại sự cô đơn, trống trải.

Liên hệ với nỗi cô đơn của Thúy Kiều sau khi từ biệt Thúc Sinh trở về với chiếc bóng năm canh:

c. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về ngoại cảnh.

– “Gà gáy”, “sương”, “hòe”: Là những hình ảnh gắn với cuộc sống thôn quê bình dị, yên ả

– Từ láy “eo óc, phất phơ”: Cực tả vẻ hoang vu, ớn lạnh đến ghê rợn của cảnh vật.

→ Dưới con mắt trống trải cô đơn cả người chinh phụ, những cảnh vật vốn gắn với cuộc sống yên bình, êm ả nay trở nên khác thường, hoang vu, ớn lạnh. Đó là cách nói tả cảnh để ngụ tình.

d. Cảm nhận khác thường của người chinh phụ về thời gian.

– “Khắc giờ đằng đẵng”, “mối sầu dằng dặc”: Thể hiện sự dàn trải của nỗi nhớ miên man không dứt.

– Biện pháp so sánh kết hợp với các từ láy giàu giá trị gợi hình gợi cảm “dằng dặc, đằng đẵng” cho thấy sự cảm nhận khác thường về thời gian, mỗi phút mỗi giờ ngắn ngủi trôi qua mà nặng nề như một năm dài, thời gian càng dài mối sầu càng nặng nề hơn.

→ Câu thơ cực tả nỗi cô đơn tột cùng tột độ trong lòng người chinh phụ

e. Hoạt động gắng gượng duy trì nếp sống hằng ngày.

– Điệp từ “gượng”: nhấn mạnh sự cố gắng gò ép mình của người chinh phụ

– Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm:

Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành

Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.

Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.

⇒ Tiểu kết:

– Nội dung: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn sau đó thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.

– Nghệ thuật:

Giọng thơ trầm buồn, khắc khoải, da diết, trầm lắng

Khắc họa nội tâm nhân vật tài tình, tinh tế thông qua hành động nhân vật, yếu tố ngoại cảnh, độc thoại nội tâm

Các biện pháp tu từ: So sánh, điệp từ, từ láy.

3. Kết bài 

– Khái quát lại giá trị nội dung của đoạn thơ đối với đoạn trích: Khắc họa tâm trạng cô đơn, lẻ loi, trống vắng của người phụ nữ, ẩn chứa thái độ cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với nỗi đau khổ của con người.

Dàn ý phân tích 16 câu đầu bài tình cảnh lẻ loi

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Đặng Trần Côn và tác phẩm Chinh phụ ngâm

– Giới thiệu về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

II. Thân bài

1. 16 câu đầu: Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ

a) 8 câu thơ đầu

– Không gian:

Hiên vắng: vắng vẻ, hiu quạnh

Khuê phòng: cô đơn, nhớ nhung

– Thời gian:

Đèn: ban đêm, thời gian của tâm trạng

Hoa đèn: thời gian qua lâu gợi nỗi niềm khắc khoải

– Hành động của người chinh phụ:

+ Dạo – gieo từng bước: đi đi lại lại, quanh quanh, quẩn quẩn

⇒ Nỗi nhớ như ngưng đọng trong từng bước đi

Rủ thác: hành động vô thức, không có chủ đích

Nghe ngóng tin tức: nhớ mong, khao khát người chồng trở về

Giãi bày, chia sẻ với ngọn đèn – vật vô tri vô giác

– Biện pháp nghệ thuật:

Điệp ngữ vòng: đèn biết chăng – đèn có biết, diễn tả tâm trạng buồn triền miên, kéo dài lê thê trong thời gian và không gian, dường như không bao giờ đứt, ngừng.

Câu hỏi tu từ: đèn biết chăng? ⇒ như một lời than thở, thể hiện nỗi khắc khoải đợi chờ và hi vọng luôn day dứt không yên trong người chinh phụ.

b) 8 câu thơ còn lại

– Cảnh vật thiên nhiên:

+ Gà eo óc gáy – sương năm trống: gà gáy báo hiệu canh năm, báo hiệu người vợ trẻ xa chồng đã thao thức suốt đêm

⇒ Tiếng gà khắc khoải như xoáy sâu vào tính chất tĩnh lặng của không gian, đồng thời cũng xoáy sâu vào tâm trạng người chinh phụ

+ Hòe phất phơ: cảnh vật quạnh hiu

– Cảm thức của người chinh phụ về thời gian:

Hòe: bóng cây hòe ngoài sân, trong vườn ngắn rồi lại dài, dài rồi lại ngắn, thể hiện sự trôi đi của thời gian – thời gian của xa cách và nhớ thương

Thời gian của tâm trạng:

Khắc, giờ ———— niên

Mối sầu ———— biển xa

– Hành động của người chinh phụ:

Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành

Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.

Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.

⇒ Sự mâu thuẫn giữa cảm xúc và lí trí

⇒ 16 câu thơ đầu thể hiện tình cảnh lẻ loi, nỗi cô đơn sầu muộn của người chinh phụ.

2. Nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ

a) 6 câu thơ đầu

– Hình ảnh thiên nhiên:

Gió đông: gió mùa xuân, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.

Non Yên: núi Yên Nhiên, nơi phương bắc xa xăm – nơi người chồng đang chinh chiến.

– Biện pháp nghệ thuật

Hình ảnh ước lệ: non Yên.

Điệp ngữ vòng: non Yên, trời

Từ láy: thăm thẳm, đau đáu.

⇒ Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng, mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà.

b) 2 câu còn lại

– Hai câu thơ mang tính khái quát, triết lý sâu sắc

– Lời thơ chuyển sang độc thoại nội tâm, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng người chinh phụ với hình ảnh người chinh phụ tràn ngập trong tâm tưởng.

⇒ 8 câu thơ cuối như lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi.

III. Kết bài

– Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.

– Liên hệ với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến có chồng đi lính

Phân tích 16 câu đầu Chinh phụ ngâm – Mẫu 1

Đặng Trần Côn là một trong những tác giả nổi tiếng của văn học Việt Nam khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy biến động, nhiều trai tráng phải giã từ người thân để ra trận. Sống trong thời kỳ ấy, cảm nhận được nỗi thống khổ của người vợ lính, Đặng Trần Côn đã viết nên tác phẩm Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán. Đó là một khúc ngâm đầy cảm xúc lột tả tình cảnh của người chinh phụ lúc bấy giờ. Trong đó đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là đoạn trích hay đặc biệt là 16 câu thơ đầu đã thể hiện rõ nét nỗi cô đơn của người vợ có chồng đi chinh chiến.

Đã có nhiều bản dịch đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” nhưng trong đó, bản dịch thành công nhất là bản dịch của Đoàn Thị Điểm bởi bà cũng có hoàn cảnh giống người chinh phụ. Mười sáu câu đầu đoạn trích tác giả đã mở ra khung cảnh người chinh phụ chờ chồng trong tâm trạng u buồn, đơn độc.

Những hành động của người chinh phụ chậm rãi làm dâng lên cảm giác cô đơn, đau buồn:

Nhịp thơ nhẹ nhàng đi sâu vào cảm xúc. Hành động của người chinh phụ hiện ra với dáng vẻ u buồn. Những động từ “dạo” “gieo từng bước” ta thấy được sự nặng nề với tâm trạng bâng khuâng, lo lắng. Dường như không gian im lặng đến mức nghe được cả tiếng bước chân của người chinh phụ. Tất cả mọi hành động, cảnh vật đều thể hiện sự cô độc. Người phụ nữ ấy chẳng thể tìm được một người để sẻ chia. Thế nên hành động của người chinh phụ cứ lặp đi lặp lại vô nghĩa, kéo màn lên rồi lại buông mành xuống. Từ sự cô độc đó, sâu trong tâm hồn của người chinh phụ lại thầm thì trách móc:

Ở đây ta thấy được rõ nét sự nhớ nhung của người chinh phụ qua hình ảnh “chim thước”. Có lẽ nàng đang chờ đợi một tin tốt lành từ loài chim ấy. Vậy mà chờ hoài, đợi mãi chẳng thấy đâu. Thế nên nàng đâm trách chim thước chẳng báo tin tức gì, để nàng phải ngóng, mong khắc khoải. Tác giả cũng sử dụng nghệ thuật đối lập “ngoài rèm”, “trong rèm” để thấy được nỗi cô đơn đã ăn sâu vào cả không gian bên trong và bên ngoài.

Thế nên, nàng cần lắm một người bạn tâm sự cùng mình. Có lẽ vậy, nhà thơ đã nhân hóa “đèn” khuya thành một người bạn của người chinh phụ. Nhưng ngay cả chiếc đèn cũng phũ phàng với người phụ nữ đang lẻ loi ấy. Đáng nhẽ lúc này “đèn” phải thao thức cùng nàng suốt đêm, ấy thế nhưng “đèn” đã tắt ngay khi người chinh phụ cần lắm sự sẻ chia. Điều ấy làm cho người chinh phụ nhận ra rằng “đèn” cũng chỉ là một vật vô tri vô giác chẳng thể nào sẻ chia được điều gì.

Câu hỏi tu từ “trong rèm dường đã có đèn biết chăng” tác giả sử dụng cho người đọc cảm nhận được những cung bậc cảm xúc người chinh phụ đã trải qua. Và câu nói của người chinh phụ bật ra đau như xé lòng “Lòng thiếp riêng bi thiếp mà thôi”. Vì chẳng có ai bên cạnh để sẻ chia nên nàng xin nhận hết và chịu đựng hết nỗi cô đơn ấy.

Nỗi buồn của nàng giờ đây chẳng nói nên lời. Có lẽ nỗi buồn ấy đã quá lớn và hiện lên mỗi ngày. Ở đây, người chinh phụ nhìn hoa đèn mà nghĩ đến cuộc đời mình. Dường như cuộc đời nàng giống như hoa đèn vậy cũng mau lụi tàn. Càng nghĩ, nàng càng buồn khiến cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng, giống như Nguyễn Du đã miêu tả “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”:

Trời về khuya, không gian càng yên tĩnh khiến tiếng gà gáy làm tâm trạng thêm u uất. Tiếng gà “eo óc” là tiếng gáy thưa thớt, thể hiện sự đơn độc. Tác giả đã dùng hình ảnh “rủ bóng bốn bên” để miêu tả thời khắc không gian chìm vào đêm tối. Đã qua năm canh vậy mà người chinh phụ vẫn còn thao thức với nỗi sầu thương nhớ chồng.

Tác giả đã so sánh “khắc giờ” như “niên”. Có lẽ khi tâm trạng buồn thì một giờ mà như một năm, dài đằng đẵng khiến nỗi buồn, cô đơn ấy các thêm sâu đậm. Cùng với đó là từ láy “đằng đẵng” “dằng dặc” làm cho nỗi đau cứ triền miên không dứt. Ở đây ta thấy được sự tinh tế của tác giả khi lấy động tả tĩnh. Nhờ đó làm nổi bật lên không gian, thời gian. Để quên đi nỗi buồn trước mắt, người chinh phụ tìm đến những thú vui tao nhã:

Muốn quên đi nỗi buồn, nỗi cô đơn nàng tìm đến tô son điểm phấn, gảy đàn. Ấy thế nhưng những thú vui tao nhã mà nàng tìm đến lại càng khiến nàng chìm đắm vào nỗi sầu miên man. Khi đốt hương, mùi hương mê mải ấy lại khiến nàng rơi vào sự mơ màng làm nỗi sầu càng dân cao, Khi soi gương điểm phấn tô son, nàng lại xót xa hơn cho phận mình, nàng chợt nhận ra nhan sắc của mình đang dần phai mòn theo năm tháng. Không có chồng ở bên cạnh chia sẻ, những ngày xuân chẳng còn nhiều. Khi đánh đàn lại khiến nàng nhớ lại những chuyện ngày xưa khi chồng còn kề cạnh. Thế nên nàng sợ “dây uyên đứt”, sợ “phím loan chùng” – những nỗi sợ cứ thế bủa vây quanh nàng.

Tìm đến những thú vui để quên đi nỗi buồn, nhưng hành động lại “gượng” thể hiện sự miễn cưỡng. Dường như chỉ vì quá cô đơn mà nàng mới gắng gượng để làm. Nhưng lúc này dù thú vui nào thì cũng chẳng làm nàng vui. Bởi vì ngay lúc này bao trùm tâm trạng nàng là nỗi cô đơn mong mỏi chồng từ nơi chinh chiến. Điều mà người chinh phụ mong mỏi ngay lúc này chính là nghe được một lời động viên từ người chồng của mình. Nhưng tất cả đều im lặng, chẳng có tin tức.

Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, sử dụng nhiều điệp từ, hình ảnh so sánh, tác giả đã vẽ ra tâm trạng rối bời của người chinh phụ. Sự cô đơn, lẻ loi của nàng được thể hiện rõ nét. Hình ảnh của người chinh phụ chính là hình ảnh đại diện cho một lớp người trong thời kỳ này. Nó lột trần tội ác xấu xa của chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao gia đình rơi vào cảnh chia lìa. Người phụ nữ phải hy sinh tuổi xuân, sống trong sự cô đơn, tuổi khổ để chờ chồng mặc dù chẳng biết bao giờ mới là lúc đoàn viên.

Qua phân tích 16 câu đầu tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ta thấy được những nỗi cô đơn của người phụ nữ khi có chồng đi chinh chiến. Đó là nỗi cô đơn kéo dài triền miên theo không gian và thời gian. Nỗi cô đơn ấy chẳng có điều gì có thể xoa dịu bớt được. Có chăng chỉ là sự hy vọng ở người phụ nữ làm cho họ trở nên mạnh mẽ hơn. Qua đây ta cũng thấy được sự tài hoa của Đặng Trần Côn khi chạm đến trái tim người đọc bằng những ngôn từ cảm xúc.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 2

Là con người, ai cũng khiếp sợ chiến tranh, bởi chiến tranh gắn liền với máu và nước mắt. Vào thế kỉ thứ XVIII, tình hình xã hội nước ta vô cùng rối ren, chính trị bất ổn, chiến tranh liên miên. Triều đình cần nhiều binh lính để chiến đấu. Vì vậy, rất nhiều trai tráng đã từ giã gia đình và gia nhập quân ngũ. Nhưng “cổ lai chinh chiến khứ nhân hồi” tức có nghĩa là xưa nay, đi chiến đấu có mấy ai trở về. Thật vậy, sự ra đi không hẹn ngày về của những người chồng đã khiến cho người vợ của họ, những người thiếu phụ đã trở thành những người chinh phụ. Người khuê phụ trong bài thơ “Khuê oán” của Vương Xương Linh từng thốt:

Nỗi niềm này một lần nữa chúng ta lại bắt gặp trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” nguyên tác của Đặng Trần Côn. Đây là đoạn trích trong khúc ngâm được xem là tiêu biểu nhất cho thể loại khúc ngâm trong văn học Việt Nam. Dưới trí tuệ của dịch giả Đoàn Thị Điểm – người “tài sắc nương tử xưa hiếm nay không, xuất khẩu thành chương, bản chất thông minh” mà tuyệt tác Hán ngôn “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn một lần nữa thăng hoa. Đặc biệt 16 câu đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” – bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm, dù ngắn nhưng Đoàn Thị Điểm đã làm nổi bật lên bức tranh tâm trạng của người chinh phụ với những cảm nhận về thời gian chờ đợi và nỗi cô đơn, buồn nhớ, sầu lo dành cho người chinh phu:

Nửa đầu thế kỷ XVIII, “chính sự hư hỏng, thuế khóa nặng nề”, khắp nơi nông dân vùng lên khởi nghĩa và chúa Trịnh đã tiến hành nhiều cuộc đánh dẹp. Những cảnh vợ chồng chia lìa, nhà cửa ly tán đã khiến Đặng Trần Côn xúc động mà làm ra khúc ngâm. Tác phẩm là lời tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa; đồng thời là tiếng nói khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi vốn ít được thơ văn các thời kỳ trước chú ý. Nguyên tác “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn gồm 477 câu viết bằng chữ Hán theo thể trường đoản cú. Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, có lẽ do đồng điệu với người chinh phụ, đã diễn Nôm thành 408 câu song thất lục bát. Đoạn trích trên được trích từ câu 193 đến câu 288 của nguyên tắc, là tình cảnh và tâm trạng của người chinh phụ trong những năm tháng chồng đi đánh trận: tình cảnh cô đơn và khát khao được giãi bày, chia sẻ.

Tâm trạng của người chinh phụ trước hết được bộc lộ thông qua không gian và hành động:

Thủ pháp đối “hiên vắng” với “rèm thưa” không chỉ miêu tả không gian mà còn hé lộ tâm trạng. “Hiên vắng” cho thấy chẳng có ai ngoài người chinh phụ nhưng thực chất trong nhà còn có cha mẹ chồng và các con, đâu chỉ mình nàng. Song, cái vắng lặng kia của không gian phải chăng toát ra từ cõi lòng cô đơn, trống vắng của người chinh phụ? Qua con mắt ngóng trông, bức rèm dẫu có dày, cũng trở thành “rèm thưa”. Ngoài không gian, hành động nhân vật cũng là phương tiện miêu tả nội tâm nhân vật hiệu quả. Hai câu thơ có đến bốn động từ chỉ hoạt động: “dạo”, “ngồi, “rủ”, “thác” nhưng trọng tâm câu thơ lại không rơi vào những chữ ấy mà nó nằm ở những trạng từ diễn tả tính chất của hành động: “thầm gieo từng bước” và “đòi phen”. “Thầm gieo từng bước” không phải “đi” hay “bước” mà là “gieo” tức âm thầm mà vẫn nặng lòng, làm nặng luôn cả bước chân! Bước chân nặng nề ấy dường như độc giả còn bắt gặp trong “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều:

Bài thơ “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều cũng là một bài thơ viết về nỗi lòng của người phụ nữ

Thật buồn khi những bước chân ấy đều là những bước chân mang nỗi lòng của những người phụ nữ đáng thương. Còn “đòi phen” là một từ cổ, có nghĩa là “nhiều lận”. Động tác buông rèm và cuốn rèm được lặp đi lặp lại trong dáng vẻ vô hồn, vô thức. Không có gì thay đổi, nghĩa là kết quả của chuỗi ngày đợi chờ trong mỏi mòn, hy vọng trong vô vọng. Đó là sự tái hiện nhiều khoảnh khắc giống nhau, đó cũng là sự dồn nén tâm trạng.

Không chỉ qua không gian và hành động mà tâm trạng của người chinh phụ còn được bộc lộ rõ qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm:

Hướng ra “ngoài rèm”, nàng mong chờ chim thước báo tin vui, rằng chồng đã trở về an lành. Nhưng tuyệt nhiên, điều nhận lại chỉ là sự im lặng đến đáng sợ: “Ngoài rèm thước chẳng mách tin”, và thế là đành trở về độc thoại trong nỗi cô đơn của chính mình. Câu thơ như một cái lắc đầu tuyệt vọng. Câu hỏi tu từ “trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” mang hình thức đối thoại với ngọn đèn, nhưng thực chất là độc thoại nội tâm đấy thôi, nào có ai để mà giãi bày, chia sẻ! Thủ pháp đối “trong rèm – ngoài rèm” cho thấy một hiện thực tù túng: nhìn ra ngoài hay nhìn vào trong thì cuối cùng cũng chỉ quanh quẩn, trói buộc bên song cửa sổ, trong một không gian chật hẹp. Không gian tự thân đã chứa đựng khả năng biểu đạt tâm trạng. Càng vắng lặng, chật hẹp, tù túng thì càng cảm nhận rõ hơn hết nỗi trống vắng, cô đơn. Và vì thế mà càng bị nỗi sầu bủa vây, không cách nào giải tỏa.

Cách nói có vẻ mâu thuẫn “Đèn có biết dường bằng chẳng biết” cho thấy một nỗi hụt hẫng, thất vọng. Ngọn đèn được nhân hoá với mục đích thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ nỗi lòng của người chinh phụ. Nhưng suy cho cùng đèn cũng chỉ là một vật vô tri vô giác mà thôi! Trong tâm hồn người chinh phụ tưởng chừng đã lóe lên niềm vui, bởi đã có người đồng cảm, sẻ chia, để thỏa niềm khao khát được giãi bày và thoát khỏi cảnh sống cô đơn, chờ đợi của hiện tại. Nhưng cũng ngay lập tức nàng nhận thức được hiện thực không gì khác ngoài: khổ đau, chia lìa và vô vọng, càng mong mỏi, khát khao lại càng bế tắc, tuyệt vọng. Thật bi kịch khi càng muốn thoát ra thì nàng càng bị nỗi sầu muộn trói chặt hệt như người sắp đuối nước tưởng đã tìm thấy chiếc phao cứu sinh. Nào ngờ…

Hình ảnh “ngọn đèn” vốn là thi liệu quen thuộc trong ca dao viết về nỗi nhớ tình yêu:

Hay:

Rồi lại:

Trò chuyện với “ngọn đèn” là thế! Song, “lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” – là lời người chinh phụ tự bạch với chính mình. Tính từ “bi thiết” không chỉ diễn tả nỗi buồn mà hơn thế, đó còn là nỗi đau tự ý thức về tình cảnh cô đơn và nỗi sầu không ai chia sẻ được đang trở đi trở lại vò xé tâm can người chinh phụ.

Tâm trạng của người chinh phụ, cuối cùng, được bộc lộ thông qua ngoại hình nhân vật:

Nét mặt và dáng vẻ “buồn rầu”, cô đơn, tiều tụy ấy là kết quả của những chuỗi ngày mòn mỏi đợi chờ, cho thấy sự sống kéo lê, tàn tạ, nhạt nhòa. Phải chăng đó chỉ là tồn tại, nào phải sống cuộc sống của một con người? Nhìn kiếp “hoa đèn” lụi tàn, người chinh phụ tự thương cho kiếp mình tàn lụi. Người và vật cuối cùng cũng chẳng khác gì nhau. Thật đáng thương! Thật đau xót! Đặc tả những nét ngoại hình ấy của nhân vật, ngòi bút không chỉ xoáy sâu vào từng ngóc ngách để mổ xẻ tâm lí nhân vật, mà hơn thế, chính tác giả và dịch giả đang sống và trăn trở cùng nhân vật, đau nỗi đau của nhân vật trữ tình. Đó là dùng chiều sâu của tâm hồn, chiều rộng của tình thương để thấu hiểu, cảm thông và chia sẻ cùng nhân vật. Vì thế mà ở dòng thơ cuối cùng, lời nhân vật, lời tác giả và dịch giả dường như đã hòa làm một trong một niềm đồng cảm.

Sau những tháng ngày khắc khoải trong mong chờ: hết “dạo hiên vắng” lại “ngồi rèm thưa”, hết ngóng tin từ chim thước ngoài rèm, đến tìm kiếm một sự đồng cảm từ ngọn đèn trong rèm; người chinh phụ bắt đầu có cảm nhận sâu sắc về thời gian chờ đợi:

Trước tiên đó là cảm nhận về sự thay đổi của thiên nhiên, cảnh vật: đêm, tiếng gà nhức nhối suốt năm canh; ngày, sự dịch chuyển của bóng cây hòe trên mặt đất. Sự quan sát thiên nhiên này đã hé lộ tư thế của nhân vật trữ tình: người chinh phụ “ngồi nhẫn tàn canh” trong cảnh đợi chờ. Có thể nói, chờ mong đã trở thành tâm trạng thường trực của nàng. Từ láy tượng thanh “eo óc” và từ láy tượng hình “phất phơ” càng khắc sâu thêm không gian hiu quạnh, tĩnh lặng của cảnh vật, cũng như tâm trạng trống vắng, cô đơn của con người. Bút pháp “tả cảnh ngụ tình”, “lấy động tả tĩnh” đã được vận dụng một cách tinh tế, hiệu quả. Hình ảnh cây hòe trong màn đêm “phất phơ rủ bóng” cũng gợi lên cảm giác man mác buồn, xót xa. Hình ảnh “rủ bốn bên” của cây hòe còn biểu hiện bước đi của mặt trời trọn một ngày. Nếu như hình ảnh cây hòe bắt gặp trong bài “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi tượng trưng cho sự tươi tốt, căng tràn sức sống “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương” thì đến với cây hòe trong bài “Chinh phụ ngâm” lại được đặt trong đêm khuya thanh vắng, thấm đượm nỗi buồn. Từ đó ta thấy được nghệ thuật dùng từ của tác giả, đó là sự chọn lọc một cách tinh tế từ ngữ để biểu thị cảm xúc, tâm trạng.

Nếu như ở cặp song thất, cảm nhận của người chinh phụ về thời gian được gợi lên qua cái nhìn về cảnh vật, thì ở cặp câu lục bát, nhân vật trữ tình đã trực tiếp giãi bày cảm nhận, tâm trạng của mình:

Xưa nay trong cảnh đợi chờ, bao giờ con người cũng cảm thấy thời gian chảy trôi với một nhịp điệu hết sức chậm rãi, như muốn trêu ngươi, kéo dài khoảnh khắc chờ đợi của con người. Như trong “Kinh Thi” của Trung Quốc từng ví “nhất nhật tựa tam thu” hay trong “Truyện Kiều”, khi miêu tả nỗi niềm tương tư trong tình yêu, Nguyễn Du cũng đã để Kim Trọng phải thốt lên: “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dồn lại một ngày dài ghê!”. Trong Chinh phụ ngâm, thời gian chờ đợi của đôi lứa đang trong cảnh ngộ chia lìa dường như càng đáng sợ, khủng khiếp hơn, nhất là khi nó được cảm nhận từ một người thiếu phụ: từng khắc, từng giờ trôi đi như đã qua cả một năm vậy! Nỗi buồn tủi, cô đơn cũng theo đó mà vô cùng vô tận như biển xa.

Thủ pháp so sánh “như, tựa” với những hình ảnh tưởng chừng như khoa trương, ước lệ “khắc giờ như niên” rồi lại “mối sầu tựa biển”, nhưng lại rất thực với tâm trạng mòn mỏi, nỗi lòng ngổn ngang của người thiếu phụ có chồng đi chinh chiến. Bởi nó đã chuyển biến từ thời gian thật của ngoại cảnh (ở cặp song thất) đến thời gian của tâm lý (ở cặp lục bát này). So sánh bản diễn Nôm với nguyên tác, người đọc có thể thấy được thành công của bản dịch trong việc thể hiện nội dung tư tưởng, tình cảm của câu thơ. Nếu như trong bản chữ Hán của Đặng Trần Côn, đây là hai câu đoản cú “Sầu tự hải/Khắc như niên” thì trong bản diễn Nôm, ý thơ của nguyên tắc được diễn đạt tinh tế, sâu sắc và cảm động hơn. Đoàn Thị Điểm đã sử dụng tài tình thể song thất lục bát – vốn là thể thơ có khả năng dồi dào trong diễn đạt tâm tư tình cảm;vận dụng thành công các từ láy “đằng đẵng, dằng dặc” – một phương tiện ngôn từ đặc thù của tiếng Việt, để miêu tả chính xác, chân thật tâm trạng của nhân vật trữ tình. Bên cạnh đó bà còn hoán chuyển thứ tự hai câu thơ để mạch cảm xúc đi từ cảm nhận về ngoại cảnh “khắc giờ” cho đến lặn sâu vào nội tâm của con người “mối sầu”. Như vậy, trong không gian vô cùng và thời gian vô tận của sự chờ đợi, người chinh phụ chỉ thấy có mình đối diện đàm tâm với biển sầu của chính mình. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai quả thật tinh tế và sâu sắc khi nhận định rằng: “Đây là một trong những vần thơ mênh mông vô tận, như khối sầu trong lòng người yêu tự ngàn xưa”.

Trong sự bủa vây của mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa, người chinh phụ cố gắng tìm cách vượt ra khỏi, nhưng rốt cuộc vẫn không thoát nổi:

Nàng muốn làm mọi việc để quên đi nỗi nhớ chồng, nhưng xung quanh lại luôn là khung cảnh gợi nhớ, khơi dậy cảm giác về sự chia lìa lứa đôi hiện tại của nàng: “hương”, “gương” rồi sắt cầm” – đàn cầm và đàn sắt gảy hòa âm với nhau, thường dùng để ví cảnh vợ chồng hòa thuận, với dây đàn uyên ương và phím đàn loan phượng – hình ảnh biểu tượng của lứa đôi gắn bó: cặp uyên ương, loan phượng. Chính vì vậy, nỗi nhớ lại càng chất chồng. Cho nên, hết thảy ba lần lần người chinh phụ định làm những công việc bình thường của cuộc sống hằng ngày thì cũng chỉ là “gượng”. Chính phép điệp từ “gượng” gợi tả cử chỉ, dáng dấp: cố làm cho ra vẻ tự nhiên, bình thường khi đang có tâm trạng buồn, đồng thời nhấn mạnh sự gượng gạo đến tội nghiệp của nàng. Khi đốt hương, nàng lại chìm đắm vào nỗi sầu tủi miên man: “hồn đà mê mải”. Khi soi gương thì nàng lại nhớ hình ảnh cùng chồng soi chung nên không cầm được nước mắt “lệ lại châu chan”. Khi gắng “gảy ngón đàn” thì kinh sợ “dây uyên” bị “đứt”, lo ngại “phím loan” bị “chùng”, là những điềm gở báo hiệu sự không may của lứa đôi đang xa nhau. Ở những câu thơ này, yếu tố tự sự – thuật hành động, và yếu tố trữ tình – tả tâm trạng, xuất hiện sóng đôi, đan xen nhau. Trong cùng một câu thơ, vế trước chỉ việc làm, vế sau là sự biểu hiện tâm trạng, tình cảm của nhân vật trữ tình: “Hương gượng đốt / hồn đà mê mải” rồi “Gương gượng soi / lệ lại châu chan.” Thủ pháp đối kết hợp với liệt kê, đảo ngữ – đưa bổ ngữ chỉ vật lên trước hành động: “hương gượng đốt, gương gượng soi, sắt cầm gượng gảy, dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng” có tác dụng rất lớn đối với việc xây dựng yếu tố tự sự. Bên cạnh đó, từ ngữ cũng được Đoàn Thị Điểm lựa chọn, sử dụng rất “đắt”: “mê mải, châu chan, kinh, ngại” đã biểu đạt đến tận cùng các sắc thái tình cảm, cung bậc tâm trạng của nhân vật trữ tình. Chưa đến nỗi như người thiếu phụ ngày xưa vọng phu hóa đá, nhưng nàng chinh phụ của chúng ta đã phải sống trong nỗi cô đơn, buồn nhớ, sầu lo triền miên không dứt. Mọi nỗ lực nhằm xua tan đi buồn nhớ đều bất lực, vô dụng. Không thể thay đổi cảnh sống hiện tại, người chinh phụ lại càng khắc khoải âu sầu, càng rơi vào tuyệt vọng. Đó là sự bế tắc khủng hoảng đến độ trở thành bi kịch.

Đoạn trích đã thể hiện sự đồng cảm của tác giả – dịch giả khi khắc họa thành công bi kịch tâm trạng của người chinh phụ: khát khao được giãi bày, chia sẻ mâu thuẫn với hiện thực cô đơn, sầu muộn. Người chinh phụ đã bật lên tiếng nói thầm kín của lòng mình.

“Nếu như có những tư tưởng của thời đại, thì cũng có những hình thức của thời đại” (Bielinski). Trong văn học phong kiến “phi ngã”, Chinh phụ ngâm nói chung và đoạn trích nói riêng, ra đời để cất lên tiếng nói đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người, đặc biệt là người phụ nữ; qua đó, tố cáo chiến tranh phi nghĩa đương thời

Tiếng nói ấy xuất phát từ tấm lòng nhân đạo cao cả và tư tưởng nhân văn tiến bộ, và có ý nghĩa khai phá quan trọng: là tiền đề cho tinh thần nhân đạo đề cao quyền sống và quyền hạnh phúc lứa đôi của con người ở văn học giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX trỗi dậy mạnh mẽ trong Truyện Kiều, Cung oán ngâm, thơ Hồ Xuân Hương… sau này.

Hình ảnh ước lệ tượng trưng, giàu sức gợi hình, biểu cảm: sắt cầm, dây uyên, phím loan”. Đoạn trích đã chọn lọc đắt giá, khai thác hiệu quả những từ thuần Việt (thầm gieo, đòi phen, khá thương, gượng, kinh, ngại), đặc biệt hàng loạt những từ láy tượng thanh, tượng hình đậm đà tính dân tộc (eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặc, mê mải, thăm thẳm, đau đáu); các biện pháp nghệ thuật thường xuất hiện trong thơ văn cổ (đối, điệp, nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, câu hỏi tu từ,…). Thể song thất lục bát của bản diễn Nôm góp phần quan trọng diễn tả được những trạng thái tình cảm miên man không dứt, phù hợp với giai điệu chung của khúc ngâm.

Có thể nói rằng cả khúc ngâm đọng thành một “mối sầu vạn cổ” mà không gây nhàm chán vì sự diễn biến tinh vi mà phong phú, đa dạng của đời sống nội tâm nhân vật. Chỉ riêng đoạn trích này, tâm trạng của người chinh phụ đã có những chuyển biến luân phiên: ngóng trông ngoại cảnh để tìm mối đồng cảm, nhưng không thành để rồi quay về độc thoại với nỗi cô đơn sầu muộn ngổn ngang trong sâu thẳm lòng mình; khi lóe sáng chút hy vọng, lúc lại rơi vào hố sâu tuyệt vọng, ủ rũ, bế tắc. Nếu nói rằng, lời lẽ trong “Chinh phụ ngâm” là sự “hoàn toàn thống nhất giữa ý, tình và âm thanh, nhịp điệu, những câu thơ đẹp vào bậc nhất trong thơ Việt Nam” (Hoài Thanh) thì đoạn trích này là một minh chứng.

16 câu đầu Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Mẫu 3

Chinh Phụ Ngâm là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà ở đó, lồng ghép những mạch cảm xúc, câu chuyện thấm đẫm nỗi bi thương về thân phận người phụ nữ thời kỳ lúc bấy giờ, đồng thời gián tiếp miêu tả chân thực bức tranh hiện thực xã hội cay đắng, bất công.

Không gian hiên vắng, ngay từ những vần thơ đầu đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận u buồn, kết hợp với các động từ như “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn, thấp thỏm của người phụ nữ dưới mái hiên nghèo, những ngày động cứ lặp lại vô nghĩa, càng thể hiện sự hoang hoải và trống rỗng trong tâm trí. Và rồi dường như, nhân vật đang phân tâm để đối thoại độc thoại với chính mình, mà lại vừa có cảm giác như một lời trách móc:

Bắt đầu từ đây, người chinh phụ bộc lộ nỗi lòng cô đơn và sự nhớ mong, nhớ thương khôn xiết đến người chinh phụ nơi chiến trận phương xa. Nàng không chỉ mang nỗi nhớ đơn thuần, mà còn mang trong lòng sự khắc khoải khôn nguôi, trằn trọc khi không nhận được tin tức về người chinh phụ. Hình ảnh chim thước – loài vật báo tin tốt lành xuất hiện chính là sự minh họa rõ nhất cho nỗi lòng ấy. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm mọi không gian, thậm chí lan thấm vào nhuốm vào màu không gian một sắc buồn ảm đạm. Càng nhớ, càng mong mỏi được giãi bày, và ngọn đèn trở thành người tri kỉ trong vò võ cô đơn để người chinh phụ tâm sự. Ca dao xưa đã từng có bài ca dao khăn thương nhớ ai, cũng miêu tả hoàn cảnh của người phụ nữ trong vò võ đêm trường, một mình bầu bạn với ngọn đèn khuya, chính ngọn đèn khuya leo lét, lạnh lẽo càng nhấn mạnh thêm tình cảnh trơ trọi lẻ loi của người chinh phụ:

Người chinh phụ tự thương cho thân phận mình, bỗng nhận thấy trong bóng đèn dầu kia phản chiếu lên bức tường với số phận, thân phận mình như nhập hòa làm một, nỗi buồn mượn ngọn đèn để san sẻ nhưng cũng chẳng thể thỏa nỗi nhớ mong, niềm khát khao đồng điệu.

Không gian khi càng về sáng, càng yên tĩnh, đó cũng là không gian mà tâm trạng những người cô đơn càng thêm đơn độc, lẻ loi biết nhường nào. Cảnh vật xung quanh cũng heo hút, phất phơ, các từ eo óc, phất phơ, càng gợi cho ta cảm giác rằng người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nỗi nhớ vốn vô hình, vốn không thể cân đong đo đếm, nay được định lượng hóa bằng sự đằng đằng của tháng năm, bằng sự rộng dài của dòng thời gian trường cửu, càng thêm quay quắt và trở nên trơ trọi. Và giờ đây, nỗi nhớ đã trở thành mối sầu tựa miền ải xa, nghĩa là nó không chỉ thuộc về cảm xúc, mà còn đang mang những âu lo, khắc khoải, rợn ngợp về tương lai.

Những phím đàn gảy lên càng gợi cảm giác về sự đơn độc, về sự hoang hoải trống vắng trong tâm hồn, và tràn ngập những nỗi sợ hãi về tương lai, về sự cách lý.

Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã lột tả một cách sống động chân thực cảm xúc cô đơn và nỗi nhớ thương khắc khoải đến quặn thắt của người chinh phụ, đồng thời qua đó gián tiếp vạch trần tội ác của chế độ chiến tranh phi nghĩa năm xưa, khiến gia đình phải tan tác, đau thương.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 4

Đoạn trích ra đời vào thế kỉ XVIII. Đầu đời vua Lê Hiển Tông, triều đình sai quân đánh dẹp, nhiều trai tráng trong làng phải từ giả người thân ra trận. Khi ấy, cảm nhận được nỗi khổ của những người nông dân, đặc biệt là người vợ lính. Đặng Trần Côn đã viết nên tác phẩm, bằng chữ Hán là một khúc ngâm đầy cảm xúc. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” nằm từ câu 193 -216 và từ câu 228 – 252 trong nguyên tác. Khi vừa ra đời tác phẩm đã nhận được rất nhiều sự chú ý từ những nhà yêu thơ, đã có nhiều bản dịch ra chữ Nôm, nhưng bản dịch hiện tại là thành công nhất được viết theo thể song thất lục bát là thể thơ thuần túy của người Việt Nam. Nhưng sau khi bản dịch ra đời lại có tranh cãi rằng bản dịch đấy là của Phan Huy Ích hay Đoàn Thị Điểm. Phần lớn cho rằng là của Đoàn Thị Điểm bởi bà cũng có hoàn cảnh giống như người chinh phụ (bà có chồng đi sứ ở Trung Quốc). Mười sáu câu đầu đoạn trích là khung cảnh người chinh phụ chờ đợi chồng trong hoàn cảnh u buồn, đơn độc. Những hành động được tiếp diễn đưa cảm xúc lên cao trào.

Mở đầu cho cảm xúc cô đơn, đau buồn kéo dài theo không gian và thời gian vô tận là hành động chậm rãi:

Hành động được hiện ra với dáng vóc đầy suy tư của người chinh phụ. Nhịp thơ nhẹ nhàng, như để đi vào cảm xúc. Những động từ “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, không gian im lặng đến mức nghe từng tiếng bước chân. Người chinh phụ dường như đang suy nghĩ trăn trở nên nàng “ngồi” mà lòng thì chẳng để tâm. Tác giả đã sử dụng hình ảnh ” rủ thác đòi phen”- kéo màng lên rồi lại buông màn xuống. Để cho thấy hành động lặp đi lặp lại vô nghĩ. Và rồi dường như có tiếng thầm thì trách móc:

Người chinh phụ bắt đầu giãi bày nỗi niềm tâm sự của mình. Thực sự nàng đang rất nhớ người chinh phu điều đó được thể hiện rõ nét qua hình ảnh “chim thước”- chim khách, là loài chim thường mang tin tốt lành. Nàng trách chim thước chẳng báo một chút tin tức nào của người chồng, để nàng phải đợi mong, cô đơn khắc khoải. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm tất cả không gian bên trong và bên ngoài phòng khuê. Và nàng cũng cần lắm một người tâm sự cùng mình. “Đèn” được nhà thơ nhân hóa lên như một người bạn. Nếu với “Ca dao yêu thương tình nghĩa”: ” Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt” chiếc đèn nguyện cùng cô gái thao thức suốt đêm mộng mơ nhớ thương, thì với Chinh phụ ngâm chiếc đèn lại phũ phàng với người phụ nữ lẻ loi ấy. “Đèn” đã tắt khi người chinh phụ đang cần lắm một sự sẻ chia, “đèn” đã làm cho người chinh phụ nhận ra rằng “dù thế nào thì đèn cũng chỉ là vật vô tri vô giác” chẳng thể chia sẻ cùng nàng được. Tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Như muốn cho người đọc cảm nhận người chinh phụ đã đi qua từng cảm xúc. Và đến khi tuyệt vọng nàng đã nói một câu mà nghe như xé lòng: Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” nàng xin nhận hết và chịu đựng hết nỗi cô đơn cho riêng mình. Bởi vì chẳng có ai bên cạnh để nàng chia sẻ. Biết bao nỗi niềm chất chứa chẳng nói thành lời:

Nỗi buồn u ám dưới màng đêm, nỗi buồn mà ngay cả nàng cũng chẳng thể nói nên lời được. Có lẽ do nỗi buồn ấy quá lớn và nó lại hiện lên mỗi ngày. Nghệ thuật so sánh “Hoa đèn” với “bóng người”, người chinh phụ nhìn hoa đèn mà nghĩ đến cuộc đời của mình có mau lụi tàn như chiếc hoa đèn kia hay không? Hay còn hẩm hiu hơn thế nữa? Càng nghĩ nàng càng thấy buồn, dường như lúc này cảnh vật cũng rũ xuống một màu đen tối:

Trời đã khuya, không gian yên tĩnh, nghe từng tiếng gà gáy. Âm thanh vang lên “eo óc” thưa thớt, hình ảnh hoa hòe “rũ bóng bốn bên”, thời khắc cảnh vật mỏi mòn chìm vào đêm tối. Đã qua hết năm canh mà người chinh phụ vẫn còn thao thức với nỗi sầu khó vơi đi được. Sự so sánh “khắc giờ” như “niên”, một giờ dài bằng một năm, điều đó càng tô đậm hơn nỗi cô đơn. Thời gian cũng kéo dài cùng với nỗi sầu muộn của nàng. Cùng với từ láy “đằng đẵng”, “dằng dặc” cho thấy sự kéo dài triền miên đau đớn cứ mãi day dứt trong lòng. Nghệ thuật lấy động tả tỉnh làm nổi bật lên không gian, thời gian, lấy cái xa của biển cả để nói về cái buồn của lòng người là một cách miêu tả đầy tinh tế. Tiếp đến nàng muốn tìm những thú vui tao nhã, tập cách quên đi nỗi buồn trước mắt:

Nhưng nàng chẳng biết rằng những thú vui tao nhã này lại khi nàng chìm đắm vào nỗi sầu mênh mang. Khi đốt hương, hồn nàng lại rơi vào trạng thái mơ màng, nỗi sầu lại theo đó mà dâng lên. Rồi khi soi gương để tô son điểm phấn, nàng lại càng xót xa cho thân phận của mình, nhan sắc của một người phụ nữ đang dần phai mòn đi theo những tháng ngày lẻ loi, không có chồng bên cạnh để làm điểm tựa. Khi đánh đàn nàng lại sợ “dây uyên đứt”, “phím loan chùng” nàng sợ những điều không may xảy đến cuộc tình của nàng. Biết bao nỗi đau đau, nỗi sợ bủa vây lấy nàng. Điệp từ “gượng” được lặp lại ba lần cho thấy sự miễn cưỡng trong hành động. Cũng chỉ vì quá cô đơn, muốn quên đi mà nàng mới làm. Nhưng dù có thú vui tao nhã đến đâu, dù tô son điểm phấn hay đánh đàn thì cũng chẳng bao giờ nàng cảm thấy vui, bởi vì ngay lúc này với nàng là nỗi cô đơn mong mỏi chồng từ nơi chinh chiến sẽ trở về, mong được nghe một lời động viên an ủi từ người chồng của mình. Nhưng tất cả đều không!

Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, sử dụng những điệp từ, so sánh nhiều hình ảnh để vẽ ra khung cảnh của người chinh phụ mang nhiều tâm trạng. Sự cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ trong đêm tối. Và khi hình ảnh buồn khổ ấy hiện lên chân thực đến đâu thì càng vạch trần cái tội ác xấu xa của chiến tranh phi nghĩa đẩy biết bao gia đình rơi vào cảnh chia lìa. Mà niềm cảm thông lớn nhất là dành cho người chinh phụ, là phụ nữ nhưng họ phải hy sinh tuổi xuân để chờ chồng mà chẳng có chút tin tức, không có ai chia sẻ những nỗi buồn. Từ đấy cho ta thấy được cách chọn đề tài của Đặng Trần Côn rất mới mẻ, phù hợp với thời đại lúc bấy giờ. Cách miêu tả nội tâm đầy sâu sắc của ông, cho thấy ông là một người có vốn sống rất rộng. Đồng thời là sự sắc sảo trong cách dùng từ của hai dịch giả Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích đã tạo nên đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” rất thành công.

Thông qua mười sáu câu đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” càng giúp ta hiểu rõ nét hơn những nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ khi có chồng đi chinh chiến. Nó là nỗi cô đơn da diết kéo dài theo không gian thời gian. Từ đó cho thấy hậu quả của chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Và là lời ca ngợi cho tác giả Đặng Trần Côn, ông quả là một nhà thơ tài năng và tác phẩm của ông đã chạm đến trái tim của đọc giả và vượt qua hàng trăm năm, nhưng mỗi lần nhắc về những tác phẩm chữ hán, người ta sẽ nghĩ ngay đến “Chinh phụ ngâm”. Ông đã để lại cho nền văn học nước nhà một áng văn hay.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 5

Đặng Trần Côn là một tác giả văn học nổi tiếng sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy biến động nên của đất nước khi mà chiến tranh đã làm chia cắt bao gia đình. Có biết bao nhiêu cặp vợ chồng vừa xây dựng hạnh phúc lứa đôi đã phải chia tay để chồng đi chinh chiến phương xa. Từ sự cảm thương với số phận con người trong thời chiến, ông đã viết nên tác phẩm “Chinh phụ ngâm”. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là một trong những đoạn trích tiêu biểu nói về tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người vợ trẻ khi chồng ra trận vắng nhà.

Ngay từ tám câu thơ đầu, tác giả đã mở ra một tâm trạng cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ

Nỗi cô đơn của người chinh phụ đã được thể hiện trước hết qua hành động một mình nàng dạo hiên vắng. Buông rèm rồi lại cuốn rèm không biết bao nhiêu lần. Hành động này thể hiện sự bối rối, tâm trạng thất thần nhớ nhung khiến cho người phụ nữ còn không thể kiểm soát được hành động của mình. Đó là tâm trạng chờ đợi mong ngóng, tin tức người chồng phương xa. Nỗi buồn nỗi cô đơn của người chinh phụ còn được diễn tả qua sự đối bóng của người với ngọn đèn khuya.

Hai câu thơ được tác giả viết hình thức câu hỏi tu từ, thể hiện tâm trạng bế tắc của người chinh phụ. Nàng hỏi đèn để mong muốn tìm được một sự đồng cảm, sẻ chia, nhưng rồi tự trả lời rằng đèn không biết. Hình ảnh ngọn đèn cùng với nỗi lòng của người chinh phụ như càng góp phần khẳng định nỗi buồn triền miên, cô đơn, không ai chia sẻ.

Đoạn thơ 8 câu cuối có sự chuyển đổi tinh tế để phù hợp với diễn biến tâm trạng của người chinh phụ. Từ những lời tự sự miêu tả nội tâm, đến đoạn thơ này có sự kết hợp giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ của tác giả.

Đoạn thơ này, tác giả chủ yếu sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tức là dùng ngoại cảnh để miêu tả tâm trạng nhân vật, dùng cái chủ quan để miêu tả cái khách quan. Vì thế, trong bài thời gian vật lí đã biến thành thời gian tâm lý. Tiếng “gà eo óc gáy” là âm thanh báo hiệu năm canh và bóng cây “hòe” tĩnh mịch trong đêm nhằm làm tăng ấn tượng vắng vẻ, cô đơn đáng sợ.

Trong tâm trạng chờ đợi mỏi mòn đó người chinh phụ thấy thời gian trôi qua một cách chậm chạp, một khắc một giờ mà giống như một năm.

Và để giải tỏa nỗi niềm sầu muộn, người chinh phụ đã biết tìm đến những thú vui tao nhã thường ngày: “soi gương, đốt hương, gãy đàn”. Nhưng tất cả chỉ làm trong sự gượng gạo, miễn cưỡng chán chường.

Thành công của đoạn trích này là ở khả năng miêu tả tâm lí nhân vật vô cùng tinh tế với bút pháp tả cảnh ngụ tình quen thuộc của văn học trung đại và sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ: câu hỏi tu từ, điệp từ, điệp ngữ…

Chỉ với 16 câu thơ đầu, tác giả đã thể hiện được tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ. Toàn bộ tác phẩm Chinh phụ ngâm được xem là tiếng kêu thương của người phụ nữ nhớ thương người chồng chinh chiến phương xa.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 6

“Chinh phụ ngâm khúc” là một trong những kiệt tác của danh sĩ, nhà thơ Đặng Trần Côn. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, được mọi người biết đến qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” bộc lộ rõ tâm trạng u buồn, nhớ nhung của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi, vì chồng phải tham gia vào trận đánh chiến tranh tàn khốc. Tác phẩm thể hiện sâu sắc cảm hứng nhân đạo và sự lên án, tố cáo chiến tranh phi nghĩa khiến con người phải chia cắt.

Trong 16 câu thơ đầu tiên, tác giả thể hiện nỗi cô đơn của người chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi, cảm giác về thời gian chờ đợi, cố tìm cách giải khuây mà không được. Đến 11 câu thơ tiếp theo, thi nhân đã họa lại nỗi nhớ thương chồng ở phương xa của người chinh phụ khiến lòng nàng càng thêm ảm đạm. Trong những câu thơ còn lại, cảnh vật xung quanh càng khiến lòng người chinh phụ thêm rạo rực, khao khát hạnh phúc lứa đôi.

Những câu thơ đầu tiên chất chứa tâm trạng nhớ nhung, sầu muộn của người phụ nữ:

Chúng ta thấy người chinh phụ khắc khoải chờ mong chồng dẫu ngày hay đêm. Nằm trong phòng, nàng hết buông rèm xuống lại cuốn rèm lên. Tác giả đã rất tinh tế khi miêu tả từng động tác, cử chỉ, hành động được lặp đi, lặp lại nhiều lần của người chinh phụ. Những hành động ấy không xuất phát từ bất kỳ mục đích gì, tất cả đều là những động tác vô thức, không chủ đích, không ý nghĩa, cốt chỉ để biểu lộ tâm trạng cô đơn, lẻ loi của nàng. Người chinh phụ mong mỏi có được sự đồng cảm, nhưng thực tại lại càng thất vọng: “chim thước” chẳng chịu mách tin, “đèn” không hiểu được tâm sự của mình. Câu hỏi tu từ được sử dụng “đèn biết chăng?”, “đèn chẳng biết” phải chăng là lời thở than, thể hiện nỗi khắc khoải trong đợi chờ vô vọng, day dứt mãi khôn nguôi. Tâm trạng của nhân vật đã chuyển giọng kể tự nhiên, từ lời kể bên ngoài thành lời độc thoại nội tâm da diết, dằn vặt, ngậm ngùi. Hình ảnh “ngọn đèn”, “hoa đèn” cùng với cái bóng trên tường của chính mình gợi cho người đọc nhớ đến hình ảnh đèn không tắt trong bài ca dao vốn rất quen thuộc:

Nhận thấy trong tám câu thơ tiếp theo, người chinh phụ đã mượn cảnh thiên nhiên để diễn tả tâm trạng của mình, dùng cái khách quan để miêu tả sự chủ quan:

Âm thanh “tiếng gà eo óc” báo hiệu canh năm, đồng thời như sự minh chứng rằng người vợ xa chồng đã thức suốt đêm dài. Hình ảnh “bóng hòe” ngoài sân, hết ngắn rồi dài, rủ xuống mặt đất, càng khiến không gian thêm ảm đạm, ngột ngạt. Thời gian của xa cách, nhớ thương cùng với tâm trạng da diết khôn nguôi. Cụm từ “gượng” được tác giả diễn tả cách đặc biệt, đi liền với các động từ “gảy”, “soi”, đốt” cùng những đồ vật “đàn”, “hương”, “gương”. Tất cả đều cho thấy, những thú vui tao nhã, những thói quen trang điểm hằng ngày của người phụ nữ, giờ đây vắng chồng, vắng niềm hạnh phúc, tiếng cười, bỗng được tiến hành một cách gượng ép. Đốt hương mà tâm hồn lại chìm đắm vào nỗi sầu tủi miên man. Soi gương lại không cầm được những giọt nước mắt không ngừng rơi vì tủi hổ. Đàn đứt dây, chùng lại, nào có thoát khỏi bể trời đơn côi?

Chúng ta thấy rằng chỉ vỏn vẹn 16 câu thơ đầu tiên, tác giả đã thể hiện rõ nỗi cô đơn, sầu tủi của người chinh phụ khi phải sống trong tình cảnh lẻ loi. Nàng cảm giác về thời gian trong đợi chờ, cố tìm cách giải khuây mà không được. Tác giả đã rất tinh tế khi diễn tả tâm trạng phong phú, tinh vi, sâu kín trong tình cảm của người phụ nữ, càng thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo dành cho người chinh phụ trong hoàn cảnh đơn côi, lẻ loi.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 7

Trong đề tài viết về chiến tranh, người ta thường viết nhiều về những tráng sĩ, những anh hùng đã chiến đấu, đã hi sinh vì non sông, đất nước. Rất ít tác giả viết về hình ảnh những người vợ, những người mẹ mòn mỏi chờ đợi tin tức của chồng mình, của con mình. Và có ai biết được rằng cái sự chờ đợi đó dường như là vô vọng, bế tắc bởi lẽ: “Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi”. Cảm thông trước cảnh buồn khổ của những người chinh phụ, Đặng Trần Côn đã sáng tác tác phẩm Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán và Đoàn Thị Điểm đã dịch bài thơ này ra chữ Nôm. Trong bản dịch này, có thể thấy xuất sắc nhất là đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Đặc biệt là 16 câu thơ đầu tiên.

Ngay những câu đầu của tác phẩm Chinh phụ ngâm, tác giả đã vẽ nên cảnh chia tay giữa người chinh phụ và chinh phu: “Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”. Nói như thế có nghĩa là khi người chồng đã đi chinh chiến nơi biên ải xa xôi, người vợ phải ở nhà. Đó là hoàn cảnh của người chinh phụ trong hiện tại. Không những nêu lên hoàn cảnh hiện tại của người chinh phụ, 16 câu thơ đầu còn khắc họa hình ảnh của người vợ trẻ giữa không gian và thời gian. Về không gian, tác giả đã vẽ ra trước mắt chúng ta về hiên vắng, ngoài rèm, trong rèm. Đó là không gian hiu quạnh và vắng vẻ vô cùng.

Advertisement

Không chỉ thế, thời gian trong đoạn thơ này cũng được vẽ nên, đó là trục thời gian trôi chảy. Các hình ảnh hoa đèn, tiếng gà eo óc đã vẽ nên cái trục thời gian tuần hoàn: từ đêm đến đêm khuya và trời dần trở về sáng. Nói như thế có nghĩa là người chinh phụ đã thức suốt năm canh để chờ đợi, ngóng trông và gặm nhấm nỗi cô đơn, sầu muộn của mình.

Tóm lại, đoạn trích đã cho ta thấy được hình ảnh của người chinh phụ nổi bật giữa không gian và thời gian. Vậy giữa cái khoảng không gian quạnh vắng, cô đơn chiếc bóng ấy, giữa thời gian lê thê của năm canh ấy người chinh phụ đã làm gì?

Hai câu thơ đầu đã cho chúng ta thấy hình ảnh của người chinh phụ với những hành động thật lạ kì. Người chinh phụ dạo hiên, người chinh phụ ngồi rèm. Thế nhưng, nàng dạo hiên mà thầm gieo từng bước, nàng ngồi rèm mà rủ thác đòi phen. Đó là hành động quanh quẩn, được lặp lại nhiều lần. Có thể thấy hành động này bất thường bởi lẽ nàng dạo hiên mà đếm từng bước chân. Nàng ngồi trước cửa sổ mà hết hạ rèm xuống rồi kéo rèm lên.

Hành động vô thức ấy cứ lặp đi lặp lại để cho thấy được rõ ràng bên trong người chinh phụ đang chất đầy tâm trạng. Nàng ngồi rèm, nàng dạo hiên không phải đề hòa mình với thiên nhiên, mà là để trông ngóng một điều gì đó. Có thể thấy, 2 câu thơ đầu đã đặc tả được sự cô đơn, lẻ loi, vắng bóng cũng như hé mở tâm trạng bên trong của người vợ trẻ này. Nàng đang chờ đợi, ngóng trông điều gì mà lòng thổn thức không yên. Và đến những câu thơ tiếp theo thì tâm sự của người chinh phụ đã được hé mở:

Cụm từ “thước chẳng mách tin” hé lộ mọi tâm trạng của người chinh phụ. Thì ra người vợ trẻ ấy đang chờ đời con chim thước – con chim báo tin lành, tin của người chồng nơi biên ải xa xôi. Thế nhưng, con chim thước không đến và người chồng cũng bặt vô âm tín.

Tiếp theo đó, tác giả đã sử dụng thủ pháp đối lập giữa ngoài rèm với trong rèm và câu hỏi tu từ: “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”. Chính cái thủ pháp đối lập và câu hỏi tu từ, một lần nữa cho chúng ta thấy được cái tâm trạng trách móc, buồn bã của người chinh phụ.

Bên cạnh đó, ta còn cảm nhận được sự tuyệt vọng của người vợ đang mòn mỏi chờ đợi tin tức của chồng. Những câu thơ đầu vẽ nên tình cảnh của người chinh phụ trong lẻ loi, cô đơn, vô vọng. Người chinh phụ ấy thật đáng thương biết bao. Và đáng thương hơn nữa khi nàng chỉ biết làm bạn với ngọn đèn:

Với thủ pháp điệp từ: “đèn biết chăng”; “đèn có biết”. Tác giả đã vẽ nên dòng tâm trạng triền miên, day dứt, không nguôi của người vợ trẻ. Thêm vào đó, với câu hỏi tu từ” đèn có biết dường bằng chẳng biết” như là một nỗi ám ảnh, như là một tiếng lòng thổn thức không nguôi của người chinh phụ. Hai câu thơ này đã cho ta thấy tâm trạng buồn rầu, xót xa của người vợ khi chờ đợi mãi mà chưa có tin tức gì. Không chỉ thế, 2 câu thơ với câu hỏi tu từ đã tạo nên một dòng chảy tâm trạng triền miên, day dứt. Và dòng tâm trạng ấy lại trở nên dai dẳng hơn nữa, triền miên hơn nữa khi nó đặt giữa một không gian và thời gian chẳng bao giờ ngừng và đứt đoạn:

Bên cạnh việc sử dụng phép điệp, câu hỏi tu từ, đoạn thơ còn sử dụng nhiều hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng: hoa đèn, bóng người và cạm từ như bi thiếp, buồn rầu. Với những hình ảnh và cụm từ ấy, tác giả một lần nữa cho ta thấy sự cô đơn, sầu muộn. Đặc biệt hình ảnh hoa đèn khiến ta liên tưởng đến những câu ca dao thật hay thật đẹp về chuyện tình yêu:

Cô gái trong bài ca dao hay người vợ trẻ trong chinh phụ ngâm khúc đều phải mòn mỏi từng ngày, từng tháng, từng năm để ngóng trông tin tức của người yêu, người chồng. Không chỉ thế, hình ảnh hoa đèn và bóng người khá thương còn gợi ta liên tưởng đến chuyện người con gái nam xương của nguyễn dữ. Cả vũ nương trong tác phẩm này và người chinh phụ của đặng trần côn. Cảnh vật trong đoạn trích này vẫn không thay đổi, nhưng thời gian lại trôi chảy tuần hoàn:

Cụm từ âm thanh “gà eo óc” đã diễn tả được sự trôi chảy của thời gian. Nếu như ở các câu thơ trước xuất hiện hình ảnh đèn-báo hiệu đã tối, hoa đèn – báo hiệu đã khuya, và cuối cùng là tiếng gà – báo hiệu trời đã sáng. Không chỉ có âm thanh tiếng gà eo óc mà còn có cả không gian qua hình ảnh lá hèo. Hình ảnh hòe phất phơ rủ bóng bốn bên gợi lên một không gian vắng lặng, tĩnh mịch, hoang vắng. Người xưa đã nói: Thức đêm mới biết đêm dài. Phải thức đêm mới biết được cái khoảng thời gian ấy trôi qua một cách lê thê. Người chinh phụ đã cảm nhận được dòng thời gian trôi chảy:

Thủ pháp so sánh “trích thơ” cùng với các từ láy đằng đẵng dằng dặc đã cho chúng ta cảm nhận được cái âm điệu sầu não, day dứt của đoạn thơ. Không chỉ tạo nên cái âm điệu sầu não, tác giả đã sử dụng thủ pháp lấy cảnh ngụ tình để thể hiện nỗi cô đơn, vắng bóng, sầu khổ của người chinh phụ. Nỗi nhớ ấy dài lê thẻ tựa cả một năm. Không những dài mà nỗi nhớ ấy còn rộng, sâu tự biển cả rộng lớn. Ai có thể thấy được bờ bến của biển khơi, ai có thể thấu được cái lòng đại dương kia đến tận đâu. Tấm lòng của người chinh phụ được ví von với những hình ảnh mang đậm sắc thái biểu cảm như thế.Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi.

Trong đoạn thơ này tác giả đã liệt kê hàng loạt hành động của người chinh phụ. Người chinh phụ đốt hương,soi gương, gảy đàn. Thế nhưng những hành động ấy đều gượng gạo và miễn cưỡng. Nằng làm đó nhưng đó là hành động của người có xác mà không hồn. nàng làm đó nhưng bên trong tư tưởng tâm trí lại nghĩ về điều khác. Người chinh phụ đốt hương cầu mong hạnh phúc gđ, nhưng nàng đốt hương mà hồn đà mê mải. Nàng soi gương nhưng soi gương làm chi, trang điểm làm gì khi không có chồng bên cạnh. Hình ảnh người chinh phụ soi gương khiến ta liên tưởng đến bài thơ Khuê oán của vương xương linh. Trong bài thơ này, tác giả đã khắc họa hình ảnh người chinh phụ trang điểm sau đó lên lầu để ngắm cảnh. Nhưng lên đến lầu mới nghiệm ra nhiều điều:

Khi trông thấy dáng liễu bên đường mới nhận ra thời gian trôi chảy vô tình, nhan sắc của nàng dần tàn phai và người chồng ngày ra đi chưa biết ngày trở về. Nhân vật trữ tình còn gảy đàn. Nàng gảy đàn để tìm đến thú vui tao nha. Mong rằng tiếng đàn kia sẽ làm vơi bớt nỗi muộn phiền. Thế nhưng, gảy đàn mà lại dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng:

Câu thơ sử dụng điển tích dây uyên và phím loan. Chính 2 điện tích này đã diễn tả tâm trạng tiếp theo của người chinh phụ. Không chỉ cô đơn, không chỉ lẻ loi, không chỉ sầu muộn mà lúc này đây tràn đầy nỗi lo lắng và sợ hãi. Nàng sợ dây uyên ngại chùng sợ điềm gở sẽ đến, sợ vợ chồng chia lìa xa cách.

Người chinh phụ cố gắng tìm mọi cách để vượt ra khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn đáng sợ nhưng vẫn không sao thoát nổi. Nàng gắng gượng điểm phấn tô son và dạo đàn cho khuây khỏa nhưng càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng. Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, chạm vào tình cảnh lẻ loi đơn chiếc. Khi Hương gượng đốt thì hồn nàng lại chìm đắm vào nỗi thấp thỏm lo âu. Lúc Gương gượng soi thì nàng lại không cầm được nước mắt bởi vì nhớ gương này mình cùng chồng đã từng chung bóng, bởi vì phải đối diện với hình ảnh đang tàn phai xuân sắc của mình. Nàng cố gảy khúc đàn long phụng sum vầy thì lại chạnh lòng vì tình cảnh vợ chồng đang chia lìa đôi ngả, đầy những dự cảm chẳng lành: Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Rốt cuộc, người chinh phụ đành ngẩn ngơ trở về với nỗi cô đơn đang chất ngất trong lòng mình vậy.

Sắt cầm, uyên ương, loan phụng là những hình ảnh ước lệ tượng trưng cho tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Nay vợ chồng xa cách, tất cả đều trở nên vô nghĩa. Dường như người chinh phụ không dám đụng tới bất cứ thứ gì vì chúng nhắc nhở tới những ngày đoàn tụ hạnh phúc đã qua và linh cảm đến sự chia Hai đôi lứa trong hiện tại. Tâm thế của nàng thật chông chênh, chơi vơi khiến cho cuộc sống trở nên khổ sở, bất an. Mong chờ trong nỗi sợ hãi và tuyệt vọng, hồng chí còn biết gửi nhớ thương theo cơn gió

Với thể thơ song thất lục bát, cách dùng từ, hình ảnh ước lệ, điệp từ điệp ngữ, nghệ thuật miêu tả nội tâm, 16 câu thơ đã thể hiện một cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ ở người chinh phụ, luôn khao khát được sống trong hạnh phúc, tình yêu lứa đôi. Đoạn trích còn thể hiện tấm lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc của tác giả với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ, cất lên tiếng kêu nhân đạo, phản đối chiến tranh phi nghĩa.

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 16 câu đầu – Mẫu 8

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là một trong những tác phẩm văn học trung đại xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà ở đó, lồng ghép những mạch cảm xúc, câu chuyện thấm đẫm nỗi bi thương về thân phận người phụ nữ thời kỳ lúc bấy giờ, đồng thời gián tiếp miêu tả chân thực bức tranh hiện thực xã hội cay đắng, bất công.

Không gian hiên vắng, ngay từ những vần thơ đầu đã gieo vào lòng người đọc những cảm nhận u buồn, kết hợp với các động từ như “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, bồn chồn, thấp thỏm của người phụ nữ dưới mái hiên nghèo, những ngày động cứ lặp lại vô nghĩa, càng thể hiện sự hoang hoải và trống rỗng trong tâm trí. Và rồi dường như, nhân vật đang phân tâm để đối thoại độc thoại với chính mình, mà lại vừa có cảm giác như một lời trách móc:

Bắt đầu từ đây, người chinh phụ bộc lộ nỗi lòng cô đơn và sự nhớ mong, nhớ thương khôn xiết đến người chinh phụ nơi chiến trận phương xa. Nàng không chỉ mang nỗi nhớ đơn thuần, mà còn mang trong lòng sự khắc khoải khôn nguôi, trằn trọc khi không nhận được tin tức về người chinh phụ. Hình ảnh chim thước – loài vật báo tin tốt lành xuất hiện chính là sự minh họa rõ nhất cho nỗi lòng ấy. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm mọi không gian, thậm chí lan thấm vào nhuốm vào màu không gian một sắc buồn ảm đạm. Càng nhớ, càng mong mỏi được giãi bày, và ngọn đèn trở thành người tri kỉ trong vò võ cô đơn để người chinh phụ tâm sự. Ca dao xưa đã từng có bài ca dao khăn thương nhớ ai, cũng miêu tả hoàn cảnh của người phụ nữ trong vò võ đêm trường, một mình bầu bạn với ngọn đèn khuya, chính ngọn đèn khuya leo lét, lạnh lẽo càng nhấn mạnh thêm tình cảnh trơ trọi lẻ loi của người chinh phụ:

Người chinh phụ tự thương cho thân phận mình, bỗng nhận thấy trong bóng đèn dầu kia phản chiếu lên bức tường với số phận, thân phận mình như nhập hòa làm một, nỗi buồn mượn ngọn đèn để san sẻ nhưng cũng chẳng thể thỏa nỗi nhớ mong, niềm khát khao đồng điệu.

Không gian khi càng về sáng, càng yên tĩnh, đó cũng là không gian mà tâm trạng những người cô đơn càng thêm đơn độc, lẻ loi biết nhường nào. Cảnh vật xung quanh cũng heo hút, phất phơ, các từ eo óc, phất phơ, càng gợi cho ta cảm giác rằng người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Nỗi nhớ vốn vô hình, vốn không thể cân đong đo đếm, nay được định lượng hóa bằng sự đằng đằng của tháng năm, bằng sự rộng dài của dòng thời gian trường cửu, càng thêm quay quắt và trở nên trơ trọi. Và giờ đây, nỗi nhớ đã trở thành mối sầu tựa miền ải xa, nghĩa là nó không chỉ thuộc về cảm xúc, mà còn đang mang những âu lo, khắc khoải, rợn ngợp về tương lai.

Những phím đàn gảy lên càng gợi cảm giác về sự đơn độc, về sự hoang hoải trống vắng trong tâm hồn, và tràn ngập những nỗi sợ hãi về tương lai, về sự cách lý

Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã lột tả một cách sống động chân thực cảm xúc cô đơn và nỗi nhớ thương khắc khoải đến quặn thắt của người chinh phụ, đồng thời qua đó gián tiếp vạch trần tội ác của chế độ chiến tranh phi nghĩa năm xưa, khiến gia đình phải tan tác, đau thương.

Văn Mẫu Lớp 8: Phân Tích Nhân Vật Hồng Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ 2 Dàn Ý + 16 Bài Văn Mẫu Lớp 8 Hay Nhất

TOP 16 bài Phân tích nhân vật Hồng trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng, kèm theo 2 dàn ý chi tiết, sẽ giúp các em học sinh lớp 8 cảm nhận sâu sắc hơn về số phận cay đắng, tình cảm mãnh liệt của bé Hồng với mẹ.

A. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Đoạn trích “Trong lòng mẹ” được trích trong tác phẩm “Những ngày thơ ấu” của nhà văn Nguyên Hồng.

– Khái quát tính cách, phẩm chất nhân vật bé Hồng trong đoạn trích: Nhân vật bé Hồng là nhân vật trung tâm của đoạn trích với cảnh ngộ đáng thương và tình yêu thương mẹ đáng trân trọng.

B. Thân bài:

Luận điểm 1: Cảnh ngộ đáng thương, buồn tủi của chú bé Hồng

– Hồng là kết quả của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Cha mất sớm. Người mẹ vì cùng túng quá phải tha hương cầu thực. Chú phải sống xa mẹ, sống cùng họ hàng ở bên nội. Nhưng cậu lại không hề được yêu thương. Cậu phải sống trong sự ghẻ lạnh và cay nghiệt của những người được gọi là thân thích.

– Trong ngày giỗ đầu của cha, cậu vừa phải chịu nỗi đau mất cha, vừa phải nghe những lời châm chọc, cay nghiệt của người cô về mẹ của mình. Từng lời nói từ cô như cứa thêm vào tâm hồn nhỏ bé, đáng thương hàng nghìn nỗi đau. Họ chỉ muốn gieo giắc vào đầu cậu bé những điều xấu xa, để cậu ruồng bỏ chính mẹ ruột của mình như cách họ ruồng bỏ râu con trong nhà.

– Lời bà cô càng thâm hiểm, ác độc bao nhiêu thì chú bé lại càng đáng thương bấy nhiêu khi phải một mình chống đỡ yếu ớt lại miệng lưỡi người đời và những hủ tục lạc hậu, ác nghiệt.

Luận điểm 2: Tình yêu thương mẹ của chú bé Hồng

– Trong cuộc đối thoại với người cô, Hồng đã thể hiện tình yêu thương, niềm tin của mình vào người mẹ khi trả lời cô một cách dứt khoát và thông minh

+ Nhận ra ý nghĩ thâm độc trong giọng nói và nét cười rất kịch của cô tôi

+ Nhận ra mục đích của người cô : Biết rõ “ nhắc đến mẹ tôi cô tôi chỉ gieo giắc vào đầu tôi những hoài nghi và khinh miệt để tôi ruồng rẫy mẹ tôi”

+ Người cô càng mỉa mai Hồng càng thương mẹ hơn. Một khao khát mãnh liệt trong suy nghĩ của Hồng đó là muốn những cổ tục đã đầy đọa mẹ thành một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ để vồ lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi.

– Nếu trong cuộc hội thoại với người cô, chú bé Hồng thể hiện tình yêu me bằng cách phản kháng mãnh liệt thì trong cuộc gặp gỡ bất ngờ với mẹ của mình, chú bé Hồng như quay trở về với chính tâm hồn non nớt, bé bỏng đáng có của mình.

– Khi “ thoáng thấy một bóng người ngồi trên xe kéo”, chú bé đã vội vã chạy đuổi theo từ đây ta thấy được tâm trạng hồi hộp, niềm khát khao mong được gặp mẹ của Hồng

– Tâm trạng cô đơn khi thiếu vắng mẹ và mong ước cháy bỏng được gặp lại mẹ của Hồng được bộc lộ rõ qua những suy nghĩ, những giả thiết ngây thơ, trong sáng mà chứa đựng nhiều nỗi đau.

– Được ngồi lên xe cùng mẹ chú òa lên khóc rồi cứ thế nức nở khiến cho người mẹ cũng sụt sùi theo. Ba từ “òa, nức nở, sụt sùi” cùng một trường nghĩa , nối nhau miêu tả các dạng thức đặc biệt của tiếng khóc của những dòng lệ. Đây là âm thanh, là nước mắt của biết bao nỗi niềm, tâm trạng của hai mẹ con: tự hào, bàng hoàng, sung sướng..

– Suy nghĩ liên tưởng của Hồng : “ Phải bé lại và lăn vào lòng mẹ” ⇒ cảm giác mình đang bé lại để làm nũng mẹ, để hưởng sự vuốt ve, chiều chuộng lâng lâng.

⇒ Nhờ tình yêu thương và niềm tin ấy, đến khi gặp mẹ, bé Hồng đã nhận được niềm sung sướng và hạnh phúc lớn lao. Người mẹ của bé Hồng trở về đúng thời điểm quan trọng nhất, đã xua tan mọi đau đớn, dằn vặt trong tâm hồn chú bé.

C. Kết bài:

– Khái quát lại hình ảnh nhân vật chú bé Hồng và nghệ thuật của đoạn trích: Hình ảnh nhân vật chú bé Hồng khiến người đọc xúc động với tình mẫu tử thiêng liêng, cao quý.

– Liên hệ phong cách sáng tác của nhà văn Nguyên Hồng: Nhà văn Nguyên Hồng là một nhà văn nhân đạo – hiện thực luôn hướng ngòi bút của mình cho những con người bất hạnh, đặc biệt là phụ nữ và trẻ con.

1. Mở bài

Giới thiệu đoạn trích Trong lòng mẹ và nhân bé Hồng: Nguyên Hồng là một nhà văn với ngòi bút chan chứa tình cảm. Ngòi bút của ông được thể hiện rõ nhất qua đoạn trích Trong lòng mẹ. Chú bé Hồng – chính tác giả hồi nhỏ đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.

2. Thân bài

a. Tuổi thơ cơ cực của Hồng

– Là đứa con sinh ra trong một gia đình không có tình yêu: bố vì nghiện thuốc phiện mà chết sớm; mẹ phải bỏ đi tha hương cầu thực; em sống cùng với người cô cay nghiệt.

b. Cuộc đối thoại của Hồng và bà cô

+ Khi bà cô xoáy sâu vào nỗi đau, sự thiếu thốn tình mẫu tử: em im lặng không nói gì.

+ Sự tức giận lên đến tột cùng, em căm hờn những hủ tục lạc hậu và miệng đời cay nghiệt đã đày đọa mẹ mình, em ước nó như hòn đá, cục thủy tinh, mẩu gỗ để cắn, nhai, nghiến đến kì nát thì thôi → Tình yêu thương mẹ vô bờ bến, khao khát muốn bảo vệ mẹ trước mọi điều xấu xa.

c. Cuộc gặp gỡ của Hồng và mẹ

+ Trong lòng em luôn khao khát mẹ về và được gặp mẹ, khi thấy người ngồi trong xe kéo giống mẹ đã gọi và chạy theo → mẹ luôn hiện hữu trong lòng em.

+ Cảm giác xấu hổ với đám bạn nếu đó không phải mẹ mình nhưng trên hết là sự tủi thân vì luôn mong ngóng mẹ.

+ Khi biết người ngồi trên xe là mẹ mình: chạy đến, òa khóc nức nở, vỡ òa cảm xúc.

+ Thu mình trong lòng mẹ để cảm nhận tình yêu thương, hơi ấm. Em nhận ra mẹ không tiều tụy như lời người cô kể mà vẫn tươi đẹp như thuở sung túc.

+ Lời người cô văng vẳng bên tai nhưng nhanh chóng tan biến chỉ còn lại tình yêu thương và cảm xúc hạnh phúc.

→ Tình mẫu tử thiêng liêng là động lực giúp Hồng vượt qua tất cả những nỗi đau.

3. Kết bài

– Khái quát lại nhân vật: bé Hồng không chỉ lấy được nhiều sự thương cảm của mọi người mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, nhắc nhở con người cần phải bảo vệ trẻ em, để trẻ em có một môi trường sống tốt nhất có thể.

Gia đình là điểm tựa vững chắc, là cái nôi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ nhỏ. Thế nhưng không phải đứa trẻ nào có gia đình cũng lớn lên trong sự chở che và tràn ngập hạnh phúc, trong cuộc sống của chúng ta luôn tồn tại những thứ gọi là ngoại lệ, luôn có những sự thật bất biến mà khi nghe đến ai ai cũng phải thốt lên bàng hoàng. Một trong những ngoại lệ đó là bé Hồng, một cậu bé đáng thương trong đoạn trích ” Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng, người mà người ngoài nhìn vào tưởng chừng như có cuộc sống rất sung túc và ấm cúng thế nhưng ẩn sâu trong đó là là những tủi nhục, ấm ức và tổn thương sâu nặng.

Bé Hồng được sinh ra trong một gia đình khá giả và giàu có, gia đình em có tất cả và chỉ thiếu duy nhất đó là hạnh phúc. Đúng vậy, đó là một cuộc giao dịch của gia đình hai bên không hơn không kém, không tình cảm, cuộc sống trở nên rẻ mạt và vô vị, không niềm vui, không tiếng cười hạnh phúc. Thế nhưng thời gian qua đi mối quan hệ ấy đã đâm hoa kết trái và gia đình ảm đạm ấy cuối cùng cũng đón chào đứa con đầu đời của mình. Đó chính là cậu bé Hồng.

Tưởng chừng khi đứa con đầu đời của họ chào đời thì gia đình ấy sẽ thêm gắn kết và mối quan hệ gượng ép kia sẽ được cải thiện, thế nhưng không, cuộc sống vốn đã mệt mỏi nay lại càng thêm mỏi mệt và xa cách. Được sinh ra trên đời đâu phải là cái tội vậy mà cậu bé Hồng lại đang phải chịu những tổn thương trực tiếp từ cha mẹ mình. Làm gì có đứa con nào cảm thấy hạnh phúc nếu bố mẹ chúng không yêu thương nhau. Mối quan hệ hời hợt đến mức ngay cả một đứa nhỏ vài tuổi cũng nhận ra, cũng tự thấy đau đớn và tổn thương, Hồng nhận ra em chỉ là điều cuối cùng còn sót lại để níu giữ mối quan hệ của hai con người đã sinh ra mình. Sự thật phũ phàng như thế liệu có quá nhẫn tâm với một đứa bé vô tội.

Nhưng những tổn thương mà em phải gánh chịu đâu có như thế, bên trong thì gia đình lục đục không hạnh phúc, bên ngoài thì lại nhận những lời dèm pha về cha mẹ, những tin đồn thất thiệt về mẹ mà em chẳng biết đúng sai. Những thứ mà mọi người nói ngoài kia, những điều mà em nghe được về mẹ mình liệu có đúng, em không tin đó là sự thật, em đã đấu tranh suy nghĩ để giữ lại hình ảnh về người mẹ đẹp nhất trong tâm trí mình, gắng gượng sống tiếp mà bỏ ngoài tai những điều thị phi và tai tiếng về cha mẹ. Trong phút chốc đứa nhỏ đáng thương trở thành tâm điểm của những mũi giáo chĩa về phía người thân của mình. Bi kịch chưa dừng lại ở đó, không hạnh phúc đã đành, thiếu thốn đã đành nhưng nay em lại chịu cảnh tan nát gia đình vì người bố nghiện ngập. Bố là trụ cột gia đình, là tấm gương cho con cái noi theo vậy mà người cha vô dụng kia lại biến mình trở thành gánh nặng cho vợ con, trở thành nỗi tủi nhục lớn nhất đối với mẹ con cậu bé Hồng. Mẹ bé Hồng phải lao động cực nhọc để nuôi chồng, nuôi con, tấm thân gầy guộc ấy vừa phải chăm lo cho cuộc sống vừa phải trang trải nợ nần, bà sống mà chẳng phải là sống, sống mà lòng như đã chết.

Vì nghiện ngập mà không lâu sau đó người cha qua đời, nỗi đau này chưa dứt thì nỗi đau kia lại xảy ra, mẹ bé Hồng từ bỏ cuộc sống mỏi mệt đi tìm niềm vui mới bỏ lại một mình em sinh tồn nơi xã hội hiểm ác. Người ta thường nghĩ là giàu sang thì sẽ hạnh phúc thế nhưng không phải như vậy. Dù được sống trong cảnh giàu sang ở nhà họ nội thế nhưng em lại phải chịu sự hắt hủi, khinh rẻ và vô cảm của lũ người ruột thịt. Họ cũng có cùng máu mủ với em, là những người mà đáng ra phải bảo vệ, an ủi và chở che em trong những lúc khó khăn nhất thì họ lại là người quay lưng để rồi nhẫn tâm tạt vào mặt em gáo nước lạnh giá buốt. Gia đình em tan vỡ, người ngoài buông lời dèm pha đã đành thế nhưng ngay trong cái gia đình ấy lại có những kẻ máu lạnh cố gieo dắt vào đầu em những điều không hay, bà cô độc ác cố vấy bẩn suy nghĩ của em về mẹ, từng lời lẽ sắc bén như lưỡi dao khứa mạnh vào trái tim đang nhỏ máu của đứa bé bất hạnh. Bà cô như một con rắn độc mưu mô đang cố hãm hại đồng loại của mình, cố gây sát thương cho đứa cháu tội nghiệp bằng những lời giả dối mà vô cùng giả tạo.

Và cuối cùng sau bao đau đớn và tổn thương mà em gánh chịu, sau bao ngày mong nhớ khát khao được gặp mẹ thì ước nguyện đó cũng đã thành hiện thực, ngày hôm đó em đã được gặp lại mẹ của mình, gặp lại người mẹ đáng thương mà em luôn cố bảo vệ và tôn thờ bấy lâu nay. Người ta thường nói người mình thương yêu thì dù họ có lẫn trong đám đông chúng ta vẫn có thể tìm ra được, và đúng là như vậy, cậu bé Hồng đã nhìn thấy mẹ của mình trên chiếc xe kéo. Xúc động là thế nhưng em bỗng chốc khựng lại, trong lòng em trào dâng một thứ cảm xúc hỗn độn nào đó, bối rối và hoang mang đến lạ, em sợ mình nhận nhầm người, sợ niềm hy vọng mà mình ấp ủ bấy lâu nay không trở thành hiện thực, sợ người đó không phải là mẹ mình, sợ em ôm hy vọng rồi lại đổi lấy thất vọng. Thế nhưng sau vài giây giằng co trong suy nghĩ em đã bất chấp tất cả cất lên tiếng gọi đầu tiên sau ngần ấy thời gian xa cách mẹ, giọng đứa bé run run bối rối: “Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!”. Và bao mong mỏi của em đã được đền đáp, đó không phải ai khác mà chính là mẹ của em, người mẹ hiền từ mà em mong mỏi được gặp bấy lâu.

Cuộc hội ngộ của hai mẹ con đã giúp tâm hồn em được an ủi, ít nhất trong những giây phút ngắn ngủi đó em không còn phải tự mình chống chọi với thế giới, không còn phải gồng mình mà tỏ ra mạnh mẽ, vậy là em đã khóc, những giọt nước mắt rơi xuống không biết là vì hạnh phúc hay vì những tủi nhục vỡ òa trong em. Ngày hôm ấy có hai tâm hồn sứt mẻ đã tìm về được với nhau, tìm thấy niềm hạnh phúc hiếm hoi trong cuộc đời của mình.

Bức tranh về tình mẫu tử ấm áp đã khép lại tác phẩm, đó là thứ tình cảm thiêng liêng và bất diệt. Dẫu có bị vùi dập nhưng nó vẫn luôn bùng cháy và mãi mãi rực sáng trong tim mỗi người. Tình mẫu tử ấy đã giúp cậu bé Hồng vượt qua tất cả, chống chọi với những khó khăn, thách thức khắc nghiệt để hướng đến những điều tốt đẹp.

Trong chúng ta, tình mẫu tử luôn là thiêng liêng và ấm áp nhất. Những đứa con dù hiền hay dữ, dù sang hay hèn thì trong trái tim mình đều có tình yêu thương bao la dành cho mẹ – người sinh thành, nuôi dưỡng và luôn dành cho ta những điều tốt đẹp nhất. Tôi đã đọc nhiều câu chuyện, nhiều vần thơ viết về tình mẹ con, nhưng tôi thực sự bị ám ảnh với hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng. Đặc biệt in sâu đậm dấu ấn trong tôi là hình ảnh cậu bé Hồng qua đoạn trích “Trong lòng mẹ”.

Đọc những dòng đầu tiên của đoạn trích Trong lòng mẹ, tôi thực sự thương cảm và xót xa cho số phận cậu bé Hồng : “Chú bé Hồng ra đời là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng không tình yêu ; chú lớn lên trong không khí giả dối, lạnh lẽo của một gia đình không hạnh phúc”. Ngay từ những phút giây bắt đầu đón nhận sự sống, chú bé Hồng đã gặp những bất hạnh.

Là một đứa trẻ lẽ ra cậu bé Hồng phải được sống trong sự đùm bọc, yêu thương của bố mẹ và gia đình, nhưng trái lại em phải “sống bơ vơ giữa sự ghẻ lạnh cay nghiệt của họ hàng.” vì bố chết, mẹ bỏ đi “tha phương cầu thực”. Sống giữa gia đình nhưng cậu bé Hồng giống như một đứa trẻ mồ côi, và hơn thế em còn phải chịu đựng sự hắt hủi, chì chiết của người thân, đặc biệt là bà cô.

Trong đoạn trích, nhà văn Nguyên Hồng đã rất tinh tế khi miêu tả diễn biến tâm trạng của cậu bé Hồng : từ nỗi đau đớn buốt lạnh trước những lời đay nghiến của bà cô đến nỗi vui sướng vỡ oà khi gặp lại mẹ, và bao trùm lên tất cả là tình yêu mẹ vô bờ bến của chú bé.

Dù mới chỉ là một cậu bé nhưng Hồng sớm phải gánh chịu sự đối xử cay nghiệt của người thân, đó chính là sự nhẫn tâm của bà cô. Cho dù cả đoạn trích không nhắc đến sự đánh đập bằng đòn roi nhưng cách đối xử, lời lẽ mỉa mai của người cô còn khiến cho chú bé đau đớn hơn gấp trăm nghìn lần.

“Hồng ! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không ?”, nghe qua ta tưởng đây là lời nói thể hiện sự quan tâm, muốn cháu với bớt nỗi nhớ mẹ nhưng thực chất đây là những lời nói kháy, tàn độc : “nhận ra những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch của cô tôi, tôi cúi đầu không đáp. Vì tôi biết rõ, nhắc đến mẹ tôi, cô tôi chỉ cố ý gieo rắc và đầu óc những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi”.

Trước lời nói đầy thâm ý của bà cô, trong lòng cậu bé Hồng lại càng trào dâng lên tình yêu thương mãnh liệt dành cho mẹ “Nhưng đời nào tình yêu thương và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến.”. Cậu ra sức bảo vệ mẹ, cố gắng cười đáp lại dù trong thâm tâm đang rất đau đớn, tủi cực “Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về”. Cậu bé trả lời bà cô và có lẽ cũng là tự an ủi mình, cậu bé luôn có niềm tin mãnh liệt rằng mẹ sẽ về và không bao giờ bỏ rơi cậu.

Tuy nhiên, bà cô của chú vẫn tiếp tục đay nghiến “Sao lại không vào ? Mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước nữa đâu !”. Tâm hồn non nớt, ngây thơ của chú bé dường như đã quá sức chịu đựng “lòng tôi càng thắt lại, khóe mắt tôi đã cay cay”. Nhà văn đã kết hợp miêu tả đan xen giữa lời nói bà cô và tâm trạng chú bé, mỗi lời bà cô phát ra là một lần khiến cho cậu bé trở nên đau đớn hơn.

Tính chất chì chiết đay nghiến trong từng câu nói cứ tăng dần, để rồi lên đến cao trào khi bà cô nói : “Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ”. Từng lời nói như những nhát dao cứa vào trái tim non nớt, khiến cậu bé phải khóc “ròng ròng”.

Hồng khóc không phải vì ghen tị với em bé mà “vì thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở một cách giấu giếm”. Người đọc hiểu rằng, dù mới chỉ là một cậu bé nhưng Hồng đã có những suy nghĩ chín chắn.

Tình yêu thương mẹ của cậu bé Hồng còn gắn liền với niềm căm tức, thù hận với những định kiến. Bởi lẽ cậu bé hiểu rằng chính những thành kiến tàn ác kia đã đẩy mẹ cậu vào cảnh “tha hương cầu thực”, mẹ con cậu phải chia lìa nhau. Trong nỗi đau uất ức, nghẹn ngào không thốt ra tiếng chú bé Hồng đã có một ước mơ “giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”.

Nỗi căm tức, đau đớn của chú bé đã được nhà văn hình tượng hoá qua hình ảnh so sánh biểu cảm. Những cổ tục cũng lạnh lùng, sắc nhọn chẳng khác nào “hòn đá, cục thuỷ tinh”. Bên cạnh đó, biện pháp điệp “mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi” khiến cho nhịp văn nhanh dần, mạnh mẽ thể hiện niềm căm tức tột độ của cậu bé Hồng.

Qua đó toát lên tình yêu thương mẹ cháy bỏng, chú bé sẵn sàng làm tất cả dù khó khăn, dù đau đớn để bảo vệ người mẹ kính yêu của mình. Suy nghĩ tâm trạng của Hồng khiến cho người đọc không khỏi ngậm ngùi, xót xa, thương cảm và khâm phục. Ta hiểu rằng, những thủ đoạn tàn nhẫn, những câu nói cay độc, phũ phàng của bà cô không thể lay chuyển suy nghĩ của bé Hồng về mẹ, trái lại nó càng khiến cho cậu yêu thương mẹ hơn.

Đọc đoạn trích Trong lòng mẹ, người đọc được trải qua các trạng thái cảm xúc đối lập nhau. Đọc đoạn đầu tiên, ta như đi vào một sa mạc khô cằn tình người, ở đó ta chỉ thấy sự chì chiết, đối xử cay nghiệt và nỗi đau của một chú bé nhưng kết thúc đoạn trích ta lại chìm ngập trong dòng suối mát lành của tình mẹ con ấm áp. Cho dù bà cô có cố tình chia lìa tình mẹ con thì với Hồng cậu luôn tin rằng mẹ cậu sẽ trở về và niềm tin đó đã trở thành sự thực: “Nhưng đến ngày giỗ đầu thầy tôi, tôi không viết thư gọi mẹ tôi cũng về”.

Để diễn tả niềm vui sướng của bé Hồng khi gặp mẹ, nhà văn đã miêu tả một cách cụ thể, chi tiết: “Chiều hôm đó, tan buổi học ở trường ra, tôi chợt thoáng thấy một bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ tôi. Tôi liền đuổi theo gọi bối rối : “Mợ ơi ! Mợ ơi ! Mợ ơi Những cụm từ như “thoáng thấy”, “liền đuổi theo”, “gọi bối rối” thể hiện sự cuống quýt, Vội vàng của chú bé. Ta hiểu rằng niềm mong chờ mẹ về luôn thường trực trong tâm trí của chú bé Hồng.

Tuy nhiên, giống như con chim bị thương sợ gặp phải cành cong, cậu bé Hồng chưa kịp vui sướng thì đã lo sợ, lo sợ nếu như đó là người khác thì sẽ thành “trò cười tức bụng” cho lũ bạn. Hình ảnh so sánh tinh tế, biểu cảm cái lầm đó. khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc” cho người đọc thấy tâm trạng mong đợi khắc khoải của cậu bé Hồng.

Hình ảnh người bộ hành “ngã gục giữa sa mạc” sẽ chính là hình ảnh của chú bé Hồng sẽ gục ngã giữa sa mạc của sự ghẻ lạnh, đay nghiến nếu như mẹ cậu không về. Câu chuyện được đẩy lên đến cao trào, người đọc cũng hồi hộp chờ đợi: liệu người đó có phải là mẹ cậu bé ? Và rồi, tất cả như được tháo bung ra “Xe chạy chầm chậm mẹ tôi cầm nón vẫy tôi mẹ tôi xoa đầu tôi hỏi, thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”.

Đó không còn là những giọt nước mắt tủi cực mà là những giọt nước mắt của niềm hạnh phúc vô bờ bến. Nhà văn đã viết nên những câu văn nhẹ nhàng để diễn tả tình mẹ con ấm áp. Trong lòng cậu bé Hồng giờ đây chỉ còn niềm vui sướng tột độ vì cậu thấy rằng mẹ mình không phải như những gì bà cô nói, mẹ vẫn tươi đẹp và “cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt”.

Chú bé Hồng thấy mình cần bé lại để “lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Ở bên mẹ, Hồng không còn một chút đau đớn, tất cả những lời bà cô giờ trở nên vô nghĩa với cậu “câu nói ấy bị chìm đi ngay, tôi không mảy may nghĩ ngợi gì nữa.”. Tình mẹ bao la và ấm áp đã xua tan đi mọi băng giá, khổ đau, đem lại một niềm hạnh phúc tràn ngập.

Người đọc như thấy đâu đây sự mỉm cười mãn nguyện của nhà văn. Ông thực sự là nhà văn có trái tim ấm nóng, hiểu và cảm thông sâu sắc với những người có số phận bất hạnh ,đặc biệt là với trẻ em và phụ nữ. Trang văn của Nguyên Hồng nói chung và đoạn trích Trong lòng mẹ nói riêng thực sự là những trang văn thấm đượm tấm lòng nhân đạo của một nhà văn chân chính.

Đoạn trích Trong lòng mẹ khép lại nhưng đã gợi lên cho người đọc biết bao điều suy nghĩ: chúng ta sẽ làm gì để những tâm hồn non nớt, ngây thơ luôn được sống trong niềm yêu thương, hạnh phúc, chở che ? Chúng ta làm gì để những giọt nước mắt đau đớn, tủi cực không còn lăn dài trên khuôn mặt thánh thiện của các em ? Đó sẽ mãi là câu hỏi nhức nhối mà nhà văn gửi đến mỗi chúng ta.

Nếu ai hỏi tôi: Tình cảm nào thiêng liêng cao đẹp nhất? Tôi xin trả lời là tình mẫu tử! Nếu ai hỏi tôi: Nhà văn Việt Nam nào viết về tình mẫu tử đẹp nhất? Tôi xin trả lời là Nguyên Hồng! Có phải chăng vì Nguyên Hồng là một người con thương mẹ tha thiết, nên ông đã nổi tiếng khi viết về mẫu thân mình? Vâng, chính tác phẩm Những ngày thơ ấu được Nguyên Hồng viết khi vừa tròn mười tám tuổi, đã đưa ông bước vào làng văn một cách chững chạc và vững chắc. Tác phẩm chính là một tập hồi kí về cuộc đời đầy đau khổ, sóng gió của nhà văn.

Mẹ Hồng bao lâu khao khát yêu thương, đã phải chôn vùi tuổi thanh xuân trong cuộc hôn nhân không lối thoát, nay đã vùng lên, thoát khỏi sự cổ hủ của phong kiến đè nặng lên cuộc đời mình. Bà đi vào Thanh Hóa, bỏ lại bé Hồng bơ vơ, côi cút giữa sự ghẻ lạnh của những người họ hàng giàu có. Hồng phải chịu đựng những lời cay nghiệt, xấu xa từ phía họ nội giàu có. Hoàn cảnh làm em phải trở thành đứa trẻ lêu lổng, đói rách, luôn khao khát cuộc sống, một tình yêu thương đích thực. Thế mà cái mong muốn giản đơn ấy mãi mãi không thực hiện được. Đối với Hồng, cái cảnh của nhà thờ đêm Nô – en không có chỗ cho em, cho những con chiên bé nhỏ tìm sự che chở, ban phước của Chúa, mà chỉ dành cho những ông Tây, bà Đầm, những chức dịch, những kẻ quyền quý, khệnh khạng và bệ vệ. Khó khăn lắm em mới lên được vào, để có thể nhìn thấy bàn thờ. Rõ ràng cái xã hội thối tha bẩn thỉu ấy không phải là chỗ đứng của em. Nhưng biết làm sao được! Chúa đã ấn định cho cuộc đời Hồng một vực thẳm tăm tối, vô đáy. Cái vực thẳm ấy sẵn sàng nhấn chìm em, nếu em có một phút lỡ làng, quên đi bản chất hồn nhiên, ngây thơ, chân thật của mình.

Tình thương và hình ảnh của mẹ luôn ngời sáng trong tâm trí Hồng. Mặc dù sống hoàn cảnh như vậy, nhưng tâm hồn Hồng vẫn cứ là vì sao lấp lánh giữa bầu trời thăm thẳm. Trong tâm tư của em vẫn tồn tại hình ảnh một người cha dịu dàng, ngọt ngào; một người mẹ chỉ vì sợ hãi những thành kiến cổ hủ mà xa lìa các con, nhưng tình thương và hình ảnh của mẹ luôn ngời sáng trong tâm trí Hồng. Chính cuộc nói chuyện giữa Hồng, ngay cả chúng ta cũng phải công nhận rằng Hồng rất thông minh, tinh ý. Bởi với một đứa trẻ, một năm không được gặp mẹ, không nhận được một lá thư, một lời thăm hỏi âu yếm, không xin được mẹ một đồng quà thì khi bắt gặp câu hỏi (của người cô) có muốn vào chơi với mẹ hay không? Với tâm lý ngây thơ, trong sáng sẽ trả lời ngay là có, nhưng chợt nhận ra những điều không tốt đẹp trong câu nói ấy nên mới phản bác lại ý muốn dồn nén trong lòng từ bấy lâu nay của mình. Để có được cái chợt ấy quả là một quá trình quan sát lâu dài, được hình thành từ những việc xảy ra trong cuộc sống mà em quan sát và tiếp thu được. Những động cơ xấu, như lời bà cô, đã làm mất đi phần nào tính ngây thơ trong Hồng, để đến nỗi mỗi lời nói, mỗi hành động của em đều được cân nhắc, suy nghĩ kĩ càng. Trong em, sự độc ác của bà cô đã cho em một bài học về cách tính tốn của người lớn, đã biến em thành một người khôn ngoan, “phòng thù kẻ xấu” đã trở thành bản năng tự vệ, và vũ khí duy nhất của em, để bảo vệ cho danh dự của người mẹ thân yêu. Bởi ở cái xã hội của em, mọi người hầu như đều giả dối, ác độc. Đáng thương biết bao! Và tiếng cười của em khi trả lời bà cô: “Cháu không muốn vào” như gây cho người đọc cảm giác dường như Hồng không chú ý, không buồn bã khi phải xa mẹ. Mặc đù trả lời như vậy nhưng chắc rằng lúc bấy giờ, trong lòng Hồng, hình ảnh và những tình cảm yêu thương mặn nồng đối với mẹ đang trào dâng nghẹn ngào.

Bé Hồng thương yêu mẹ sâu sắc. Mặc dù gần một năm trời sống bơ và đói rách giữa thái độ ghẻ lạnh và nhất là những lời lẽ cay nghiệt của người cô nói xấu mẹ mình, lòng yêu thương mẹ của Hồng không vì thế mà suy giảm. Ngược lại, bé càng thông cảm với mẹ hơn. Hồng đã rất sớm nhận ra cái bất công của cổ tục làm khổ nhục mẹ mình và xót xa mẹ đến “cổ họng nghẹn ứ” muốn “vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiền cho kỳ nát vụn mới thôi” cái cổ tục ấy nếu như nó cụ thể như hòn đá, cục thủy tinh. Lòng thương yêu, kính trọng mẹ đã giúp Hồng trước sau nhận rõ ác ý của người cô cay nghiệt vẫn thấy mẹ mình phải được che chở, phải được sống đàng hoàng giữa cuộc đời. Trong lòng chú bé, nguyên vẹn người mẹ rất đáng yêu, rất đẹp với “gương mặt vẫn tươi sáng, đôi mắt trong và nước da mịn tươi đẹp như thuở còn sung túc”. Trong sâu thẳm cảm giác vẫn nguyên sự ấm áp “mơn man khắp da thịt”, “hơi quần áo hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra thơm tho lạ thường”, sau bấy lâu xa vắng, giờ lại được ngồi gọn trong lòng mẹ. Giây phút thiêng liêng đến xúc động!

Chính vì rất yêu thương mẹ và trong lòng bao giờ cũng chỉ thấy có mẹ là gần gũi, thương xót mình nhất, nên bé Hồng luôn cảm thấy buồn tủi trong cảnh sống nhờ. Trước thái độ miệt thị của người cô, Hồng “im lặng, cúi đầu xuống đất, lòng thắt lại, khóe mắt cay cay”, có lúc “nước mắt tôi đã ròng ròng…” khi người mẹ xiết mãi nỗi đau ấy. Ngay cả lúc bất ngờ gặp mẹ, nỗi mừng của Hồng cũng chứa cái tủi, khiến chú “òa lên khóc, rồi cứ thế nức nở” trong lòng mẹ.

Một chuỗi ngày nén yêu thương, tủi hờn cũng là chuỗi ngày Hồng khao khát muốn gặp mẹ. Nỗi khao khát ấy thể hiện rõ trong bước chạy “ríu cả chân lại” của chú bé. Nỗi khao khát ấy khiến chú bé hình dung đến sự tuyệt vọng ghê gớm của người đi giữa sa mạc gặp ảo ảnh dòng nước, nếu bị nhận lầm dáng mẹ. Cảm giác ấm áp sung sướng tuyệt vời “đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt” khi được trong lòng mẹ, cho ta thấy nỗi khao khát ấy cụ thể, xúc động biết chừng nào.

Phải như bé Hồng trong phút lăn vào lòng mẹ, “được bàn tay mẹ vuốt ve và gãi rôm ở sống lưng cho”, mới cảm thấy hết một nỗi “êm dịu vô cùng” mà chỉ mẹ mới có thể cho ta.

Chúng ta, ít người rơi vào cảnh đời cay đắng ấy, vì có mẹ chăm sóc, che chở. âu yếm. Em cũng may mắn như thế. Chính vì thế mà em cảm thương nỗi đau của thuở nhỏ Nguyên Hồng, nỗi đau của thân phận sống bơ vơ đầy tủi nhục, thèm khát tình thương. Qua tâm trạng của chú bé Hồng, em hiểu hơn những bạn nhỏ vì chiến tranh, vì thiên tai phải mất cha mẹ, họ khổ đau biết chừng nào. Dù xã hội, bà con có cưu mang, nuôi ăn học nhưng làm sao lấp nổi nỗi cô đơn, buồn tủi trong lòng những đứa con xa mẹ, mất mẹ. Nỗi đau ấy đeo đẳng con người suốt một đời. Và cũng suốt một đời, tìm đâu thấy bàn tay quen thuộc vuốt ve âu yếm, lời ngọt ngào, trách mắng mến yêu, ruột thịt chỉ có ở mẹ. Hình ảnh và tâm tư của bé Hồng đã xúc động lòng em, khiến em thấy đầy đủ mọi niềm vui của mình được sống có mẹ là rất quý báu.

Nguyên Hồng là một nhà thơ đã có nhiều những đóng góp lớn trong sự nghiệp văn học, và nhiều tác phẩm của ông đã để lại những giá trị to lớn cho người đọc, tiêu biểu đó là trong tác phẩm trong lòng mẹ tác giả đã thể hiện rõ và chi tiết được nhân vật bé Hồng.

Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng đã kể lại những hình ảnh và chi tiết đặc sắc trong tình yêu thương của cậu bé đối với mẹ của mình, những hình ảnh được đan xen trong tác phẩm đã thể hiện được rõ ràng và chi tiết trong tác phẩm của mình, những hình ảnh đó đã để lại cho chúng ta những người đọc tác phẩm có những suy nghĩ sâu sắc và vô cùng thấu hiểu về nhân vật Hồng, nhân vật Hồng đã để lại nhiều cảm xúc trong lòng người đọc, từ một cậu bé rất đáng thương cha mất sớm, chỉ sống với người mẹ của mình nhưng rồi hoàn cảnh đưa đẩy, mẹ cậu là một người cũng phải chịu nhiều đau đớn, một cuộc đời của Hồng và mẹ trải qua những đau đớn khi cha của Hồng mất đi, mẹ Hồng bị mọi người ruồng bỏ, nhưng rồi không chịu được những áp lực gia đình nhà chồng mà mẹ Hồng đã phải bỏ nhà ra đi nơi khác kiếm sống bỏ lại Hồng ở lại đây.

Hình ảnh đó đã làm cho Hồng đau đớn khi người mẹ của mình không còn ở bên cạnh mình nữa, những đau đớn khi phải xa người mẹ của mình, nhưng rồi cậu cũng thấu hiểu hiểu được tình yêu của mình dành cho mẹ là vô bờ bến, những đau đớn mà mẹ phải gặp phải thật xót xa những hình ảnh đó đã làm cho cậu bé này có thêm động lực sống, ngày qua ngày Hồng sống với bà cô độc ác, bà ta dùng những lời nói làm cho trái tim của cậu bé này thật đau đớn xót xa, những hình ảnh đó đã mang trong cậu những hoài niệm lớn khi tình yêu mà cậu dành cho người mẹ của mình không có gì có thể thay đổi được, những đau đớn đó làm cho Hồng tủi hổ hơn, nhiều những chi tiết mà thể hiện được tấm lòng của Hồng đối với mẹ là vô cùng lớn lao, nhưng điều đó đã tác động sâu sắc đến con người của Hồng.

Những lời nói chua cay độc ác, nhằm tác động đến cậu bé này là người mẹ của cậu rất xấu thì cậu lại chỉ đau đớn và xót xa cho những hoàn cảnh như vậy, tình yêu thương của cậu với mẹ của mình không chỉ vì mấy lời nói độc ác của bà cô mà có thể thay đổi được, nỗi đau mà cậu bé phải đối mặt đó là những lời hỏi của bà cô: Hồng mày không vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày sao, mẹ mày bây giờ giàu có lắm không còn như trước đau, những lời cặn hỏi đó đã làm cho Hồng thêm đau đớn xót xa những nỗi xót xa đó tác động sâu sắc đên Hồng, một cậu bé nhưng đã mang trong mình những trái tim sắt đá những nỗi niềm đó khắc họa sâu sắc qua con người của Hồng, những hình ảnh đó tác động lớn đến những nỗi niềm sâu thẳm nó mang trong trái tim cậu bé này những hoài niệm và đau thương cho người mẹ của mình, cậu hiểu được tại sao người mẹ phải ra đi, những đau đớn này đã rày xé lấy tâm hồn của cậu.

Cậu bé đã thấu hiểu được những gì mà mẹ mình đã phải trải qua, giờ đây khi cậu đã đủ để hiểu được những điều đó thì những lời nói của bà cô độc ác đó không làm cho cậu ngừng thương nhớ và yêu quý người mẹ của mình, những hành động của bà cô chỉ làm cho cậu thấu hiểu được mẹ mình thật đáng thương, những hành động đó đã cho thấy cậu là một người con vô cùng có hiếu yêu thương mẹ của mình, những điều đó đã tạo nên những điều rất tuyệt vời và vô cùng đáng quý. Nhiều những hình ảnh khác cũng thể hiện rất chi tiết và rõ những điều đó, những mong muốn mà tác giả đã thể hiện mang những hình dáng của những tấm lòng vị tha bao dung và thấu hiểu được tấm lòng của người mẹ.

Khi Hồng luôn mong nhớ về người mẹ của mình, cậu tin rằng mẹ mình sẽ trở lại, điều đó thật đúng khi trái tim của người con lúc nào cũng hướng tới mẹ, một trái tim của người con đã thấu hiểu được những điều mà mẹ mình đã phải làm để có một cuộc sống tốt hơn, trong chi tiết tác giả nhìn thấy mẹ mình mờ ảo từ xa, nhưng trực giác đó thật đúng, khi cậu nhìn thấy mẹ mình thì đó là những điều rất tuyệt vời, những điều đã để lại bao nhiêu những rung động thiết tha bởi trong trái tim của Hồng mẹ sẽ quay trở lại, khi nhìn thấy mẹ cảm xúc của Hồng đã thay đổi, Hồng hiểu được những nỗi đau đó của mẹ mình, những nỗi đau đó thầm kín và sâu sắc thấm đẫm trong lòng của người con này, chạy ra ôm mẹ trái tim nghẹn đứng.

Hình ảnh đó đã đủ để chúng ta thấy được những điều rất lớn lao trong tâm hồn của người, chi tiết đã thể hiện được điều đó là những hành động và nó vang vọng đến tâm hồn của người, những hành động của một người có nhiều yêu thương, tình cảm của Hồng đối với mẹ mình là vô bờ bến nó mang dáng vóc của một con người có trái tim nồng hậu và thấu hiểu.

Trong lòng mẹ đã thể hiện rõ tình cảm của cậu bé Hồng đối với người mẹ của mình, những hình ảnh đó đã thể hiện Hồng là một người có tấm lòng yêu thương mẹ của mình vô bờ bến, và bao dung nhân hậu trước hoàn cảnh sống khó khăn.

Trong suốt cuộc đời viết văn của mình, nhà văn Nguyên Hồng đã gặt hái được rất nhiều thành công. Nhưng chính bởi tác phẩm “Những ngày thơ ấu” viết khi ông tròn 18 tuổi, đã đưa ông bước vào làng văn một cách chững chạc và quả quyết. Tác phẩm chính là một tập hồi kí về cuộc đời đầy đau khổ, sóng gió của nhà văn.

Bằng cách dẫn chuyện tài tình, tác giả đưa ta đến với gia đình bé Hồng, một gia đình rất giàu có. Bằng chứng là vào ngày sinh của chú bé, rất nhiều vị có máu mặt đến chúc mừng. Đồ lề, đồ mừng chật ních cả nhà. Tưởng rằng bé Hồng sẽ mãi sống trong cảnh giàu sang, sung sướng, nhưng ngờ đâu cuộc đời em chìm ngập trong đau thương, khổ ải. Có lẽ bất hạnh lớn nhất đối với Hồng là việc cha mẹ em lấy nhau chỉ vì ép buộc, không có hạnh phúc. “Sự trái ngược cay đắng đó tôi đã hiểu rõ rệt và thấm thía ngay từ năm tôi lên bảy, lên tám “. Chính em cũng phải nói thế là gì! Còn cay đắng, xót xa nào hơn khi đứa con biết “người mẹ thỉnh thoảng lại mỉm những nụ cười êm ấm, dịu dàng” nhưng trong lòng thì “luôn luôn giá buốt, đau đớn, phiền muộn”. Trong cuộc sống từ bé của Hồng, tình cảm gia đình đã có cái gì đó gượng ép, cha mẹ sống với nhau mà hầu như không có tình cảm, tất cả chỉ vì đứa con chung, chính là Hồng. Và cũng ngay từ bé, Hồng đã nghe những lời đồn không mấy tốt đẹp về mẹ. Việc mẹ đẻ em Quế với ông cao H chứ không phải với thầy. Tất cả những chuyện như thế, không phải ai khác mà chính những người trong gia đình đã gây nên ngọn lửa tò mò trong em. Để đến nỗi trong suốt một thời gian dài Hồng phải sống trong sự dằn vặt, phân vân, không biết ai đúng, ai sai. Rồi khi gia đình sa sút vì cái bàn đèn của bố Hồng, gia đình đã quyết định bán nhà. Tuy rằng đó là một sự mất mát lớn, nhưng Hồng là một chú bé rất giàu tình cảm. Những lời nói ngây thơ của em: “Để con đi học rồi con xây lại nhà cho bà” đã phần nào làm bớt không khí nặng nề, u ám đang bao trùm lên gia đình. Góp phần vào đấy là khánh kiệt đến cực độ của gia đình Hồng. Mẹ thì buôn bán thua lỗ, thầy thì nghiện thuốc phiện, ngày ngày phải sống ăn bám vào vợ. Vậy đấy! Cái cuộc sống tưởng như sung sướng, nhàn hạ của bé Hồng, giờ trở nên nghèo túng, thiếu thốn. Không những thiếu thốn về mặt sinh hoạt, vui chơi, mà em còn thiếu một gia đình ấm cúng, thực sự trở thành chỗ dựa vững chắc cho tuổi ấu thơ của em. Người cha, chỗ dựa của cả gia đình, nay lại nghiện ngập, hút xác, sống ăn bám. Khốn nạn đến nỗi phải cướp tiền của Hồng để mua thuốc hút, thì không còn lời nào mà nói nữa. Thử hỏi rằng ai mà không xấu hổ, đau đớn khi có một người chồng, một người cha như vậy! Cuối cùng, thì cha Hồng, cả đời sống tối tăm, u uất, nay đã chết trong nghèo nàn, nghiện ngập. Người mẹ khao khát yêu thương đành phải chôn vùi tuổi thanh xuân trong cuộc hôn nhân không lối thoát nay đã vùng lên, chạy thoát khỏi sự cổ hủ của lễ giáo phong kiến đè nặng lên cuộc đời mình, bà đi vào Thanh Hóa, bỏ lại bé Hồng bơ vơ, côi cút giữa sự ghẻ lạnh của những người họ hàng giàu có. Hồng phải chịu những lời lẽ cay nghiệt, xấu xa từ phía họ nội. Hoàn cảnh bắt buộc phải trở thành đứa trẻ lêu lổng, đói rách, luôn khao khát một cuộc sống, một yêu thương đích thực. Vậy mà cái mong muốn đơn thuần, giản đơn ấy mãi mãi không thực hiện được. Đối với Hồng, cái cảnh của nhà thờ đêm Nô-en không có cho em, cho những con chiên bé nhỏ tìm sự che chở, ban phước của Chúa, mà dành cho những ông Tây, bà đầm, những chức dịch, những kẻ quyền quý, khệnh khạng và bệ vệ. Khó khăn lắm em mới lên được vào, để có thể nhìn thấy bàn thờ. Rõ ràng cái xã hội thối tha bẩn thỉu ấy không phải là chỗ đứng của em. Nhưng biết sao được! Chúa đã ấn định cho cuộc đời Hồng một vực thẳm tối tăm, vô đáy.

Cái vực thẳm ấy sẵn sàng nhấn chìm em, nếu em có một phút lỡ làng, quên đi bản chất hồn nhiên ngây thơ, chân thật của mình.

Nếu trong cuộc nói chuyện với bà cô, Hồng đã phải đau đớn, giằng xé bao nhiêu thì nay em lại được đền bù bấy nhiêu. Đấy là sự trở về của mẹ Hồng. Bằng những trực giác hết sức tinh tế nhạy bén của mình, thêm vào đó là những tình cảm nồng nàn Hồng dành cho mẹ, em đã phát hiện rất chính xác người ngồi trên xe kéo là mẹ mình. Nhưng do quá sung sướng, bất ngờ nên Hồng nghĩ “mình đã lầm”. Vậy nhưng em vẫn cất tiếng gọi một cách bối rối: “Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!”.

Đến đây, ngay cả người đọc cũng hồi hộp và mừng thầm thay cho em. Nếu người đó là mẹ Hồng thì em đã được đền bù thích đáng sau bao ngày sống khốn khổ, bơ vơ. Nhưng nếu không phải thì còn thất vọng nào cho bằng. Chính em cũng nói lên điều đó. Thực sự em nhầm lẫn thì khác nào người bộ hành đi giữa sa mạc mênh mông bắt gặp ảo ảnh của bóng râm và dòng suối. May mắn thay đó chính là mẹ Hồng. Hình ảnh em hồng hộc chạy theo xe tay, đến nơi thì khóc lên nức nở chứng tỏ em rất nhạy cảm. Em tủi thân lắm nên tiếng khóc nghẹn ngào mới bật ra khi gặp mẹ. Đồng thời đó còn là tiếng khóc sung sướng, vỡ òa ra. Và khi nhà văn nói lên tâm trạng của em: “Nhận ra mẹ không còm cõi xơ xác quá như lời cô tôi nói” chúng ta mới vỡ lẽ rằng dù sao Hồng vẫn còn là một đứa trẻ. Em bảo vệ, bênh vực mẹ là thế, nhưng em vẫn chịu ảnh hưởng của lời nói độc địa từ bà cô. Em vẫn nhận rằng mẹ không đến nỗi như cô nói chứng tỏ phần nào em cũng tin những thông tin kia. Nhưng do lúc ấy, niềm sung sướng choáng ngợp tâm trí em nên em có thể quên ngay những lời đồn đại xấu xa về mẹ. Hồng lúc ấy chỉ là một chú bé con, trở về trong lòng người mẹ yêu dấu, rất thơ ngây và trong trắng. Em thực sự phải được hưởng niềm hạnh phúc lớn lao ấy bởi con người, tâm hồn em đích thực là một vì sao lạc lõng, nhỏ bé nhưng sáng chói giữa bầu trời bao la.

Qua toàn bộ tác phẩm, nhất là ở Chương IV, chúng ta có thể học tập được rất nhiều đức tính ở bé Hồng. Mặc dầu lớn lên trong một hoàn cảnh rất khắc nghiệt nhưng Hồng vẫn đấu tranh cho cuộc sống của mình, đấu tranh cho những gì mà mình thấy là lẽ phải, là hợp đạo lí. Chắc chắn sau này hình ảnh cậu bé đáng yêu và đáng thương này mãi ngời sáng trong tâm hồn chúng ta.

Tình cảm gia đình, tình cảm mẫu tử luôn là thứ tình cảm thiêng liêng, bất diệt trong lòng mỗi chúng ta. Trong văn học có biết bao người phụ nữ sẵn sàng hi sinh, đánh đổi tất cả vì con cái, nhưng đồng thời cũng có những người con yêu thương, bảo vệ mẹ hết lòng. Người con hiếu thảo, giàu tình yêu thương ấy chính là chú bé Hồng trong trích đoạn Trong lòng mẹ của nhà văn Nguyên Hồng.

Để hiểu về tình cảm Hồng dành cho mẹ, chúng ta cũng cần tìm hiểu sơ qua về hoàn cảnh sống của Hồng. Hồng trước đây sống trong gia đình trung lưu, đủ đầy về tiền bạc nhưng lại thiếu tình yêu thương. Cha nghiện thuốc phiện, tiêu tốn tài sản rồi qua đời, mẹ bỏ đi để Hồng ở lại với bà cô cay nghiệt, đầy những rắp tâm xấu xa, hàng ngày tiêm nhiễm những điều không tốt vào cậu bé Hồng.

Tình yêu thương của bé Hồng dành cho mẹ trước hết là ở sự kiên định trong tình yêu thương trước những lời gièm pha, xúc xiểm của bà cô. Những lời bà cô nói như ngàn nhát dao đâm vào trái tim non nớt, nhỏ bé của Hồng. Hai tiếng em bé kéo ra thật dài, rồi lời hỏi han: “Hồng ! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không?” rồi lời mắng: “Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy tiền tàu cho. Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa và thăm em bé chứ”. Những lời nói tưởng là quan tâm đến cậu bé nhưng thực tế lại chỉ làm cho trái tim non nớt của cậu đau nhói. Hồng cố gắng kím nén cảm xúc bản thân để cho bà cô không đạt được mục đích của mình. Không chỉ vậy cậu còn kiên định, quả quyết rằng: “Thế nào cuối năm mợ cháu cũng về”. Cậu nói ấy như một hành động đanh thép đập tan nhưng suy nghĩ, hành động xấu xa của bà cô. Đồng thời cũng là một minh chứng cho tình yêu thương, niềm tin sâu sắc Hồng dành cho mẹ.

Hồng thương mẹ, thương mẹ rất nhiều, nhưng cũng giận mẹ, bỏ đi biệt xứ, để lại mình Hồng ở đây phải chống trọi lại người cô độc ác, cay nghiệt. Đỉnh điểm của tình yêu thương đó, trong suy nghĩ ngây thơ mà rất đỗi chân thành của Hồng, em đã ước “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Hình ảnh so sánh vô cùng đặc sắc, so sánh cổ tục phong kiến bảo thủ với những vậy hữu hình: đầu mẫu gổ, thủy tinh,. để có những hành động hết sức quyết liệt: vồ, cắn, nhai, nghiến cho kì nát vụn. Mong ước ấy của Hồng một lần nữa khẳng định tình yêu thương sâu nặng em dành cho người mẹ bất hạnh của mình.

Tình yêu thương mẹ của bé Hồng được thể hiện đặc biệt rõ khi cậu gặp lại mẹ. Hồng đã từng có lần đau đớn nghĩ rằng: “Mợ, ơi! Con khổ quá mợ ơi, giá ai cho tôi một xu nhỉ, chỉ một xu thôi để tôi mua một năm xôi hay một chiếc bánh khúc ăn cho đỡ đói.”. Đó là những tâm sự thấm đẫm nước mắt của một cậu bé nhỏ người mà tâm hồn đã già dặn. Và bao nhiêu đau đớn, tủi cực đã được bù đắp trong giờ phút gặp lại. Hai mẹ con mừng mừng, tủi tủi, gặp nhau. Hồng chạy nhanh tới, hơi thở hồng hộc, trán đẫm mồi hôi, cả hai chân níu lại, mừng rỡ, sung sướng đến cực điểm trèo lên xe mẹ. Nếu người quay lại ấy không phải mẹ, có lẽ sẽ là điều đau đớn, cơ cực nhất trong cuộc đời: “Và cái lầm đó không những làm tôi thẹn mà còn tủi cực nữa, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc”. Hình ảnh so sánh gợi cảm, chính xác khi lấy hình ảnh người bộ hành đi giữa sa mạc để so sánh với tình yêu thương mãnh liệt Hồng dành cho mẹ. Hình ảnh dòng suối là một ví von đặc sắc cho thấy mẹ chính là dòng nước trong xanh và mát lành làm dịu mát những nỗi cay đắng trong cuộc đời con.

Ngồi kề bên mợ, Hồng lúc này mới sụt sùi và khóc nức nở. Cũng chính trong lúc được kề sát vào lòng mẹ Hồng mới thấy rằng mẹ không giống những lời bà cô nói. Mẹ vẫn xinh đẹp, tươi sáng, hai gò má ứng hồng, mẹ vẫn đẹp như thuở còn sung túc. Được mẹ ôm ấp vào lòng, Hồng mới cảm nhận được tất cả niềm hạnh phúc mà mỗi đứa con được cảm nhận trong cuộc đời: “Phải bé lại lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay của người mẹ vuốt ve, gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”.

Đoạn trích Trong lòng mẹ, với ngôn từ giản dị, hình ảnh so sánh đặc sắc, giọng văn trữ tình tình cảm, là một minh chứng điển hình cho tình mẫu tử bất diệt. Tình cảm thiêng liêng, cao cả ấy lay động đến hàng triệu trái tim và như một lời nhắc nhở đến mỗi người con phải luôn biết yêu thương và kính trọng cha mẹ.

Viết về đề tài phụ nữ và trẻ em có lẽ nhà văn Nguyên Hồng là một tên tuổi đáng chú ý. Ông đã có nhiều tác phẩm viết về đề tài này, trong đó có hồi kí “Những ngày thơ ấu”. Đặc biệt đoạn trích “Trong lòng mẹ” đã làm nổi bật số phận cay đắng và tình cảm mãnh liệt của Hồng đối với mẹ của mình.

Nói đến hoàn cảnh của Hồng thì thật tội nghiệp. Hồng sinh ra và lớn lên trong gia đình không mấy hạnh phúc. Khi cha mất thì mẹ Hồng đi tha hương cầu thực để lại Hồng ở lại trước sự ghẻ lạnh của hàng xóm. Dù hoàn cảnh của đứa cháu đáng thương như vậy nhưng bà cô của Hồng không hề yêu thương cậu. Mặc dù là cô ruột nhưng bà ta không hề thương Hồng mà luôn cố ý chia rẽ tình cảm mẹ con Hồng.

Một lần, trong cuộc trò chuyện với bà cô, chú bé Hồng đã rất đau khổ khi người cô nói đến mẹ của mình. Hồng biết rằng sau lời nói tươi cười quan tâm đó người cô không hề có ý tốt nào cả. Khi cô hỏi Hồng có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ không? Hồng chỉ rớt nước mắt nhớ đến mẹ. Hồng nhớ đến gương mặt rầu rầu và sự hiền từ của mẹ. Biết được ý nghĩ xấu xa của cô mình Hồng đã trả lời: “Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào Mợ cháu cũng về”. Khi cô người nói với giọng ngọt xớt: “Mợ mày phát tài lắm có như dạo trước đâu”, lòng cậu thắt lại, khóe mắt cay cay. Hồng thương mẹ vất vả, lam lũ. Người cô nói tiếp “vào mà bắt mợ mày mua sắm quần áo cho và thăm “em bé” thứ”. Hai tiếng “em bé” kéo dài khiến nước mắt Hồng chảy ròng ròng, cười dài trong tiếng khóc. Khi người cô tươi cười kể về người mẹ đáng thương của mình thì cổ họng Hồng như nghẹn ứ lại khóc không ra tiếng. Cậu ước rằng giá như những cổ tục đang đày đọa mẹ cậu kia là những hòn đá hay mẩu thủy tinh thì cậu sẽ vồ ngày đến mà cắn, mà nhai mà nghiến, cho kì vụn nát. Trong cuộc trò chuyện này, ta thấy Hồng đã bộc lộ tình yêu thương mẹ, thương mẹ vất vả, nhớ về người mẹ đáng thương của mình.

Tình cảm mãnh liệt của chú bé được biểu hiện cụ thể khi ngồi trong lòng mẹ. Đó là buổi tan học, thấy dáng dấp của người phụ nữ đang ngồi trên xích lô giống mẹ mình. Hồng đã chạy và đuổi theo mẹ gọi: “Mợ ơi! Mợ ơi!..” Khuôn mặt Hồng lúc đó trán ướt đẫm mồ hôi, Hồng ríu cả chân lại nhảy lên và khóc nức nở. Lúc này, khi được ngồi trong lòng mẹ, Hồng đã sung sướng vô cùng ngắm kĩ gương mặt mẹ “Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má”. Hồng cảm nhận được sự ấm áp mà bấy lâu nay cậu không thấy. Hồng sung sướng vô cùng và quên đi những lời nói cay độc của bà cô.

Nguyên Hồng đã xây dựng hình tượng chú bé Hồng chịu những khổ đau tủi cực những xen lẫn với bao hạnh phúc khi ngồi trong lòng mẹ. Chúng ta cảm phục Hồng khi đã quên được những định kiến về mẹ của mình để hưởng được hạnh phúc trọn vẹn khi ngồi trong lòng mẹ.

Trong lòng mẹ là chương IV của tập hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng với tấm lòng yêu thương mẹ thật tha thiết, hồn nhiên, mãnh liệt trong đoạn trích.

Chương IV của tác phẩm đã miêu tả một cách sinh động “những rung động cực điểm của một tâm hồn trẻ dại” (Thạch Lam) đối với người mẹ, đã bộc lộ sâu sắc lòng yêu thương mẹ của bé Hồng. Hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến, bị trói buộc trong những hủ tục khắt khe từ đó mà đau khổ, bất hạnh triền miên được thể hiện rõ.

Qua tác phẩm, bà mẹ của bé Hồng là người phụ nữ bất hạnh, không hề có hạnh phúc! Bà bị ép gả chồng mà không hề được tự ý lựa chọn theo mơ ước của mình. Càng đau khổ hơn khi chồng bà là người nghiện ngập, bệnh hoạn. Gia đình bên chồng tuy khá giả nhưng ích kĩ, nhiều thành kiến và cổ hủ nên đã ghét bỏ bà. Họa vô đơn chí! Bà góa chồng, gia đình tan nát lại nghèo khó, đành gửi con lại cho gia đình bên chồng để lưu lạc kiếm sống.

Người mẹ tái giá. Gia đình chồng coi đó là hành động tội lỗi nhục nhã vì bà có thai khi chưa hết tang chồng. Bà luôn bị gièm pha, oán trách, mỉa mai. Đến ngày giỗ chồng, cũng như lúc ra đi, bà mạnh dạn trở về để gặp con, ở hai mẹ con lại có những phút giây ngọt ngào êm dịu hiếm hoi.

Như vậy, trước hết ta thấy bà mẹ bé Hồng điển hình cho người phụ nữ xưa, ngoan ngoãn theo thói tục cũ: lấy chồng theo sự lựa chọn của cha mẹ. Xuất giá tòng phu, bà vẫn sống trong khuôn khổ cũ. Khi chồng mất, bà túng quẫn, bà lại “bước đi bước nữa”, đã tự cởi trói cho mình để tìm hạnh phúc cho cuộc đời còn lại của mình. Bà đã thể hiện cá tính mạnh mẽ vượt lên thói tục thông thường để tìm hạnh phúc mới.

Người mẹ phải xa đứa con yêu dấu của mình nhưng lúc nào bà cũng thương nhớ con, đau nhói trong tim khi nghĩ đến cảnh con bà bơ vơ, lạc lõng, bị hắt hủi bên gia đình chồng cũ. Yêu con, bà đã chấp nhận mọi lời dị nghị và cách đối xử ghẻ lạnh để về thăm con trong ngày giỗ đầu chồng cũ.

Ta có thể hiểu vì sao bà bặt tăm, không thư từ thăm hỏi, không quà bánh cho con đến gần một năm trời. Bà không muốn con bà phải nghe những lời đay nghiến, mỉa mai. Gặp lại con, bà xúc động, ôm con vào lòng với biết bao yêu thương và nước mắt. Đó là tình mẫu tử vô biên của một người đàn bà bất hạnh, đắng cay.

Thật xót xa khi cảnh đời thật của người mẹ trong hồi ký của nhà văn lại là cảnh đời tiêu biểu cho người phụ nữ việt Nam thời xưa. Lễ giáo phong kiến, hủ tục khắt khe chỉ tạo thêm những dòng lệ thảm cho cuộc đời vốn bất hạnh của người phụ nữ. Mẹ bé Hồng là người dám thoát ra để vươn tới một hạnh phúc, một cuộc sống hợp lí tốt đẹp hơn.

Qua hồi kí về tuổi thơ nhiều cay đắng của Nguyên Hồng, ta hiểu thêm về phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại với những hoàn cảnh thương tâm và ước mơ chân chính, với lòng thương con đậm đà, tha thiết. Nội dung cơ bản của đoạn trích cũng toát lên từ chương hồi kí này là nỗi cay đắng uất nghẹn và tình thương yêu vô bờ bến của bé Hồng đối với người mẹ nhân từ, tần tảo mà cuộc đời chịu nhiều bất hạnh.

Có hai sự kiện đã hóa thành kỉ niệm không thể phai mờ được nhà văn kể lại, ghi lại. Thứ nhất là cuộc trò chuyện của bé Hồng với bà cô; thứ hai là mẹ bé Hồng trở về, cuộc gặp gỡ đầy nước mắt, đầy niềm vui và hạnh phúc. Nhớ lại cuộc trò chuyện với bà cô tức là nhà văn nhớ lại cảnh côi cút của một đứa bé và cảnh ngộ thương tâm của người mẹ hiền từ. Cha bé Hồng mất chưa đầy một năm. Mẹ bé Hồng trở thành người đàn bà bị cái tội bước đi bước nữa, nên bị gia đình chồng ruồng rẫy.

Vì “cùng túng quá” trong cái xã hội đầy thành kiến và hủ tục độc ác, người mẹ khốn khó ấy phải bỏ con đi tha phương cầu thực. Thế là bé Hồng mất cha, lại xa mẹ phải sống nhờ họ hàng, bị hắt hủi tàn nhẫn. Đã một năm, bé Hồng không nhận được thư, không lời thăm hỏi hay một đồng quà của mẹ, bé Hồng nhớ thương mẹ, nhiều khi rơi nước mắt.

Cuộc trò chuyện với bà cô là kỉ niệm không thể quên về một nỗi đau uất nghẹn mà tuổi thơ Nguyên Hồng đã trải qua. Nỗi đau sâu xa của bé Hồng không chỉ là xa vắng mẹ mà còn là nỗi đau xé lòng khi đang nhớ thương mẹ, lại phải nghe những lời nói xấu cay nghiệt về mẹ. Ác ý của người cô bộc lộ rất rõ. Giọng của bà cô lúc ngọt lúc nghiêm nghị tỏ ra ngậm ngùi thương xót. Nhưng thực ra, lời nói của bà như khoét sâu vào nỗi đau của đứa bé tội nghiệp.

Bé Hồng nhận rõ nét mặt khi cười rất kịch của bà cô. Rắp tâm của bà là gieo rắc vào đầu óc đứa cháu những hoài nghi để nó khinh miệt và ruồng rẫy mẹ nó nhưng bé đinh ninh đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị rắp tâm tanh bẩn xâm phạm ngay đến. Tuy còn bé, rơi vào hoàn cảnh éo le như thế, Hồng đã sớm khôn ngoan, cố gắng giấu kín ý nghĩ và tình cảm của mình đối với bà cô. Nhưng cũng vì giấu kín nên nỗi đau và uất nghẹn ấy càng bùng nổ dữ dội.

Nỗi đau khổ sâu xa của chú bé không chỉ là thiếu tình thương mà còn ở chỗ chú thường bị người khác xúc phạm một cách độc ác về mẹ chú. Một người đàn bù bị cái tội là góa chồng, nợ nần cùng túng quá, phải đi tha phương cầu thực, xa cả đứa con yêu dấu.

Bằng cử chỉ cùng giọng nói thân tình tự nhiên nhất, bà cô bảo chú bé hãy đi thăm mẹ và “thăm em bé” (con sau của người mẹ). Đấy là những lời đầy dụng ý: hai tiếng “em bé” mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm cơ thể tôi như ý cô tôi muốn.

Chú bé Hồng từ chỗ im lặng cúi đầu đến nước mắt ròng ròng… Cái cười dài trong tiếng khóc đó cho ta thấy nỗi đau đớn tủi cực và cả nỗi căm giận buộc phải nén lại của chú bé sâu sắc biết chừng nào! Không phải là giọt nước mắt xấu hổ, tủi thân mà là giọt nước mắt của tình thương qua ý nghĩ thương mẹ tại sao phải sinh em bé một cách giấu diếm, trốn tránh.

Dường như chưa cho thế là đủ, bà cô còn tươi cười kể cho chú bé nghe rằng mẹ chú ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng ngồi cho con bú ở chợ.. Chưa nghe hết câu chú bé đã nghẹn họng khóc không ra tiếng. Chú đau đớn và vô cùng cảm giận những cổ tục đã đày đọa người mẹ hiền từ đáng thương của mình.

Tình thương yêu mẹ của chú bé khi gặp lại mẹ là cảm giác vui sướng thấm thía tột cùng của chú khi được trở về “trong lòng mẹ”. Đó là một cảm xúc lớn lao, mãnh liệt dâng trào, một cảm giác hạnh phúc tuyệt vời đã xâm chiếm toàn bộ cơ thể và tâm hồn chú bé.

Thoáng thấy bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ mình, chú bé cuống quýt đuổi theo gọi bối rối: “Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!…” Nếu người quay lại ấy là người khác thì thật là điều tủi cực ghê gớm cho chú bé, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc.

Bé Hồng khát tình mẹ như người bộ hành khát nước đến kiệt sức ở sa mạc. Hình ảnh so sánh cực tả nỗi nhớ mong mẹ tới cháy ruột của bé Hồng. Khát khao càng mãnh liệt nên được gặp mẹ, bé Hồng xiết bao hồi hộp, sung sướng! Chú bé thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi và khi trèo lên xe, chú ríu cả chân lại. Biết bao hồi hộp sung sướng, đau khổ toát lên từ những cử chỉ cuống quýt ấy. Và khi được mẹ kéo tay, xoa đầu hỏi thì chú bé òa lên khóc và cứ thế nức nở.

Dường như bao nhiêu sầu khổ dồn nén không được giải tỏa trong chú bé suốt thời gian xa mẹ dài đằng đẵng lúc này bỗng vỡ òa trong tiếng khóc nức nở, tức tưởi của bé Hồng. Trong ánh mắt thương yêu của đứa con mong mẹ, mẹ chú hiện ra xiết bao thân yêu, đẹp tươi: vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má.

Chú bé cảm thấy ngây ngất sung sướng tận hưởng cảm giác khi được sà vào lòng mẹ, cảm giác mà chú đã mất từ lâu. Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Chú bé còn cảm nhận thấm thía hơi mẹ vô cùng thân thiết đối với chú: Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường.

Dường như tất cả các giác quan bé Hồng đều thức dậy và mở ra để tận hưởng cái êm dịu vô cùng của người mẹ. Trong những giây phút say sưa và rạo rực ấy, bé Hồng không nhớ gì, không nghĩ gì, kể cả những lời âu yếm mẹ con nói với nhau, lẫn câu nói cay độc của bà cô hôm nào. Sự xúc động, tình thương yêu của bé Hồng thật sinh động, nồng thắm.

Tình thương mẹ là nét nổi bật trong tâm hồn bé Hồng. Nó mở ra trong mắt ta cả một thế giới tâm hồn phong phú của bé. Thế giới ấy lấp lánh ánh sáng nhân đạo, luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên.

Tình thương mẹ đã cho bé Hồng một cái nhìn sắc bén đối với con người và sự việc ngoài đời. Tình thương ấy không gì có thể cản ngăn, chia cắt được và ngày càng trở nên thắm thiết nồng nàn. Qua đó, ta càng hiểu và yêu mến bé Hồng, hiểu sâu hơn tình mẫu tử thiêng liêng. Hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng trở thành một áng văn nghệ thuật, vừa có tầm vóc tư tưởng lớn lao, vừa thể hiện chân thật “rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”

Trong lòng mẹ được trích trong cuốn Những ngày thơ ấu là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyên Hồng. Tác phẩm không chỉ cho thấy số phận cơ cực bất hạnh của chú bé Hồng mà trên hết còn cho thấy tình thương sâu sắc cậu dành cho mẹ. Trong lòng mẹ là trích đoạn phản ánh đầy đủ những nội dung, tình cảm ấy.

Trước hết Hồng là một đứa trẻ có tuổi thơ bất hạnh. Hoàn cảnh của Hồng hết sức đáng thương: cha mất, mẹ bỏ đi tha hương cầu thực. Đến gần ngày giỗ đầu của cha vẫn chưa thấy mẹ về. Cậu phải sống cùng họ hàng trong sự khinh ghét, ghẻ lạnh của mọi người. Hồng luôn sống trong sự thiếu thốn tình yêu thương.

Đáng thương hơn nữa, sống trong hoàn cảnh như vậy, Hồng còn nhiều lần bị bà cô dùng những lời lẽ độc địa để đay nghiến, hạ nhục mẹ của cậu. Quả thực, số phận của Hồng hết sức bất hạnh, thương cảm. Nhưng cậu là người có tình yêu thương mẹ mãnh liệt. Đầu tiên được thể hiện trong cuộc đối thoại với bà cô.

Cuộc đối thoại này chẳng khác gì cuộc chiến tranh không cân sức: bà cô dùng những lời lẽ, hành động (vỗ vai, kéo dài tiếng em bé, đôi mắt sắc lạnh) liên tiếp tấn công bé Hồng. Bé Hồng yếu ớt, tội nghiệp chống trả lại những lời của bà cô. Những lời đó như con dao khứa vào tâm hồn non nớt, đáng thương của bé Hồng.

Tình yêu thương mãnh liệt đối với mẹ được thể hiện qua suy nghĩ, cảm xúc của Hồng khi trả lời người cô. Trước những lời nói rất “kịch” bé Hồng nhận ra ngay sự giả dối trong suy nghĩ, hành động của bà cô. Điều này được thể hiện rõ trong các chi tiết: “nhận ra những ý nghĩ cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch” của người cô, cậu bé hiểu rằng “nhắc đến mẹ tôi, cô tôi chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi”.

Nhưng tất cả những lời mỉa mai, cay độc đó cũng không thể làm xấu đi hình ảnh người mẹ trong lòng bé Hồng. Ngược lại càng làm tình yêu đó bùng cháy, mãnh liệt hơn “đời nào tình yêu thương và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến”. Mặc dù kiên quyết bảo vệ mẹ trước những lời lẽ thâm hiểm của bà cô, nhưng cậu bé vẫn giận mẹ, bởi “căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở một cách giấu giếm”.

Và tình yêu đó được đẩy lên một mức cao hơn nữa qua hình ảnh so sánh đặc sắc: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Chỉ với câu văn ngắn tác giả tách làm nhiều vế, sử dụng các động từ mạnh theo hình thức tăng tiến: cắn, nhai, nghiến những hủ tục phong kiến, qua đó đã cho thấy tình yêu thương mẹ mãnh liệt của bé Hồng.

Tình yêu thương đó dâng trào hơn nữa khi cậu bất ngờ gặp lại mẹ. Bóng dáng mẹ sao cậu có thể quên, vậy mà trong vô thức ám ảnh cậu vẫn nghi ngờ đó không phải là mẹ. Nhưng cậu vẫn chạy đuổi theo, và nghĩ: “Nếu người quay lại ấy là người khác thì thật là một trò đùa tức cười cho lũ bạn. Và cái lầm đó không những làm tôi thẹn mà còn tủi cực nữa, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc”.

Và niềm tin, sự khao khát gặp lại mẹ của cậu đã được đền đáp, người đàn bà trên xe ấy chính là mẹ của cậu. Cậu lập cập, bối rối, vội vã thở hồng hộc, chạy theo xe mẹ, và khi mẹ kéo tay, xoa đầu hỏi thì “tôi òa lên khóc rồi cứ thế nức nở”. Đây là giọt nước mắt của niềm vui, sự hạnh phúc, khi được nằm trong lòng mẹ, đùi áp vào đùi mẹ, được cảm nhận hơi thở thân thương phả ra từ khuôn miệng xinh xắn của mẹ.

Những lời lẽ của bà cô về mẹ xơ xác, còm cõi cậu không thấy mà vẫn thấy mẹ như xưa, gương mặt tươi sáng, đôi mắt trong, hơi thở thơm tho lạ thường,. và từ giây phút ấy Hồng lâng lâng trong cảm giác được gặp lại mẹ, bao lời nói, ý nghĩa cay độc bà cô cố công tiêm nhiễm vào đầu giờ đã tan biến hết cả, chỉ còn lại tình mẫu tử thiêng liêng.

Tác phẩm không chỉ xuất sắc về mặt nội dung mà có hấp dẫn ở nghệ thuật. Tác giả sử dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật: so sánh, liệt kê, tăng tiến,.. cho thấy tình yêu thương mẹ mãnh liệt, tha thiết của bé Hồng. Không chỉ vậy, nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật cũng rất đặc sắc, mỗi nhân vật thể hiện tính cách riêng qua suy nghĩ, hành động.

Đây là tác phẩm thấm đẫm chất trữ tình: tình huống truyện chứa đầy cảm xúc: bé Hồng gặp lại mẹ sau bao lâu xa cách; nội dung câu chuyện cũng đậm chất trữ tình: cảnh ngộ đáng thương, éo le của mẹ và bé Hồng đã gieo vào lòng người đọc những cảm xúc mạnh mẽ; ngôn ngữ kể chuyện giàu cảm xúc kết hợp hài hòa giữa kể và bộc lộ cảm xúc.

Bằng ngôn ngữ trần thuật tha thiết, giàu tình cảm, tác phẩm đã cho thấy tình yêu thương mãnh liệt của bé Hồng dành cho mẹ trong hoàn cảnh éo le của cuộc sống. Tình mẫu tử là mạch nguồn sâu thẳm trong mỗi con người, không có yếu tố, tác nhân nào có thể giết chết tình cảm thiêng liêng ấy.

Năm 1937, trong bài thơ “Mồ côi”, Tố Hữu có viết:

Một năm sau, trên tuần báo Ngày nay, hồi ký “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng ra mắt bạn đọc. Nhân vật bé Hồng trong cuốn hồi kí cũng là một “con chim lon rã cánh.”. Bố nghiện ngập, gia đình sa sút trở nên bần cùng. Bô’ chết chưa đoạn tang, người mẹ trẻ lại chửa đẻ với người ta, “nợ nần quá”, phải bỏ nhà, bỏ quê vào Thanh Hóa kiếm ăn lẩn hổi. Bé Hồng mồ côi, bơ vơ sống trong sự ghẻ lạnh của họ hàng bên nội. Đến trường thì bị thầy giáo phạt quỳ một cách vô lí oan uổng; đêm Nô-en thì bị người ta hắt hủi đuổi ra khỏi nhà thờ, em lủi thủi đi dưới làn mưa gió lạnh lẽo.

Đọc Trong lòng mẹ, ta bắt gặp một bé Hồng rất đáng thương, đáng yêu; trong đau khổ, trái tim thương yêu của em vẫn dành cho người mẹ một cách đằm thắm trọn vẹn.

Mồ côi bố, cái mũ trắng của bé Hồng còn “quấn băng đen”; mẹ tha phương cầu thực mãi chưa về. Sống trong cảnh ăn cơm chực gia đình bên nội, chú còn bị người cô nanh ác, hiểm độc nói xấu mẹ mình. Mẫn cảm và thông minh, bé Hồng đã phát hiện ra “những ý nghĩ cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch” của bà cô tàn nhẫn. Mặc dù đã non một năm, mẹ không gửi cho một lá thư, không nhắn lời hỏi thăm, không gửi cho con một đồng quà nào, nhưng trái tim của em đối với người mẹ đau khổ vẫn trọn vẹn. Bà cô cố ý gieo vào lòng ngây thơ của em “những hoài nghi” để em “khinh miệt và ruồng rẫy mẹ”. Bé Hồng là một đứa con hiếu thảo, cảm thông với cảnh ngộ “góa chồng, nợ nần cùng túng quá phải bỏ con cái đi tha hương cầu thực” của mẹ mình. Em quyết không để “những rắp tâm tanh bẩn ” của bà cô xâm phạm đến “tình thương yêu và lòng kính mến mẹ”.

Bao nhiêu nước mắt của bé Hồng đã chảy xuống trước những lời cay độc của bà cố: “Mợ mày phút lài lắm.”, “vào mà thăm em bé chứ”, mợ mày “ngồi cho con bù ở bân rổ bóng đàn., ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng. người gầy rạc đi.”, gặp người quen thì “quay đi, lấy nón che”. Mỗi lời nói và giọng cười của bà cô đã làm cho bé Hồng võ cùng tủi nhục, đau đớn. Lúc thì em “cúi đầu xuống đất”, lòng “thắt lại”; khóe mắt “cay cay”. Lúc thì nước mắt “ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ”. Có lúc, cổ họng em “nghẹn ứ khóc không ra tiếng”. Bé Hồng rất thương mẹ, em đã cảm thông với mẹ chưa đoạn tang chồng mà đã chửa đẻ với người khác. Em không trách mẹ mà “căm lức” sao mẹ vì “sợ hãi những thành kiến càn ác” mà xa lìa đứa con thơ. Lòng thương mẹ của bé Hổng là vô cùng mãnh liệt. Càng thương mẹ bao nhiêu, em càng căm ghét, càng ghê tởm những cổ tục bấy nhiêu: “Giá những cổ tục đã đầy đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”.

Phần đấu chương Trong lòng mẹ, qua nhân vật bà cô độc địa, xấu xa, hình ảnh bé Hồng càng trở nên đáng yêu đáng trọng. Những dòng nước mắt của em chứa chan bao tình thương mẹ, một người mẹ đau khổ mà đôn hậu.

Phần cuối chương Trong lòng mẹ nói lên niềm sung sướng của bé Hồng được gặp lại mẹ hiền sau một năm dài xa cách. Đốn ngày giỗ đầu của bố, em chẳng viết thư cho mẹ thì mẹ cũng về. Thương mẹ nhiều, nhớ mẹ lắm, tin yêu mẹ nên bé Hồng mới có linh cảm khi “chợt thoáng thấy một bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ” mình, liền chạy theo gọi rối rít: “Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!”. Nỗi khát khao gặp mẹ của bé Hồng khác nào người bộ hành giữa sa mạc khao khát một/ dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm“. Như một cành dào dạt niềm vui. Xe chạy chầm chậm. Mẹ cầm nón vẫy con. Con chạy kịp. từ hồng hộc, trán đẫm mồ hôi. Vui sướng cảm động, con trèo lên xe mà “ríu cả chân lại”. Mẹ kéo lay con, xoa đầu con; con “nức nở”, mẹ cũng sùi”. Đã bao lâu rồi bé Không lại được nghe lời yêu thương của mẹ hiền: “Con nhớ dì! Mợ đã về với các con rồi mà’’. Bao cử chì thương trìu mến hòa quyện tình mẹ con. Mẹ “xốc nách” con lên xe, rồi lấy vạt áo nâu “thấm nước măt’ cho con. Con ngắm nhìn gương mặt mẹ. Mẹ “không còm cõi xơ xác ‘ như người cô đã nói. Gương mặt mẹ “vần tươi sáng”, đôi mắt mẹ “trong’’, ‘‘nước da mịn làm nổi bật. màu hồng của hai gò má”. Một mùi “thơm tho lạ thường” phả ra từ quần áo, từ hơi thò ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu của, mẹ.

Từ miêu tả cụ thể những chi tiết, tình tiết của hai mẹ con gặp lại nhau sau một năm dài xa cách, bé Hổng với tâm hồn trong sáng ngây thơ và giàu lòng hiếu thảo, em đã thổ lộ niềm vui sướng hạnh phúc của đứa con được sống Trong lòng mẹ: “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa của người mẹ. mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Sự êm dịu ấy đã được khơi nguồn từ tình mẫu tử bao la. Câu nói ấy của bé Hồng đã đem đến cho ta nhiều chân cảm. Bế Hồng mồ côi. hiếu thảo, rất thương yêu mẹ mới dạt dào chân cảm ấy.

Trong lòng mẹ là những trang hồi ký cảm động. Nhân vật bé Hồng trong đau khổ xa cách mẹ, trong cay đắng khi bà cô nói xấu mẹ, trong niềm vui sướng hạnh phúc tột độ được gặp lại mẹ hiền, được mẹ vỗ về an ủi, đểu sáng bừng lên một trái tim yêu thương thiết tha, chân thành, những “rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại” (Thạch Lam). Giọt nước mắt của bé Hổng là giọt nước mắt của một đứa con hiếu thảo. Trong bi kịch gia đình, bi kịch tuổi thơ, em càng thương mẹ hơn bao giờ hết.

Đoạn văn ghi cảnh bé Hồng gặp lại mẹ là hay nhất, cảm động nhất. Bé Hổng là hình ảnh đáng thương và đáng yêu của bài ca Trong lòng mẹ.

Bên cạnh nhân vật người mẹ mang nhiều nét đẹp, nhân vật chú bé Hồng hiện lên với biết bao suy nghĩ và cảm xúc, cũng thật là đẹp, đáng chia sẻ, đáng trân trọng. Qua nhân vật này, chúng ta không chỉ cảm nhận những cung bậc tâm trạng của một chú bé rất mực tin yêu mẹ mà còn hiểu cụ thể, sâu sắc những nét đặc trưng của thể văn hồi kí, một thể văn đậm chất trữ tình. Chất trữ tình thống thiết của ngòi bút Nguyên Hồng thể hiện bằng lời kể của nhân vật “tôi” (tức bé Hồng) với những diễn biến tâm trạng theo trình tự thời gian trong hai mối quan hệ: quan hệ với bà cô và quan hệ với người mẹ, rất cụ thể.

Khi nói chuyện với bà cô, bé Hồng chịu bao nhiêu đau đớn, uất ức, nhưng vẫn lòng tin yêu mẹ. Nghe lời nói thứ nhất của bà cô, lập tức trong kí ức chú bé sống dậy hình ảnh người mẹ ở nơi xa, cơ cực, vất vả. Từ cử chỉ “cúi đầu không đáp” đến lúc cười và đáp lại: “năm nay thế nào mợ cháu cũng về” là một phản ứng thông minh xuất phát từ sự nhạy cảm và lòng tin yêu mẹ của chú bé. Chú đã nhanh chóng nhận ra ý nghĩa cay độc của lời bà cô và cố gắng giữ vững tình thương yêu và lòng kính mến mẹ. Nhưng vì tuổi thơ non nớt, nên đến lời nói thứ hai, thứ ba của bà cô, lòng chú bé “càng thắt lại, khóe mắt đã cay cay”, rồi “nước mắt ròng ròng, rớt xuống hai bên mép, rồi chan hòa đầm đìa ở cằm, ở cổ..”. Nỗi đau, sự day dứt đã lên đến đỉnh cao. Trong tâm hồn non nớt ấy, diễn ra một mâu thuẫn: “Tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi để sinh nở một cách giấu giếm trốn tránh như một kẻ giết người lúng túng với con dao vấy máu.”. Lời văn, nhất là hình ảnh so sánh thật dữ dội. Tình thương, niềm tin yêu và một chút ngờ vực đối với người mẹ như đang nổi bão, giằng xé trong lòng chú bé. Nhưng chú vẫn cố kìm nén để giữ vững tình yêu và niềm tin. Vì thế, bé Hồng đã “cười dài trong tiếng khóc” hỏi lại bà cô về cái tin sét đánh kia. Nỗi uất ức và đau đớn như chuyển sang trạng thái chai lì, bướng bỉnh. Khi nghe bà cô tươi cười kể lể tình cảnh khốn khổ của mẹ mình thì “cổ họng tôi đã nghẹn ứ, khóc không ra tiếng”. Và ý nghĩa táo tợn bất cần, đầy phẫn nộ đã trào sôi như cơn dông tố trong lòng chú bé: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Lại một câu văn biểu cảm và một hình ảnh so sánh đặc sắc nữa! Nguyên Hồng đã sử dụng các từ cắn, nhai, nghiến..nằm trong một trường nghĩa đặc tả tâm trạng uất ức, căm giận của nhân vật. Đến đây, tình thương và niềm tin đối với mẹ đã xui khiến người con hiếu đễ ấy suy nghĩ sâu hơn, xúc cảm rộng hơn. Từ cảnh ngộ riêng của người mẹ, từ những lời nói kích động của người cô, bé Hồng nghĩ tới những “cổ tục”, căm giận cái xã hội cũ kĩ đầy đố kị, thành kiến độc ác đối với những người phụ nữ gặp hoàn cảnh éo le. Từ câu chuyện riêng của đời mình, Nguyên Hồng đã truyền tới người đọc những nội dung mang ý nghĩa xã hội bằng những dòng văn giàu cảm xúc và có hình ảnh, rất ấn tượng. Qua cuộc đối thoại và những cung bậc cảm xúc của bé Hồng trước bà cô, chúng ta thông cảm với những nỗi đau thấm thía, đồng thời rất trân trọng một bản lĩnh cứng cỏi, một tấm lòng thiết tha của người con rất mực thương và tin yêu mẹ.

Nhờ tình thương và niềm tin ấy, đến khi gặp mẹ, bé Hồng đã nhận được niềm sung sướng, hạnh phúc lớn lao. Như trên ta đã biết, người mẹ của bé Hồng trở về đúng thời điểm quan trọng nhất, đã xua tan mọi đau đớn, dằn vặt trong tâm hồn chú bé. Mới chỉ thoáng thấy một bóng người giống mẹ, chú bé Hồng đã vội vã, bối rối, vừa chạy theo vừa gọi mẹ. Được ngồi lên xe cùng mẹ, chú bé “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở” khiến cho người mẹ cũng “sụt sùi theo”. Ba từ òa, nức nở, sụt sùi cùng trường nghĩa, nối nhau miêu tả các dạng thức đặc biệt của tiếng khóc, của những dòng lệ. Đây là âm thanh, là nước mắt của biết bao nỗi niềm, tâm trạng hai mẹ con: tủi phận, tự hào, bàng hoàng, sung sướng. Cảm giác sung sướng của đứa con khi được ngồi kề bên mẹ, được ôm ấp trong lòng mẹ cứ dâng lên từng giây, từng phút. Trước hết, chú được tận mắt nhìn thấy mẹ, “nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má.”. Có được một người mẹ như thế, chú bé nào chẳng vui sướng, tự hào, huống chi là bé Hồng, đứa trẻ côi cút từng mong gặp lại mẹ đến cháy lòng, cháy ruột, từng phải đấu tranh với người khác cố ý nói xấu mẹ mình, chia rẽ tình mẹ con. Tiếp sau, chú bé được mẹ ôm ấp “đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi..hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở d khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường.”. Chỉ một đoạn văn ngắn mà nhà văn sử dụng dồn đập bao nhiêu động từ, tính từ, nhất là những danh từ cùng trường nghĩa: gương mặt, đôi mắt, nước da, gò má, đùi, đầu, cánh tay, da thịt, khuôn miệng miêu tả vô cùng sinh động niềm hạnh phúc lớn lao tưởng như tới đỉnh điểm của tình mẫu tử. Đây thực sự là những cảm giác “mơn man” ngây ngất, đắm say mà vô cùng êm dịu của quan hệ máu mủ, ruột thịt mà những đứa trẻ bất hạnh không dễ gì có được. Nhà văn đã dựng lại một bức tranh tràn ngập ánh sáng, đường nét rõ ràng, hài hòa, trong đó là những sắc màu tươi tắn, thoang thoảng hương thơm. Đó là một hình ảnh về một thế giới đang bừng nở, hồi sinh, một thế giới dịu dàng kỉ niệm, ăm ắp tình người. Sống trong thế giới đó, chú bé Hồng bồng bềnh trôi trong cảm giác sung sướng, rạo rực, ru mình trong tình mẹ dịu êm, tự hào, hãnh diện được đền đáp bởi tấm lòng người con hiếu thảo thương và tin yêu mẹ đến cháy lòng. Cái cảm giác mình đang bé lại – hay niềm khát khao được bé lại – để làm nũng mẹ, để hưởng sự vuốt ve, chiều chuộng của mẹ cứ lâng lâng, tiếp nối khiến chú bé như đang sống trong mơ vậy. Mọi điều xấu xa, sai lệch mà bà cô gieo vào tâm hồn thơ dại của chú bé bay biến đi hết cả. Xung quanh, từ thế giới bên ngoài vào sâu trong tận cùng cõi tâm linh của chú bé và người mẹ dường như chỉ là niềm hạnh phúc giản dị mà thiêng liêng, hiện thực mà lãng mạn, đầy mộng mơ.

Có thể nói, càng về cuối câu chuyện, ngôn ngữ văn chương càng linh hoạt, sống động, tình cảm người viết càng dạt dào. Đúng là nhà văn đang sông lại những kỉ niệm tuổi thơ của mình để tâm tình, chia sẻ với bạn đọc, cùng bạn đọc thấm thìa những khúc nhạc buồn, vui, cay đắng, ngọt ngào của lòng mẹ yêu con, tình con tin yêu mẹ.

Cậu bé Hồng trong tác phẩm ‘trong lòng mẹ’ phải chịu đựng sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của bà cô nhưng trong cậu vẫn bùng cháy tình yêu thương mẹ mãnh liệt.

Chao ôi! chúng ta thật xót xa và cảm thông cho hoàn cảnh đau khổ, bất hạnh của chú bé. Cậu bé là kết quả của cuộc hôn nhân không có tình yêu, lớn lên trong không khí gia đình lạnh lẽo, trong sự ghẻ lạnh, xa lánh của bà cô. Không chỉ có vậy, đáng thương biết bao khi bố cậu nghiện ngập rồi mất sớm, mẹ phải bỏ đi tha phương cầu thực để lại trong cậu những mất mát to lớn.

Chú bé Hồng là một đứa trẻ thông minh và ngoan ngoãn, giàu tình yêu thương mẹ, biết ứng xử khôn khéo và những tình huống đẫm nước mắt trước những ý đồ đen tối thâm hiểm của bà cô. Từ khi mẹ cậu bỏ cậu đi đến nay, bà cô của cậu – người họ hàng ruột thịt không những không quan tâm, giúp đỡ cậu bé Hồng mà luôn hắt hủi, cay nghiệt, xa lánh đứa cháu đáng thương của mình. Và cuộc đối thoại giữa cầu với bà cô đã thể hiện rõ nhất sự thâm hiểm, độc ác và tình yêu thương mãnh liệt của cậu bé hồng với mẹ.

Bà cô vừa cười vừa hỏi ‘mày có muốn vào Thanh Hóa – chơi với mẹ mày không?’ với nét mặt và giọng nói rất kịch đã thể hiện sự giả dối trơ trẽn của bà cô. Bé Hồng toai trời lời có những khi nghĩ lại thì cúi đầu không đáp đã cho ta thấy sự thông minh, yêu mẹ của cậu.

Rồi bà cô lại ngọt giọng mẹ mày phát tài lắm với đôi mắt sắc lạnh nhìn cháu chằm chằm. Rồi như bị cứa vào nỗi đau tinh thần, chú bé chỉ im lặng cúi đầu, lòng thắt lại khóe mắt cay cay với một nỗi đau không thể kể hết trên gương mặt hốc hác tội nghiệp của đứa trẻ bất hạnh.

Nỗi đau càng được thể hiện rõ hơn khi bà cô vỗ vai ngân dài hai tiếng ’em bé’. Đến đây, những dòng nước mắt chảy ròng ròng, đầm đìa, chan hòa. Cậu quyết không để ‘những rắp tâm tanh bẩn’ có thể xúc phạm đến tình yêu thương mẹ mãnh liệt ấy. Cậu cũng chỉ biết thương mẹ, thương thân, căm tức những cổ tục đã đày đọa mẹ con chú bé đến mức đường cùng. Rồi nỗi uất ức, căm hận dường như được đẩy lên cao trào khi bà cô độc ác tươi cười khi kể về tình cảnh túng quẫn của mẹ.

Bé Hồng lúc đó cổ họng nghẹn ứ lại, giá như cổ tục đã đày đọa, kẹp nát vụn mới thôi. Thể hiện tình yêu thương mẹ mãnh liệt, sâu sắc. Dù phải chịu đựng nỗi đau tủi cực nhưng em có một tình yêu thật mãnh liệt với người mẹ kính yêu của mình.

Qua đó ta cũng thấy được sự thờ ơ thiếu quan tâm của những người lớn đối với con trẻ.

Quả là không có gì sung sướng hơn, hạnh phúc hơn khi một người con được gặp lại mẹ sau nhiều năm xa cách. Thoáng thấy bóng dáng của một người giống mẹ, cậu bé bối rối chạy theo gọi, khát khao được gặp mẹ, thèm khát được tình yêu thương mà bấy lâu nay đã bị bỏ quên. Cậu bé Hồng có tình yêu mẹ, niềm khát khao được gặp mẹ đến cháy bỏng.

Đến khi được gặp lại mẹ, cậu sà vào lòng mẹ òa khóc nức nở. Cậu lại được sống trong tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp, trong niềm hạnh phúc sung sướng ngập tràn, thái ngược hẳn với nỗi đau khổ mà cậu phải hứng chịu trước kia. Ở trong lòng mẹ, bé Hồng vẫn cảm nhận được cái cảm giác ấm áp của tình mẫu từ và quên hết mọi tủi cực, đắng cay. Niềm hạnh phúc dâng tràn và sung sướng của chú bé khi gặp lại mẹ.

Chú bé Hồng là chú bé giàu tình yêu thương mẹ, thông minh, ngoan ngoãn, luôn mạnh mẽ để đối đầu với những thành kiến tàn ác mà nỗi tủi cực, đắng cay cậu phải gánh chịu.

Câu ca dao đã nhắc nhở chúng ta phải biết ơn bố mẹ, những người đã sinh ra ta. Thông qua nhân vật chú bé Hồng bồi đắp cho em tình yêu thương, tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp đối với mẹ của mình.

Vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt phẩm nhất vẫn là trái tim người mẹ”. Trên thế gian này, không có thứ tình cảm nào cao quý và thiêng liêng hơn tình mẫu tử. Là một đứa con có tình yêu mẹ sâu sắc, Nguyên Hồng đã thực sự tạo nên những trang viết thấm thía và cảm động về tình mẫu tử. Qua đoạn trích “Trong lòng mẹ”, ta lại được sống trong tình cảm ấy một lần nữa khi cảm nhận tình yêu da diết của bé Hồng dành cho mẹ.

Bé Hồng thương yêu mẹ sâu sắc. Mặc cho hoàn cảnh cha nghiện ngập mà chết, mẹ đi tha hương cầu thực, sống với bà cô cay nghiệt, cậu càng khao khát tình yêu của mẹ nhiều hơn. Yêu mẹ, Hồng thương mẹ nhiều hơn và cảm thông với những hủ tục mà người phụ nữ bất hạnh phải chịu: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi như một hòn đá hay mẩu thủy tinh, đầu mẩu gỗ tôi quyết vồ lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”.

Trong những điều cay đắng mà bé Hồng phải chịu không chỉ có nỗi đau, nó còn là niềm căm hờn cái xấu, cái ác đang chà đạp lên tình mẫu tử thiêng liêng của con người.Tình yêu mẹ mãnh liệt của chú bé Hồng bỗng trào dâng trong giây phút được gặp lại mẹ.

Hình ảnh người mẹ hiện lên qua đôi mắt ngày đêm mong nhớ của chú vẫn đẹp đẽ và thân thương lạ lùng: “gương mặt vẫn tươi sáng, đôi mắt trong và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má. Hơi quần áo mẹ tôi và hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường”.

Khao khát gặp lại mẹ còn thể hiện ở tiếng gọi bối rối: “Mợ ơi, mợ ơi” và bước chạy “ríu cả chân lại”. Và khi biết đó là mẹ mình thật thì cậu khóc nức nở bởi sung sướng và hạnh phúc. Giây phút được ở trong lòng mẹ có lẽ đã khỏa lấp biết bao những tủi hờn, thua thiệt của bé Hồng bấy lâu nay, cậu cảm thấy “ấm áp, mơn man khắp da thịt”, “không nhớ mẹ đã hỏi gì mình đã đáp gì”.

Đó là cảm giác choáng ngợp trong hạnh phúc vô biên mà chỉ những ai phải trải qua những ngày thiếu vắng mẹ mới cảm nhận được. Ở trong lòng mẹ, được mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm và gãi rôm ở sống lưng cho, Hồng lại trở về làm một chú bé con ngây thơ, trong trắng, luôn chờ mong tình yêu thương từ mẹ. Thời khắc ấy, Hồng đã quên đi tất cả những cay đắng , tủi cực, những lời xúc phạm của bà cô.

Bé Hồng đã được sống những giờ phút thần tiên hiếm hoi nhất, giản dị, mơ mộng mà cũng vô cùng đẹp đẽ, thiêng liêng. Chúng ta, những người may mắn có mẹ ở bên yêu thương, che chở càng phải cảm thông nhiều hơn với những số phận bất hạnh, kém may mắn như bé Hồng.

Qua tâm trạng của chú bé Hồng và niềm khao khát tình thương của cậu, ta phần nào thấu hiểu về những mảnh đời bé nhỏ đang phải gánh chịu nỗi đau mất mẹ, xa mẹ. Dù có được xã hội, mọi người quan tâm đến đâu, những em bé ấy cũng không thể nào khỏa lấp nỗi cô đơn và sự thiếu vắng tình thương của mẹ. Nỗi đau thiếu mẹ sẽ trở thành vết sẹo khó lành trong lòng họ, họ thèm làm sao một cử chỉ âu yếm vuốt ve, một ánh mắt trìu mến yêu thương, những lời hỏi han ân cần, dịu dàng của mẹ.

Vì vậy, khi chúng ta nghiễm nhiên được hưởng những điều ấy, hãy trân trọng từng giờ phút được ở bên mẹ, yêu thương và kính trọng mẹ nhiều hơn.Tình cảm giữa bé Hồng và mẹ đã làm nên một bức tranh tuyệt đẹp về tình mẫu tử. Bằng chính cuộc đời thực của mình, tình yêu thương và lòng nhân ái, Nguyên Hồng đã đánh thức tình yêu mẹ sâu sắc vẫn luôn cuộn trào mãnh liệt trong lòng mỗi người.

Nhắc đến Nguyên Hồng, chúng ta không thể bỏ qua tập hồi kí “Những ngày thơ ấu”, một tác phẩm trở thành để đời của ông. Trong tác phẩm ấy, hình ảnh bé Hồng hiện ra như chính ngày thơ ấu của tác giả, với những nỗi đau, niềm hạnh phúc mà nhà văn đã từng trải qua. Chính vì vậy, nhân vật ấy hiện lên một cách chân thật, sinh động, vừa đáng thương mà cũng vừa đáng quý.

“Những ngày thơ ấu” được đăng báo lần đầu năm 1938, như một khúc tự truyện của chính nhà văn. Trong tập hồi kí ấy, chương IV mang tên “Trong lòng mẹ” có lẽ là khúc kết ngọt ngào nhất, trong trẻo nhất mà tác giả tưới vào lòng người. Nguyên Hồng xây dựng được hệ thống các nhân vật như người thầy, người cô, người mẹ, và tâm điểm là bé Hồng. Chú bé ấy, đáng thương vì sống trong hoàn cảnh nhiều đắng cay tủi nhục, mà đáng quý vì tấm lòng trẻ thơ vẫn trong sạch, vẫn ấm áp tình yêu thương.

Trước hết, phải nhận ra rằng Hồng là một chú bé phải sống trong hoàn cảnh đầy đau thương. Hồng thiếu thốn tình yêu thương của cả cha lẫn mẹ, đó đã là một nỗi đau lớn. Cha mất, mẹ đi biệt xứ, một mình Hồng sống với gia đình bên nội, những tưởng sẽ được bù đắp tình thương. Nhưng không, bà cô ấy cay nghiệt quá. Bà ta luôn gieo vào tâm hồn kia những lời miệt thị của mẹ em. Bà để em phải ghét mẹ, phải coi thường và tránh xa mẹ. Chính vì vậy mà trong câu nói của bà cô ấy luôn có hàm ý mỉa mai coi thường. Hai chữ “em bé” mà bà ta ngân dài ra, thật ngọt, thật cay độc, như để hạ gục mẹ của Hồng xuống đáy cùng. Hồng liên tục phải nghe những lời ấy, có lẽ nào trái tim của em không tổn thương? Một trái tim luôn yêu thương mẹ sâu sắc, nay lại chịu những vết cứa như thế, khó có thể không nhói lên. Bởi vậy mà có nhiều chi tiết, ta bắt gặp Hồng khóc. Có khi chỉ là cay cay nơi khoé mắt, rồi lại có khi nước mắt đã ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ. Khi tâm hồn non nớt bị tổn thương, nó không thôi rỉ máu như vậy.

Nhưng trên tất cả, ta vẫn phải nhận ra rằng, tâm hồn em vẫn tràn ngập tình yêu thương, nó làm lành lại những vết thương của em, chính là tình yêu thương mẹ. Vì tình yêu thương ấy quá sâu sắc, mà một bà cô cay nghiệt kia phải năm lần bảy lượt dùng nhiều chiêu trò phá hoại nó. Khi nghe bà cô hỏi có muốn vào thăm mẹ ở Thanh Hoá không, những bâng khuâng dậy lên trong lòng Hồng. Em muốn vào thăm mẹ lắm chứ, em muốn được sà vào lòng mẹ để được ôm ấp vuốt ve. Dường như nỗi nhớ mẹ luôn thường trực ở đó, có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Nhưng cũng chính tình yêu mẹ ngăn em lại. Em hiểu rằng, bà cô ấy chỉ đang muốn cay nghiệt, làm hại đến danh dự mẹ em. Em nhất quyết không nói, mặc cho khoé mắt đã cay nồng, mặc cho nước mắt chan chứa. Tượng đài về mẹ trong lòng em chưa bao giờ là sụp đổ. Có những chi tiết ấn tượng về cảm xúc của Hồng. Em thương mẹ đến căm ghét những hủ tục, định kiến mà mọi người đặt điều, “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ lấy ngay mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi.”. Những suy nghĩ như thế, nếu không có tình yêu thương, sao có thể bật ra được? Ngay cả khi nghe chuyện mẹ có em bé, em cũng không giận mẹ, mà thương mẹ vì phải đẻ chui lủi ở nơi xứ người, không được hưởng hạnh phúc. Như vậy, qua cuộc nói chuyện với người cô, ta thấy được tình yêu thương mẹ hiện lên thật kiên quyết, qua chính những lời nói và suy nghĩ của Hồng.

Và khi ở trong lòng mẹ, tình thương ấy lại được dịp bùng phát, chảy ra như dòng suối mát. Đi trên đường gặp mẹ, em cứ nghĩ đó là ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc. Dường như mẹ là động lực để em vượt qua những tháng ngày đầy tủi nhục này. Hình ảnh so sánh cho thấy tầm quan trọng của mẹ trong cuộc sống của em. Khi đã được sà vào lòng mẹ, những cảm xúc nguyên thuỷ nhất, trong trẻo nhất ùa về. Em oà lên khóc nức nở, khóc cho những nhớ nhung, tủi nhục mà bấy lâu nay em hứng chịu khi xa mạ. Và có lẽ, em khóc vì niềm hạnh phúc. Em hít hà trên cơ thể mẹ, em nhớ lại những ngày thơ bé được áp mặt vào bầu sữa nóng, được mẹ gãi rôm,… đó có lẽ là những giây phút hạnh phúc nhất trong cuộc đời của em. Lúc này, ta thấy bình yên đến lạ lùng, vì con chim tìm thấy tổ, Hồng đã tìm được chốn yêu thương cho chính mình. Qua đoạn trích này, ta mới thấy được tình yêu thương mà Hồng dành cho mẹ ấm áp, cháy bỏng và dạt dào đến nhường nào!

Cảnh ngộ của bé Hồng chợt làm tôi phải sững lại. Hình như trong cuộc sống, vẫn còn vô số những bé Hồng như thế. Hồng hạnh phúc hơn họ, vì ít nhất đã có thể gặp lại người mẹ của mình. Còn trong cuộc sống hiện nay, có những em bé đã thực sự mồ côi cha mẹ, bị cha mẹ bỏ rơi ngay từ khi mới chào đời. Chưa một lần gặp meh, được uống dòng sữa mát lành, được ôm ấp vỗ về, họ thật đáng thương biết nhường nào. Họ đã không được quyền hưởng hạnh phúc trọn vẹn nhất, vì tạo hoá đã cướp đi một phần của họ. Nhưng có điều, tôi tin rằng, những em bé ấy đang nhận được sự giúp đỡ lớn từ xã hội, từ những nhà hảo tâm, để các em có cơ hội được hoàn thiện bản thân. Các em vẫn sẽ là những mầm non của đất nước, đang được tưới táp để khôn lớn và trưởng thành!

Dù hôm nay hay mai sau, bé Hồng vẫn để lại trong trái tim mỗi người một dấu ấn đặc biệt, để nhắc nhở mỗi chúng ta về tình yêu thương mà có thể ta đang dần quên lãng.

Đoạn trích Trong lòng mẹ trích trong tập Những ngày thơ ấu, một cuốn hồi kí nổi tiếng của nhà văn Nguyên Hồng. Đoạn trích phơi bày chân thực cuộc sống khốn khổ và tình yêu thương mẹ sâu sắc của bé Hồng khi mẹ Hồng đi làm ăn xa.

Đối diện với người cô, Hồng khá già dặn trong suy nghĩ về hoàn cảnh éo le của mẹ. Cậu kiên quyết chống lại những lời nói xấu mẹ của bà cô độc ác, hòng làm Hồng khinh ghét mẹ. Thế nhưng, người cô có thể làm em đau lòng nhưng không thể làm em xa mẹ. Hồng không để những rắp tâm tanh bẩn của người cô xâm phạm đến tình yêu thương mà cậu đã dành cho mẹ.

Từ tình yêu thương mãnh liệt, Hồng quyết bảo vệ mẹ, giữ trọn tình cảm em dành cho mẹ, không oán trách, luôn tin rằng mẹ sẽ về. Hồng không dám cãi lời cô hay có những lời nói khó nghe, cậu đã hết sức giữ được bình tĩnh trước những lời bịa đặt tàn ác của người cô. Tình yêu thương và kính trọng mẹ cậu giữ kín ở trong lòng.

Những giọt nước mắt đau đớn và tủi hổ lăn dài trên má Hồng. Cậu bất lực trước ý đồ của người cô nhưng không thua cuộc .lòng yêu thương và kính trọng mẹ trong lòng cậu vẫn vẹn nguyên, thậm chí là lớn lao hơn.

Hồng luôn khao khát được gặp mẹ, nên vừa mới nhìn thấy một hình dung giống mẹ, cậu đã chạy theo với gọi gấp gáp.

Khi được nằm trong lòng mẹ, cậu bé ngây ngất trong cảm giác hạnh phúc vô biên. Tất cả mọi thứ xung quanh cậu dường như tan biến đâu hết chỉ còn cậu và mẹ. Hạnh phúc được ở bên mẹ khiến cậu bé quên hết mọi đắng cay, tủi hờn trong những ngày phải xa mẹ.

Cậu bé Hồng là tuổi thơ của chính nhà văn, một tuổi thơ cay đắng, nhưng trong gian khổ vẫn giữ một tình cảm thiêng liêng trong sáng: tình mẫu tử. không có một lí do hay sức mạnh nào có thể làm thay đổi tình yêu thương mà Hồng đã dành cho mẹ.

Cách biểu hiện của nhà văn vô cùng chân thực, nhân vật có cá tính rõ nét, miêu tả tâm lí sắc sảo, nhất là tâm lí trẻ em thật tinh tế “với những rung động đến cực điểm” (Thạch Lam). Tuy những suy nghĩ của bé Hồng có phần “người lớn” nhưng nó phản ánh rõ những xung đột khốc liệt, nỗi đau quằn quại trong nhân vật, có sức truyền cảm mạnh mẽ.

Nhân vật Hồng là một nhân vật nhỏ tuổi có cá tính, ghi được dấu ấn trong bạn đọc. Lòng yêu thương mẹ của Hồng gây được xúc động không chỉ với bạn đọc nhỏ tuổi mà còn cả với những ai giàu lòng thương cảm đối với số phận bất hạnh của kiếp người.

Văn Mẫu Lớp 7: Giải Thích Câu Nói Sách Là Người Bạn Lớn Của Con Người Dàn Ý & 12 Bài Văn Mẫu Lớp 7

Giải thích câu Sách là người bạn lớn của con người

Tài liệu bao gồm dàn ý và 12 bài văn mẫu hay nhất, dành cho học sinh lớp 7. Nội dung chi tiết được chúng tôi đăng tải ngay sau đây.

Giải thích câu nói Sách là người bạn lớn của con người

Dàn ý giải thích Sách là người bạn lớn của con người

Giải thích Sách là người bạn lớn của con người ngắn gọn (2 mẫu)

Giải thích Sách là người bạn lớn của con người (10 mẫu)

Dàn ý giải thích Sách là người bạn lớn của con người

1. Mở bài

Dẫn dắt giới thiệu về câu nói “Sách là người bạn lớn của con người”.

2. Thân bài

a. Giải thích câu nói

– “Sách” là một bản in bằng giấy có nội dung rất phong phú. Sách có từ khi loài người có chữ viết. Con người lưu lại vào sách những suy nghĩ tâm tư, tình cảm của mình về những vấn đề trong cuộc sống: khoa học, nghệ thuật, đời sống…

– “Người bạn”: những con người có cùng chung sở thích, lí tưởng, hoàn cảnh, cùng chia sẻ mọi buồn vui giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.

b. Vai trò của sách

– Sách cung cấp cho con người những hiểu biết, những tri thức về mọi lĩnh vực của đời sống, vượt thời gian và vượt không gian.

– Sách cho ta hiểu biết về chính mình. Khi đọc được một quyển sách tốt, chúng ta được bồi đắp thêm về tâm hồn, tình cảm.

– Sách là phương tiện để ta có thể giao tiếp: giao tiếp với tác giả, với độc giả bao thế hệ để từ đó tự rèn luyện mình.

– Sách giúp con người vươn tới những ước mơ, khát vọng; giáo dục tình cảm, đạo đức; giáo dục ý thức thẩm mỹ…

– Nếu thiếu sách, cuộc sống con người sẽ rơi vào tăm tối, không có ánh sáng của tri thức, con người trở nên lạc hậu.

c. Liên hệ bản thân

Học sinh cần tích cực đọc sách, biết lựa chọn sách phù hợp với mục đích và nhu cầu, tuy nhiên sách phải có nội dung lành mạnh, tích cực.

3. Kết bài

Khẳng định lại giá trị của câu nói: “Sách là người bạn lớn của con người”.

Giải thích Sách là người bạn lớn của con người ngắn gọn Đoạn văn mẫu số 1

Ý kiến “Sách là người bạn lớn của con người” gợi cho chúng ta suy nghĩ về vai trò của những cuốn sách. Về khái niệm, “sách” là sản phẩm do con người sáng tạo ra, một văn bản được in dưới dạng quyển, dùng để ghi chép, lưu trữ tri thức của nhân loại. Sách có rất nhiều thể loại, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Còn “bạn” hiểu đơn giản là những người có chung sở thích, lí tưởng hay mục tiêu. Cách so sánh “Sách là người bạn lớn của con người” cho thấy được tầm vai trò của sách với con người, cũng giống như vai trò của những người bạn vậy. Một người bạn tốt sẽ giúp chúng ta học hỏi được nhiều điều bổ ích. Sách là nơi lưu trữ toàn bộ nguồn tri thức của nhân loại. Bởi vậy, khi đọc sách, chúng ta sẽ học hỏi thêm được nhiều kiến thức bổ ích. Một cuốn sách giúp bạn có thêm nguồn kiến thức mới, một bài học mới, một lối tư duy khác. Không chỉ vậy, sách còn giúp bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho mỗi người. Đôi khi, những cuốn sách còn giúp chữa lành đi những vết thương mà bạn đã phải trải qua. Nhờ có sách, chúng ta cũng nhận ra những phần mà bản thân mình còn khiếm khuyết, để từ đó tự hoàn thiện chính mình trở nên tốt đẹp hơn. Ngoài ra, những cuốn sách còn giúp bạn xác định được cho mình những mục tiêu, gây dựng những ước mơ tốt đẹp để nỗ lực hướng tới tương lai. Qua những trang sách, chúng ta có thêm được niềm tin, sức mạnh để vượt qua mọi nghịch cảnh, khó khăn trong cuộc sống. Chúng ta hãy yêu sách, trân trọng sách như yêu và trân trọng người bạn của mình.

Đoạn văn mẫu số 2

“Sách là người bạn lớn của con người” – câu nói gợi cho mỗi người suy nghĩ về vai trò của sách. Hiểu đơn giản, “sách” là dạng một văn bản được in ra thành quyển, ghi chép những thông tin, kiến thức đã được đúc kết qua nghiên cứu, kinh nghiệm của các tác giả. Còn “bạn” là những người có cùng chung tính cách, sở thích, mục tiêu…; với “người bạn lớn” không phải chỉ về hình thức mà về giá trị, vai trò của người bạn đối với mỗi người. “Sách là người bạn lớn của con người” nhằm khẳng định được tầm quan trọng và vai trò lớn lao của sách đối với con người. Con người sáng tạo ra sách nhằm lưu giữ nguồn tri thức của nhân loại. Bởi vậy, khi đọc sách, chắc chắn chúng ta sẽ học được nhiều kiến thức bổ ích, mà không bị ngăn cách bởi không gian, thời gian. Ngoài ra, sách còn giúp bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho mỗi người. Đôi khi, những cuốn sách còn giúp chữa lành đi những vết thương mà bạn trải qua trong cuộc sống. Nhờ có sách, chúng ta cũng nhận ra những phần mà bản thân mình còn khiếm khuyết, để từ đó tự hoàn thiện chính mình trở nên tốt đẹp hơn. Đọc sách còn để giải trí, thư giãn sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng. Với những vai trò như vậy, chúng ta cần trân trọng sách như với chính người bạn.

Giải thích Sách là người bạn lớn của con người Bài văn mẫu số 1

Không thể phủ nhận được tầm quan trọng của sách trong cuộc sống của con người. Bởi vậy mà có ý kiến cho rằng: “Sách là người bạn lớn của con người”. Ý kiến trên đã gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ về vai trò của sách.

Chúng ta có thể kể đến rất nhiều định nghĩa khác nhau về “sách”. Nhưng có thể hiểu đơn giản rằng sách là dạng văn bản được in ra thành quyển, ghi chép những thông tin, kiến thức đã được đúc kết qua nghiên cứu, kinh nghiệm của các tác giả. Còn “bạn” là những người có cùng chung tính cách, sở thích, mục tiêu và “người bạn lớn” ở đây không phải chỉ về hình thức mà về giá trị, vai trò của người bạn đối với mỗi người. Như vậy, “sách là người bạn lớn của con người” đã khẳng định được tầm quan trọng và vai trò của sách đối với con người.

Con người sáng tạo ra sách nhằm lưu giữ nguồn tri thức của nhân loại. Bởi vậy, khi đọc sách, chắc chắn chúng ta sẽ học được nhiều kiến thức bổ ích, không bị ngăn cách bởi không gian, thời gian. Không chỉ vậy, sách còn giúp bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho mỗi người. Đôi khi, những cuốn sách còn giúp chữa lành đi những vết thương mà bạn trải qua trong cuộc sống. Nhờ có sách, chúng ta cũng nhận ra những phần mà bản thân mình còn khiếm khuyết, để từ đó tự hoàn thiện chính mình trở nên tốt đẹp hơn. Ngoài ra, chúng ta đọc sách chỉ là để giải trí, thư giãn sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng.

Bởi vậy, chúng ta cần trân trọng sách như với chính người bạn. Điều đó thể hiện không chỉ ở việc giữ gìn những cuốn sách cẩn thận. Mà còn ở cách đọc sách sao cho hiệu quả, không cốt lấy nhiều về số lượng mà chú trọng chất lượng. Cuốn sách được lựa chọn đọc phải phù hợp với mục đích của người đọc. Khi đọc sách, chúng ta cũng cần vừa đọc, vừa suy nghĩ kết hợp với ghi chép để hiểu được nội dung của cuốn sách.

Như vậy, ý kiến “Sách là người bạn lớn của con người” vô cùng giá trị. Chúng ta sẽ hiểu hơn về giá trị của sách, từ đó biết giữ gìn và trân trọng sách hơn.

Bài văn mẫu số 2

Một tiểu thuyết gia người Mĩ đã từng khẳng định: “Sách hay, cũng như bạn tốt, ít và được chọn lựa; chọn lựa càng nhiều, thưởng thức càng nhiều”. Câu nói giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của sách – “Sách là người bạn lớn của con người.

Có rất nhiều khái niệm về “sách”, nhưng hiểu đơn giản sách là một dạng văn bản được in ra thành quyển, có chứa đựng một khối lượng thông tin, kiến thức đã được đúc kết qua nghiên cứu, kinh nghiệm của các tác giả. Còn “bạn bè” là những người có cùng chung tính cách, sở thích, mục tiêu… “Sách là người bạn lớn của con người” có nghĩa là sách cũng giống như bạn bè vậy, có ảnh hưởng rất lớn đến mỗi người. Sách giúp cung cấp kiến thức bổ ích. Sách còn giúp chúng ta thư giãn sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng. Có đôi khi, sách còn chia sẻ niềm vui hay nỗi buồn với con người.

Bên cạnh kiến thức, sách cũng giống như người bạn, cùng chia sẻ với con người mọi niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống. Một cuốn sách hay có thể giúp chữa lành những vết thương mà bạn đã trải qua. Nhờ có sách, chúng ta cũng nhận ra những phần mà bản thân còn khiếm khuyết, để từ đó tự hoàn thiện chính mình trở nên tốt đẹp hơn. Không chỉ vậy, sách còn là nơi giúp con người giải trí sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng và mệt mỏi.

Sách cũng có vai trò giáo dục, giống như người bạn có thể cho chúng ta lời khuyên khi chúng ta đi sai đường, hay định hướng chúng ta đến với những điều tốt đẹp. Những tác phẩm văn chương giàu giá trị giúp khơi dậy cho mỗi người biết xúc động, biết đồng cảm và chia sẻ. Những cuốn sách hướng nghiệp giúp chúng ta có được định hướng tốt trong cuộc sống… Khi xã hội càng phát triển, cũng sẽ có nhiều loại sách khác nhau. Giống như bạn bè, có bạn tốt cũng có bạn xấu. Con người cần biết lựa chọn sách để đọc sao cho hiệu quả, bổ ích.

“Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Và lời khẳng định sách là người bạn lớn của con người là hoàn toàn đúng đắn, giá trị.

Bài văn mẫu số 3

Sách rất quan trọng trong cuộc sống của con người. Bởi vậy mà có ai đó đã từng khẳng định rằng “Sách là người bạn lớn của con người”.

Trước hết, sách là một dạng văn bản được in ra thành quyển. Trong sách chứa đựng một khối lượng thông tin, kiến thức đã được đúc kết qua nghiên cứu, kinh nghiệm của các tác giả. Còn bạn bè là những người có cùng chung tính cách, sở thích, mục tiêu… Sách cũng giống như bạn bè vậy, có ảnh hưởng đến con người. Những cuốn sách hay có thể cung cấp những kiến thức bổ ích. Sách còn giúp chúng ta thư giãn sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng. Có đôi khi, sách còn chia sẻ niềm vui hay nỗi buồn với con người.

Trước hết, sách cung cấp cho chúng ta những kiến thức bổ ích. Bởi sách chính là nơi lưu giữ toàn bộ tri thức của nhân loại. Từ xưa đến nay, con người học tập đều cần có những cuốn sách hỗ trợ. Cũng giống như khi chúng ta quen biết với một người bạn hiểu biết nhiều, sẽ học hỏi được những kiến thức bổ ích.

Nhiều cuốn sách có khả năng định hướng con người về mục tiêu, gây dựng những ước mơ tốt đẹp. Từ đó, chúng ta sẽ nỗ lực không ngừng để có thể đạt được thành công. Cũng giống như một người bạn tốt, sẽ đưa ra những lời khuyên cho chúng ta trong mọi vấn đề.

Một cuốn sách hay còn có khả năng cảm hóa con người. Bởi vậy mà Hoài Thanh từng nhận định rằng: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Không chỉ vậy, sách còn giúp xoa dịu tâm hồn, trở thành một người bạn có thể chia sẻ mọi niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống của mỗi người.

Chúng ta cần hiểu được giá trị của những cuốn sách để có thể biết trân trọng, và có phương pháp đọc sách đúng đắn. Lời nhận xét “Sách là người bạn lớn của con người” là hoàn toàn đúng đắn.

Bài văn mẫu số 4

Có ai đó đã từng khẳng định rằng: “Sách hay, cũng như bạn tốt, ít và được chọn lựa; chọn lựa càng nhiều, thưởng thức càng nhiều”. Quả thật, sách đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống. Bởi vậy mà “Sách là người bạn lớn của con người”.

Đầu tiên cần hiểu thế nào là sách? Có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về sách. Nhưng hiểu đơn giản nhất rằng sách chính là tri thức, là nơi con người có thể học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, trau dồi và rèn luyện bản thân mình. Với “người bạn” thì dùng để chỉ những người có cùng chung sở thích, lí tưởng, hoàn cảnh, cùng chia sẻ mọi buồn vui giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Khi so sánh “sách” với “người bạn lớn”, câu nói trên muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của sách đối với con người.

Mỗi người bạn đều có những hiểu biết nhất định về một lĩnh vực nào đó. Khi chúng ta trao đổi với bạn bè sẽ giúp vốn hiểu biết tăng thêm. Và cũng giống như một người bạn, sách đã cung cấp cho con người thêm những kiến thức. Nhưng đặc biệt hơn cả là sách có thể giúp người đọc vượt qua mọi không gian và thời gian, thậm chí là mọi ngôn ngữ. Những kiến thức mà sách đem lại là vô tận, không giới hạn về lĩnh vực.

Một người bạn lớn còn dạy cho chúng ta những bài học quý giá. Một cuốn sách hay sẽ giúp con người bồi dưỡng được tâm hồn đẹp đẽ, tình cảm tốt đẹp. Đôi khi, những cuốn sách còn giúp chữa lành đi những vết thương mà bạn trải qua trong cuộc sống. Nhờ có sách, chúng ta cũng nhận ra những phần mà bản thân mình còn khiếm khuyết, để từ đó tự hoàn thiện chính mình trở nên tốt đẹp hơn. Cũng giống như khi chơi với một người bạn tốt, chúng ta cũng sẽ cố gắng để hoàn thiện bản thân hơn.

Với tầm quan trọng như vậy, việc đọc sách cần phải có được phương pháp đúng đắn. Tác giả Chu Quang Tiền trong “Bàn về đọc sách” từng viết: “Đọc sách không cốt lấy nhiều, quan trọng nhất là phải chọn cho tinh, đọc cho kĩ”. Đây hẳn là một phương pháp đọc sách đúng đắn. Quỹ thời gian con người là vô hạn, nhưng số lượng sách lại vô hạn. Những kiến thức mà chúng ta học được giống như một giọt nước giữa đại dương vô tận. Vậy nên, khi đọc sách, chúng ta không nên quá quan trọng việc mình đã đọc được bao nhiêu cuốn, đó là nhiều hay ít. Mà quan trọng nhất là khi đọc sách cần vừa đọc, vừa ngẫm nghĩ để hiểu được nội dung cuốn sách đó một cách sâu sắc nhất.

Quả thật, những cuốn sách chính là “người bạn lớn” của con người. Không ai có thể phủ nhận được tầm quan trọng của những cuốn sách.

Bài văn mẫu số 4

Trong cuộc sống, sách đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Một cuốn sách chính là “người bạn lớn của con người”.

“Sách là người bạn lớn của con người” đã cho thấy tầm quan trọng của sách. Nó giống như người bạn đồng hành cùng với con người vượt qua mọi thử thách. Những cuốn sách cũng giống như những người bạn, dạy cho mỗi người nhiều bài học bổ ích. Không chỉ là những bài học kiến thức mà còn là bài học cuộc sống.

Đầu tiên, sách cung cấp kiến thức cho con người. Đó là một điều mà không ai có thể phủ nhận. Bởi sách là nơi lưu trữ toàn bộ tri thức của nhân loại. Từ xưa đến nay, con người học tập đều cần có những cuốn sách hỗ trợ. Dù là bất kì lĩnh vực nào, chỉ cần đọc sách, con người sẽ tìm được đáp án mà mình muốn biết.

Tiếp đến, đôi khi những cuốn sách còn giúp bạn xác định được cho mình những mục tiêu, gây dựng những ước mơ tốt đẹp. Khi đọc một cuốn sách hay, chúng ta sẽ có thêm niềm tin, sức mạnh để vượt qua những khó khăn, nghịch cảnh trong cuộc sống. Tất cả điều này sẽ giúp bạn trở thành một người thành công hay thất bại.

Sách còn có khả năng cảm hóa con người. Sách giúp chúng ta khơi dậy những tình cảm sống động: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Khi đọc tác phẩm “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, người đọc sẽ cảm nhận được nỗi nhớ quê hương, đất nước cũng như sự xót xa của tác giả trước cảnh ngộ của đất nước. Đọc truyện “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen, người đọc sẽ thương xót cho thân phận bất hạnh của cô bé bán diêm tội nghiệp, căm giận một xã hội vô cảm đã gián tiếp dẫn đến cái chết của cô bé. Từ đó, truyện khơi gợi trong lòng người đọc tấm lòng yêu thương, biết chia sẻ và đồng cảm.

Như vậy, “Sách là người bạn lớn của con người” là hoàn toàn đúng đắn. Hãy coi trọng những cuốn sách, bởi đó là “ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người”.

Bài văn mẫu số 6

Sách là người bạn đồng hành không thể thiếu của con người trong hành trình chinh phục tri thức và hoàn thiện bản thân. Có lẽ bởi vậy mà có ai đó đã từng khẳng định rằng “Sách là người bạn lớn của con người”.

Trước hết, “sách” là một dạng văn bản hay tài liệu ghi lại những tri thức, hiểu biết của con người về thế giới khách quan được ra đời từ rất sớm. Câu nói “Sách là người bạn lớn của con người” đã nêu cao và khẳng định vai trò của sách. Nó giống như người bạn đồng hành cùng với con người vượt qua mọi thử thách. Giá trị của một cuốn sách tốt cũng giống như một người bạn tốt. Nó có tầm vóc to lớn, giúp con người vươn tới thành công

Sách đã ghi lại những phát hiện, những hiểu biết và tri thức của con người về thế giới tự nhiên, xã hội. Thuở xưa, sách được tạo ra bằng cách chạm khắc lên mặt đá, lên thanh tre thanh trúc. Từ những nét chữ tượng hình giản đơn đến các loại ngôn ngữ có cấu tứ rõ ràng. Đến ngày hôm nay, sách đã được lưu giữ và phát triển qua một quá trình dài. Dù ngay cả trong chiến tranh xâm lược kéo dài từ thời phong kiến đến hiện đại, sách vẫn ở cạnh chúng ta. Các vị anh hùng chống giặc ngày xưa vận dụng kế sách, chiến thuật trong sách binh pháp cổ đại. Bác Hồ tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc cũng một phần nhờ vào sách ghi lại học thuyết của Mác – Lênin.

Và sách cũng là người bạn đồng hành với con người trong cả cuộc đời. Trong suốt quá trình học tập, sách là một phương tiện không thể thiếu đối với mỗi học sinh. Ngay cả khi không còn ngồi trên ghế nhà trường, những cuốn sách vẫn đem lại lợi ích cho chúng ta. Những cuốn sách dạy cho chúng ta về làm người, cách yêu thương và làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Dù qua bao nhiêu năm tháng, dù ở bất cứ nơi đâu, bên cạnh chúng ta luôn có sự hiện diện của sách.

Không chỉ là người bạn bình thường, sách còn là người bạn lớn của con người. Bởi lẽ sách là kho tàng lưu giữ tinh hoa tri thức khổng lồ của nhân loại, được tích lũy qua hàng triệu năm. Từ những nhận thức đơn sơ thời cổ đại đến những thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại. Sách chứa đựng vô vàn điều mới lạ, kỳ diệu. Vô vàn thể loại, lĩnh vực khác nhau, mỗi cuốn sách lại đem đến cho chúng ta một chân trời mới. Sách địa lý giúp chúng ta vượt qua những rào cản không gian để đến được những vùng đất xa xôi, bí ẩn. Sách khoa học như chuyến tàu tốc hành đưa ta bay vào vũ trụ bao la, chạm đến những vì sao mà chỉ kính viễn vọng mới có thể nhìn thấy. Sách lịch sử lại như một cỗ máy thời gian đưa ta ngược về quá khứ để hiểu hơn những gì loài người đã trải qua, đưa ta đi đến tương lai với bao hy vọng, niềm tin và mơ ước. Sách văn học “gây cho ta những tình cảm ta chưa có, luyện cho ta những tình cảm ta sẵn có”, dạy chúng ta biết yêu thương, đồng cảm với con người, biết trân trọng nâng niu cái đẹp, biết căm hờn cái xấu xa độc ác ở đời.

Đôi khi sách cũng không phải là một “người bạn tốt”. Cũng giống như bạn bè – có người tốt, người xấu. Những cuốn sách tốt sẽ giúp chúng ta mở mang tri thức, làm phong phú tâm hồn, sống nhân ái và biết vươn tới những giá trị tốt đẹp. Ngược lại, sách xấu là những cuốn sách có nội dung đồi trụy, đi ngược lại giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục, làm cho nhận thức của chúng ta lệch lạc, nhân cách suy thoái. Chính vì vậy cần biết cách lựa chọn sách để đọc, cũng giống như lựa chọn bạn để chơi.

Thực tế hiện nay, cuộc sống hiện đại, có quá nhiều thứ hấp dẫn, nhiều người đã dần lãng quên sách, nhất là các bạn trẻ. Họ có thể dành hàng giờ để đọc những cuốn truyện tranh vô bổ, nghịch điện thoại, chơi game nhưng không thể bỏ ra dù chỉ chút ít thời gian để đọc sách văn học, khoa học. Vốn hiểu biết của chúng ta thực chất chỉ nhỏ như giọt nước giữa đại dương tri thức mênh mông. Nếu không chú trọng bổ sung, sẽ có ngày giọt nước ấy bốc hơi theo năm tháng.

Mỗi người hãy ý thức tầm quan trọng của sách. Hãy trân trọng và nâng niu, phát huy giá trị của người bạn lớn – sách để hoàn thiện bản thân và vươn tới những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống.

Bài văn mẫu số 7

Cuộc sống của con người là một hành trình dài. Trên hành trình đó, chúng ta luôn cần những người bạn đồng hành. Sách chính là một trong những người bạn đó. Cũng giống như câu nói: “Sách là người bạn lớn của con người”.

Đầu tiên, sách trước hết là một dạng văn bản được in ra thành quyển. Trong cuốn sách đó có chứa đựng những thông tin chính cần đề cập tới. Đó là những kiến thức đã được đúc kết qua nghiên cứu, kinh nghiệm, của nhiều tác giả hoặc ý kiến cá nhân tác giả. Sách được hình thành từ khi con người sáng tạo ra chữ viết, khi họ muốn lưu lại vào sách những suy nghĩ tâm tư, tình cảm của mình về những vấn đề trong cuộc sống: khoa học, nghệ thuật, đời sống… Hiện nay, khi xã hội càng ngày càng phát triển thì càng có nhiều loại sách. Có thể kể đến tên một số loại sách như: sách khoa học, sách giáo khoa, sách giải trí… Mỗi loại sách khác nhau đều có những chức năng khác nhau. Còn “người bạn” dùng để chỉ những người có cùng chung sở thích, lí tưởng, hoàn cảnh, cùng chia sẻ mọi buồn vui giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Và “người bạn lớn” sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống của chúng ta. So sánh “sách” với “người bạn lớn”, câu nói trên muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của sách đối với con người. Cũng giống như câu nói: “Sách hay, cũng như bạn tốt, ít và được lựa chọn; chọn lựa càng nhiều, thưởng thức càng nhiều”.

Sách giống như một người bạn lớn, bời vì nhờ có những cuốn sách đã cung cấp cho con người một nguồn tri thức vô giá nhân loại. Không chỉ là những tri thức của hiện tại mà còn là những nghiên cứu, những tinh hoa mà phải trải qua một quá trình dài mới có thể đúc kết ra được. Qua những trang sách, chúng ta có thể tìm về với quá khứ, bước đến tương lai hoặc có thể phiêu lưu khắp mọi nơi trên thế giới. Harvey MacKay nói rằng: “Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc”. Khi đọc được một cuốn sách hay, bạn đã tích lũy cho mình một nguồn kiến thức mới, một bài học mới, một lối tư duy khác. Bạn cũng sẽ khám phá ra nhiều điều mới lạ mà trước đây bạn chưa từng thấy, hoặc thấy rồi nhưng theo một chiều hướng khác. Có đôi khi những cuốn sách còn giúp bạn xác định được cho mình những mục tiêu, gây dựng những ước mơ tốt đẹp. Đồng thời, có những cuốn sách còn giúp con người có thêm niềm tin, sức mạnh để vượt qua những khó khăn, nghịch cảnh trong cuộc sống. Điều đó sẽ giúp bạn đạt được thành công mà mình mong muốn.

Mỗi cuốn sách sẽ có ảnh hưởng nhất định đến con người. Những tác phẩm văn chương giàu giá trị giúp khơi dậy cho chúng ta biết xúc động, biết đồng cảm và chia sẻ. Các sáng tác của nhà văn Thạch Lam như Gió lạnh đầu mùa, Hai đứa trẻ, Nhà mẹ Lê… đã khắc họa cuộc sống của những kiếp người nhỏ bé trong xã hội. Những tác phẩm này đã khơi dậy trong lòng người đọc lòng thương cảm, sự sẻ chia với những con người đó.

Nhưng bên cạnh những cuốn sách tốt – giống như một người bạn tốt, còn có những cuốn sách xấu – sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến con người. Chính vì vậy, chúng ta cần phải biết lựa chọn sách để đọc.

Như vậy, câu nói “Sách là người bạn lớn của con người” là hoàn toàn đúng đắn. Mỗi người hãy biết lựa chọn sách, quý trọng sách giống như đối với một người bạn của mình vậy.

Bài văn mẫu số 8

Từ xưa đến nay, sách có một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của nhân loại. Chính bởi vậy mà có câu nói: “Sách là người bạn lớn của con người” đã khẳng định được tầm quan trọng của sách.

Hiểu một cách đơn giản, sách là một dạng văn bản được in ra thành quyển, trong cuốn sách đó có chứa đựng những thông tin chính cần đề cập tới, đó là những kiến thức đã được đúc kết qua nghiên cứu, kinh nghiệm, của nhiều tác giả hoặc ý kiến cá nhân tác giả. Bạn bè là những người có cùng chung sở thích, lí tưởng, hoàn cảnh, cùng chia sẻ mọi buồn vui giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Những người “bạn lớn”sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến cuộc sống của chúng ta. Khi so sánh “sách” với “người bạn lớn” đã cho thấy được vai trò của sách trong cuộc sống của mỗi người.

Sách cung cấp cho con người những tri thức khác nhau thuộc mọi lĩnh vực trong đời sống. Sách có thể giúp người đọc vượt qua mọi không gian và thời gian, thậm chí là mọi ngôn ngữ. Khi đọc sách, chúng ta giống như đang được “xuyên không” từ quá khứ đến hiện tại và ngay cả tương lai nữa. Lạc vào thế giới của sách, con người sẽ đến với những chuyến hành trình bất tận, khám phá được nhiều điều mới mẻ và thú vị mà chỉ phải bỏ ra một số tiền rất nhỏ.

Sách là người bạn lớn bởi nếu chúng ta đọc được một quyển sách tốt, bạn không chỉ học hỏi được những kiến thức mà còn bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm. Nhờ có sách, chúng ta cũng nhận ra những phần mà bản thân mình còn khiếm khuyết, để từ đó tự hoàn thiện chính mình trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng không phải cuốn sách nào cũng đem đến những giá trị tốt đẹp. Những cuốn sách vô bổ sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến tâm hồn người đọc. Không chỉ vậy, sách còn là nơi giúp con người giải trí sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng và mệt mỏi.

Advertisement

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Trong suốt ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, nhờ có sách mà Người đã có thêm nhiều hiểu biết về những nước đã đi qua. Người còn tìm đến với ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng qua những trang sách. Đó cũng là vũ khí đắc lực để người truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản về nước, cổ vũ nhân dân chống lại kẻ thù…

Tóm lại, sách có một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người. Hãy yêu sách vì nó sẽ mở ra trước mắt bạn những chân trời mới tuyệt đẹp.

Bài văn mẫu số 9

Có ai đó đã từng nói rằng: “Sách là người bạn lớn của con người”. Điều đó đã giúp cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của sách trong cuộc sống.

Đầu tiên, sách là một dạng văn bản được in ra thành quyển. Trong sách chứa đựng một khối lượng thông tin, kiến thức đã được đúc kết qua nghiên cứu, kinh nghiệm, của nhiều tác giả hoặc ý kiến cá nhân tác giả. Sách thuộc nhiều thể loại khác nhau như khoa học, âm nhạc, văn học… Sách cũng giống như bạn bè vậy, có ảnh hưởng đến con người. Một cuốn sách hay có thể dạy cho chúng ta những bài học bổ ích. Sách giúp chúng ta thư giãn sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng. Có đôi khi, sách còn chia sẻ niềm vui hay nỗi buồn với con người.

Mọi tri thức của nhân loại đều được lưu giữ trong kho tàng vô tận – sách. Một nhà văn đã từng khẳng định rằng “Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người”. Bởi vậy mà khi đọc sách, con người có thể mở mang kiến thức. Cũng giống như đang trò chuyện với một người bạn hiểu biết, thì cũng học hỏi được nhiều điều. Không chỉ vậy, sách còn giúp bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho mỗi người. Đôi khi, những cuốn sách còn giúp chữa lành đi những vết thương mà bạn trải qua trong cuộc sống. Nhờ có sách, chúng ta cũng nhận ra những phần mà bản thân mình còn khiếm khuyết, để từ đó tự hoàn thiện chính mình trở nên tốt đẹp hơn. Cùng với mặt tích cực, thì còn có mặt tiêu cực. Cuốn sách chứa đựng những nội dung xấu, cũng giống như người bạn xấu, sẽ gây ra ảnh hưởng không tốt đến chúng ta.

Qua những trang sách, chúng ta có thể tìm về với quá khứ, bước đến tương lai hoặc có thể phiêu lưu khắp mọi nơi trên thế giới. Harvey MacKay nói rằng: “Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc”. Khi bạn đọc một cuốn sách có nghĩa là đã tự cung cấp cho mình một nguồn kiến thức mới, một bài học mới, một lối tư duy khác. Bạn cũng sẽ khám phá ra nhiều điều mới lạ mà trước đây bạn chưa từng thấy, hoặc thấy rồi nhưng theo một chiều hướng khác. Có đôi khi những cuốn sách còn giúp bạn xác định được cho mình những mục tiêu, gây dựng những ước mơ tốt đẹp. Đồng thời, có những cuốn sách còn giúp con người có thêm niềm tin, sức mạnh để vượt qua những khó khăn, nghịch cảnh trong cuộc sống. Chẳng phải đây chính là những điều một người bạn tốt có thể làm được?

Có thể khẳng định rằng, việc so sánh sách giống như một người bạn lớn là hoàn toàn đúng đắn. Sách quan trọng, bởi vậy cần có phương pháp đọc sách thật đúng đắn để phát huy hết vai trò của nó.

Bài văn mẫu số 10

Có người đã từng khẳng định rằng: “Sách là người bạn lớn của con người” gợi cho chúng ta suy nghĩ về vai trò của những cuốn sách.

Có thể hiểu đơn giản, sách là một sản phẩm do con người sáng tạo ra dùng để lưu trữ khối lượng kiến thức khổng lồ của nhân loại. Còn bạn bè là những người có chung sở thích, lí tưởng, mục tiêu… và có tầm ảnh hưởng to lớn đến mỗi người. Cách so sánh “Sách là người bạn lớn của con người” cho thấy được tầm vai trò của sách với con người, cũng giống như vai trò của những người bạn vậy.

Một người bạn tốt sẽ giúp chúng ta học hỏi được nhiều điều bổ ích. Nguồn tri thức của nhân loại đã được gìn giữ, lưu truyền nhớ có sách. Khi đọc sách, chắc chắn chúng ta sẽ biết thêm nhiều kiến thức mới mẻ, khám phá ra nhiều điều thú vị trong cuộc sống. Một cuốn sách giúp bạn có thêm nguồn kiến thức mới, một bài học mới, một lối tư duy khác.

Không chỉ vậy, sách còn giúp bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cho mỗi người. Đôi khi, những cuốn sách còn giúp chữa lành đi những vết thương mà bạn đã phải trải qua. Nhờ có sách, chúng ta cũng nhận ra những phần mà bản thân mình còn khiếm khuyết, để từ đó tự hoàn thiện chính mình trở nên tốt đẹp hơn.

Đồng thời, bạn có thể khám phá ra nhiều điều chưa từng thấy, hoặc thấy rồi nhưng theo một chiều hướng khác. Có đôi khi những cuốn sách còn giúp bạn xác định được cho mình những mục tiêu, gây dựng những ước mơ tốt đẹp. Qua những trang sách, chúng ta có thêm được niềm tin, sức mạnh để vượt qua mọi nghịch cảnh, khó khăn trong cuộc sống.

Hiểu được điều đó, chúng ta cần biết trân trọng những cuốn sách. Đồng thời, cần lựa chọn sách sao cho phù hợp với mục đích của bản thân, cũng như có được phương pháp đọc sách đúng đắn. Cũng nên tránh xa những cuốn sách có nội dung tiêu cực. Có như vậy, sách mới trở thành “người bạn lớn” của con người.

“Sách không chỉ là sách, chúng là cuộc sống, là trái tim và hạt nhân của những thời đại đã qua, là lý do mà con người lao động và chết, là cốt lõi và tinh hoa của bao cuộc đời” (Marcus Tullius Cicero – một nhà lý luận chính trị La Mã). Hãy yêu sách, trân trọng sách như yêu và trân trọng người bạn của mình.

Văn Mẫu Lớp 11: Phân Tích Bài Thơ Thương Vợ (Dàn Ý + 20 Mẫu) Phân Tích Bài Thương Vợ Hay Nhất

I. Mở bài

Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương: một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi.

Thương vợ là một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú.

II. Thân bài

1. Hai câu đề

– Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”.

Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác.

Địa điểm “mom sông”: phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.

⇒ Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định.

– Lí do:

“nuôi”: chăm sóc hoàn toàn

“đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu cũng không dư.

⇒ Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài ra người phụ nữ còn nuôi chồng ⇒ hoàn cảnh éo le trái ngang.

Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ.

⇒ Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con.

2. Hai câu thực

– Lặn lội thân cò khi quãng vắng: có ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều (cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò):

“Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng

Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn ⇒ gợi tả nỗi đau thân phận và mang tính khái quát.

“khi quãng vắng”: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu.

⇒ Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩn dụ.

– “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc

Buổi đò đông: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cảnh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu.

– Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân gian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú.

⇒ Thực cảnh mưu sinh của bà Tú: Không gian, thời gian rợn ngợp, nguy hiểm đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú.

3. Hai câu luận

– “Một duyên hai nợ”: ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đành phận”, Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu.

– “nắng mưa”: chỉ vất vả

– “năm”, “mười”: số từ phiếm chỉ số nhiều

– “dám quản công”: Đức hi sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội tụ cả sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại.

⇒ Câu thơ vận dụng sáng tạo thành ngữ, sử dụng từ phiếm chỉ vừa nói lên sự vất vả gian lao vừa nói lên đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú.

4. Hai câu kết

– Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi: “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”: tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với người phụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vất vả.

– Tự ý thức: “Có chồng hờ hững”: Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểu hiện của thói đời.

– Nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con và chồng.

→ Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội, Tú Xương cũng chửi cả thói đời đen bạc.

III. Kết bài

Khẳng định lại những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công nội dung của tác phẩm.

Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xã hội hôm nay.

…………

Hình ảnh người phụ nữ luôn là đề tài muôn thuở trong nền thi ca Việt Nam. Tuy nhiên, thơ văn viết về người vợ bằng tình cảm của người chồng đã ít, nay lại viết “tế sống” người vợ còn hiếm hoi hơn. Và Trần Tế Xương là người đàn ông đã đưa hình ảnh người vợ của mình vào những dòng thơ trữ tình nhưng cũng không kém phần trào phúng. Trần Tế Xương hay còn gọi là Tú Xương, giống trong buổi giao thời đầy nghèo khổ nửa thực dân nửa phong kiến. Ông là người thông minh ham học có tài làm thơ nhưng lại lận đận trong thi cử. Ông nổi tiếng trong hai mảng thơ trữ tình và trào phúng có pha chút giọng cười châm biếm, sắc sảo bắt nguồn từ tâm huyết với dân với nước với đời. Tú Xương đã từng được mệnh danh là nhà thơ trào phúng xuất sắc nhất của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Những tác phẩm ông để lại chủ yếu là thơ Nôm và có nhiều bài rất đặc sắc, có thể nói là tuyệt mỹ cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Minh chứng rõ nhất là bài thơ Thương vợ. Tú Xương đã bộc lộ tình yêu thương, sự trân trọng và cả nỗi ăn năn trước sự hi sinh của vợ trong bài thơ này:

Thương vợ nằm trong những sáng tác của Tú Xương về bà Tú cũng là một trong những bài thơ hay, cảm động nhất của ông về vợ mình. Bài thơ được viết bằng chữ Nôm với những ngôn từ bình dị và hình ảnh đẹp đẽ. Nó không chỉ đề cập đến nhiều khía cạnh trong xã hội mà còn là tiếng lòng tha thiết đầy xót xa của Tú Xương – nạn nhân của xã hội bấy giờ, đã biến con người trở nên vô tích sự với chính bản thân và gia đình. Đồng thời bài thơ cũng giúp người đọc thấy được đức hi sinh to lớn của người phụ nữ xưa đối với gia đình.

Mở đầu tác phẩm Tú Xương giới thiệu về hoàn cảnh và công việc mưu sinh của bà Tú:

Mạch cảm xúc của thi phẩm dần được mở ra với bức tranh toàn cảnh về nỗi khó nhọc lo toan của bà Tú. Câu vào đề như để giới thiệu hoàn cảnh lam lũ vất vả qua cách nêu thời gian, địa điểm. Tác giả sử dụng từ “quanh năm” – cụm từ chỉ một khoảng thời gian rất dài, lặp đi lặp lại như một vòng tuần hoàn khép kín của tự nhiên, tác giả đã diễn tả được nỗi vất vả triền miên của bà Tú trải hết ngày này qua tháng khác, mặc kệ nắng mưa. Chỉ có thế cũng đã đủ để lại trong lòng độc giả một hình ảnh tần tảo, đầu tắt mặt tối của bà Tú. Thế nhưng chưa dừng lại ở đó, cách cân đo đong đếm thời gian như thế còn góp phần làm bật lên cái không gian buôn bán của bà thông qua hình ảnh “mom sông”. Địa thế “mom sông” đầy trắc trở hiểm nguy khôn lường lại là chỗ làm ăn buôn bán hàng ngày của người phụ nữ. Thời gian dài đằng đặng kết hợp với địa điểm trắc trở càng tôn lên hình ảnh bà Tú tần tần, hết lòng hết sức vì miếng cơm manh áo cho cả gia đình. Với giọng thơ hóm hỉnh cùng tài năng trong nghệ thuật thơ trào phúng, Tú Xương đã làm nên một câu thơ thứ hai như lời lên án gay gắt xã hội phong kiến đã biến những người đàn ông vốn là trụ cột trong gia đình thành kẻ vô tích sự, sống dựa dẫm và cả đời “ăn lương vợ”.

(Quan tại gia – Trần Tế Xương)

Đôi vai của bà Tú đã nặng nay lại càng nhân lên những nỗi gian truân khi phải “bất đắc dĩ” trở thành trụ cột trong gia đình. Từ “đủ” vừa biểu thị chất lượng vừa biểu thị số lượng. Bên cạnh đó cách đặt hai từ số đếm “năm” và “một” tưởng chừng khập khiễng nhưng lại hóa độc đáo và mới lạ. Tú Xương tự chế giễu mình khi so sánh bản thân với năm người con. Ông tự cho mình là “đứa con đặc biệt”, ngầm nâng cao vị thế của người vợ lên một thứ bậc thiêng liêng. Hơn thế nữa, cấu trúc năm-một cùng từ “với” chất chứa bao nỗi hổ thẹn của người chồng phải sống dựa vào vợ. Hai câu mở đầu đã thể hiện được tất cả những đức tính cao đẹp của bà Tú: chịu thương, chịu khó để nuôi đủ gia đình. Qua đó Tú Xương cũng khéo léo thể hiện sự biết ơn của mình, đồng thời còn là sự hổ thẹn khi phải đặt mình tương đồng với những đứa con thơ. Thật xót xa, ngậm ngùi biết bao!

Thấu hiểu được những nỗi lo toan, vất vả của người vợ, Tú Xương liên tưởng đến hình ảnh con cò trong ca dao:

Để cực tả nỗi khổ tâm của bà Tú trong hai câu thực:

Tú Xương sử dụng từ “thân cò” vừa thể hiện cái tính riêng, sự sáng tạo mang tính thời đại trong phong cách thơ của mình, vừa đồng nhất thân phận của bà Tú nói riêng và hình ảnh của người phụ nói chung với hình ảnh mỏng manh của “cái cò”. Tiếp đó chữ “thân” tuy đơn giản nhưng nghe thật cay đắng, nó gợi cho người đọc về một thứ gì đó nhỏ bé tội nghiệp đến vô cùng. “khi quãng vắng” là một cụm từ rất đặc biệt, nó không chỉ gợi lên cái không gian rợn ngợp, cảm giác đầy nguy hiểm rình rập nơi mom sông heo hút mà còn diễn tả nỗi khắc khoải của thời gian. Cùng với nghệ thuật đảo ngữ, từ láy “lặn lội” đã nhấn mạnh hình ảnh vất vả mưu sinh đến xót xa, gầy guộc của người phụ nữ. Nếu câu thơ thứ ba gợi lên nỗi cực nhọc đơn chiếc thì câu thứ tư lại là sự vật lộn với cuộc sống bán mua đông đúc. Một lần nữa Tú Xương lại dùng biện pháp đảo ngữ với từ láy tượng thanh “eo sèo” gợi sự tấp nập ồn ã để nhấn mạnh cảnh tượng thường tình nơi chợ búa gắn liền với người phụ nữ có “năm con với một chồng”. Hình ảnh “buổi đò đông” cũng góp phần làm bật lên một bà Tú cần mẫn, tất bật. Buổi đò đông cùng với “khi quãng vắng” đã tạo nên sự nguy hiểm, gian lao gấp nhiều lần. Ông cha ta có câu “ sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua” nhưng vì cuộc sống, vì cơm áo gạo tiền cho chồng con mà bà Tú đã phải dấn thân vào chốn hiểm nguy đó. Hai câu thực dù đối nhau về từ ngữ “buổi đò đông”- “khi quãng vắng” nhưng lại tiếp nhau về ý làm nổi lên sự lam lũ gian truân của người phụ nữ nhỏ bé này.

Đến với hai câu thơ tiếp theo, Tú Xương như nhập vai vào chủ thể trữ tình nhằm mượn lời vợ để ngâm ca ngợi những hi sinh âm thầm mà bà dành cho chồng con:

Theo quan niệm phong kiến xưa, “duyên” và “nợ” là hai định nghĩa hết sức thiêng liêng về mối quan hệ vợ chồng do ông trời định sẵn, xuất phát từ sợi chỉ hồng của ông tơ bà nguyệt. Thế nhưng khi đưa vào lời thơ Tú Xương, hai thứ đó trở nên nặng nề như một lời than thở khi duyên chỉ có một mà nợ lại tới hai. Bên cạnh đó việc sử dụng hai thành ngữ song song với nhau “một duyên hai nợ” – “năm nắng mười mưa” vừa đối nhau về từ, vừa đối nhau về ý đã khiến cho câu thơ trầm lắng trước nỗi khổ tâm của bà Tú. Không những thế sự đối lập này còn thể hiện rất rõ tài năng văn chương điêu luyện của thi sĩ. Đức hi sinh cao cả của bà Tú còn được nhắc đến qua hai cụm từ “âu đành phận” và “dám quản công”. Nguyên nhân dẫn đến sự lam lũ hi sinh âm thầm đầy cam chịu của bà tuy giản đơn mà cao quý. Đó là vì mối nhân duyên với người chồng và đàn con thơ. Từ việc pha trộn lời thơ đan xen với những thành ngữ và biện pháp đảo ngữ cực kì tinh tế, nhà thơ Tú Xương đã khắc họa thành công tấm chân tình của người vợ với đầy đủ đức hi sinh, tần tảo như một người phụ nữ Việt Nam truyền thống.

Vì thương vợ, thương cho thân phận đời nữ nhi mà lại sắm vai trụ cột trong gia đình, Tú Xương đã tự trách bản thân mình. Hai câu thơ cuối cũng vì thế giống như tiếng chửi vừa cay đắng vừa phẫn nộ cho những định kiến khắt khe:

Mạch cảm xúc của thi phẩm dường như có sự chuyển biến đột ngột. Tú Xương không còn ẩn mình sau những dòng thơ để tán dương vợ mà đã xuất hiện để nói thay, để trách ông chồng, để trách phận mình của bà Tú. “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” là một cách nói rất phù hợp với phong cách thơ trào phúng đó là sự giận đời vì cái xã hội thối nát lúc bấy giờ. Thêm vào đó ít ai biết được rằng đằng sau tiếng chửi đời đầy dứt khoát ấy lại là một bi kịch của con người chất chứa bao nỗi đau xót. Tú Xương chửi cái “thói đời” nhưng cũng là sự chửi mình, tự chửi một đống nam nhi đang trên đường công danh mà không giúp được vợ lại thành kẻ ăn bám. Tú Xương coi mình là một người “hờ hững” trong trách nhiệm của một kẻ làm cha, làm chồng. Thế nhưng nếu nhìn nhận lại sự việc thì Tú Xương quả là đáng thương hơn đáng trách. Bởi, suy cho cùng chính xã hội kia đã đẩy ông vào đường cùng. Hai câu thơ khép lại tác phẩm là lời tự rủa mình, rủa đời của Tú Xương nhưng lại mang đậm ý nghĩa lên án xã hội sâu sắc, góp phần khẳng định tình cảm của ông với vợ mình. Người ấy tuy “ăn lương vợ” nhưng rất chu đáo luôn dõi theo bà, đặc biệt luôn tỏ lòng biết ơn của mình đối với người phụ nữ ông yêu thương. Thi phẩm kết thúc thật bất ngờ vừa thấm đượm được cái bi, cái bất hạnh trong nỗi niềm riêng của tác giả, vừa dí dỏm hài hước.

Tấm lòng thương vợ của Tú Xương đối với cả thời quá khứ và hiện tại vẫn là tấm gương sáng cho bao người. Bài thơ giữ nguyên giá trị cùng với ý nghĩa nhân văn sâu sắc về sự yêu thương, trân trọng và thấu hiểu những nỗi đau, sự hi sinh của người phụ nữ cho gia đình. Đồng thời đó cũng là tiếng nói phê phán sự bất công của xã hội phong kiến thối nát, mục ruỗng.

Như vậy, bài thơ Thương vợ là một thi phẩm mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Với chất thơ bình dị mà trữ tình mang chút trào phúng, Tú Xương đã thành công trong việc khắc họa một bức chân dung về người phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ, vừa mộc mạc chất phác, vừa cứng rắn mạnh mẽ. Vì vậy quả thật Tú Xương chính là thi nhân viết thơ về vợ hay và cảm động nhất. Ông đã để lại cho đời những áng văn chân thành xúc động và đầy giá trị.

Thơ ca Việt Nam khi xưa, trong thời Trung đại được các nhà nho dùng để dạy đời, tỏ chí. Nhà nho xưa thể hiện chí làm trai, nợ công danh, chí kinh bang tế thế hay những ưu tư về cuộc đời, về thời đại mà ít khai thác đời sống tình cảm, đời tư thường nhật của mình, đặc biệt là viết về người phụ nữ. Trong thế kỉ XIX có Nguyễn Khuyến và Tú Xương đã làm được điều đó. Nhưng nổi tiếng hơn cả là những bài thơ của Tú Xương. Tú Xương không chỉ lên án đanh thép xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ bằng những bài thơ trào phúng sâu sắc mà còn để lại nhiều bài thơ trữ tình, nhất là về người vợ của ông. Thương vợ là một trong những bài thơ như thế, vừa sâu sắc, tình cảm, vừa hóm hỉnh, vui tươi.

Sách vở còn ghi lại, bà Tú có thời gian làm nghề buôn gạo, “bà Tú buôn gạo hàng đội hàng thùng chứ không có vốn buôn hàng thuyền” ( Xuân Diệu).

Bà Tú ở đầu bài thơ hiện lên với công việc buôn bán ở mom sông. “ Quanh năm” là thời gian đằng đẵng, tuần hoàn, ngày nối ngày, người mẹ, người vợ ấy vẫn tần tảo sớm hôm buôn bán để nuôi chồng, nuôi con. Bà không có cửa hàng hay quán xá mà buôn bán ở “ mom sông”, chỉ là chỗ đất nhô ra ở cửa sống, nơi đầy rẫy những nguy hiểm, ba bề đều là nước, nơi ấy chênh vênh, không ổn định. Gợi cho người đọc sự không chắc chắn để bán buôn. Bà không chỉ bán một hay hai hôm mà quanh năm, ngày qua này, tháng tới tháng, từ năm này qua năm khác. Câu thơ đầu hiện lên hình ảnh bà Tú tần tảo, chịu khó mặc khó khăn và vất vả. “ Nuôi đủ năm con với một chồng” mặc dù việc buôn bán vất vả để nuôi sáu miệng ăn nhưng cũng chỉ đủ ăn. Không những chỉ nuôi những đứa con thơ dại mà còn phải nuôi cả người chồng, lo lắng cho việc khoa cử mỗi lần đi thi của ông. Chỉ kể đến tiền cho chồng đi thi có khi còn nhiều hơn để nuôi những đứa con ở nhà. Nhà thơ từng lên tiếng tố cáo bọn quan lại, quắc mắt khinh đời giờ coi mình là con người nhỏ bé được bà Tú. Hai câu đề cho thấy sự vất vả nhưng rất đảm đang gánh vác và yêu thương chồng con mới dám hi sinh, chịu đựng nhọc nhằn. Đồng thời, đằng sau những vất vả của bà Tú là sự biết ơn sâu sắc của chồng và con với bà vì đã không đỡ đần được sự nhọc nhằn của bà.

Hình ảnh bà Tú lại hiện lên ở hai câu thực hết sức chân thực và sâu sắc:

Trong hai câu thơ trên, hình ảnh độc đáo và gần gũi với đời sống hàng ngày cũng như đời sống văn thơ dân gian nhất chính là hình ảnh con cò. Trong thơ Tú Xương, con cò hiện lên không phải là con cò mà được diễn đạt bằng từ “ thân cò”. “ Lặn lội thân cò” chính là sự vất vả, đơn chiếc khi kiếm ăn một mình, cực nhọc biết bao khi “ quãng vắng” nơi vắng vẻ, ít người còn rất nguy hiểm. “ Thân cò” ấy lại “ eo sèo”, liều lĩnh, giành giật trong làm ăn vì miếng cơm manh áo của chồng con trong “ buổi đò đông”. “Thân cò” ấy lặn lội, lam lũ cả một đời chính là hình ảnh biểu tượng của người phụ nữ ân cần, chăm chỉ làm vụng, lam lũ, vất vả. Thân cò ấy chính là thân phận, là sự mỏng manh trước cảnh đời khắc nghiệt. Nghệ thuật đảo trật tự cú pháp đã làm nổi bật hình ảnh “ thân cò” lặn lội khi quãng vắng, eo sèo buổi đò đông. Một “ thân cò” gầy yếu nhưng lam lũ, vất vả. Qua bốn câu đầu tiên, hình ảnh bà Tú vẫn luôn là người phụ nữ vất vả, chịu đựng cùng với sự hi sinh lớn lao dành cho chồng con mình.

Tuy gian khổ là vậy, nhưng bà Tú không buông một lời oán trách mà luôn chịu đựng, kiên cường:

Nói về cuộc sống gia đình mình Tú Xương đã dùng từ ngữ chân thực mà sâu sắc. “ Duyên” và “ nợ” là hai từ có ý nghĩa trái ngược nhau để chỉ hạnh phúc gia đình. Nếu cuộc sống hạnh phúc, tốt đẹp thì là cái duyên, còn cực nhục, khổ đau thì là nợ. Cuộc đời bà Tú duyên một mà nợ những hai. Mặc dù biết vậy nhưng cũng “ âu đành phận” mà không một lời oán trách. Hình ảnh người phụ nữ ấy lại hiện lên với sự tần tảo, vất vả muôn phần : “ Năm nắng mười mưa dám quản công”. Sự vất vả ấy đâu “ dám quản công” chỉ “ âu đành phận”. Tú Xương đã sử dụng rất khéo số từ trong thơ của mình, vừa theo thứ tự tăng dần vừa đối nhau: một, hai, năm, mười, gợi được những khó khăn chồng chất ngày một tăng dần. Đồng thời câu thơ cũng cho thấy sự kiên cường và phi thường của người vợ, người mẹ đã gánh vác, chấp nhận tất cả để lo lắng, săn sóc cho chồng con mình thật tốt.

Sau tất cả sự khó khăn ấy là hình ảnh người chồng tuy không thể làm được gì to lớn giúp vợ nhưng rất mực yêu thương và tài hoa:

Bà Tú tuy vất vả là vậy nhưng đâu có chửi chồng mình. Hai câu kết chính là lời chửi chua xót mà ông Tú thay vợ dành cho mình. Ông tự chửi mình về tội làm chồng mà hờ hững, để vợ phải vất vả, lặn lội kiếm ăn mà không đỡ đần được. Bà Tú không những không được nhờ vả vào chồng mà còn lấy phải ông chồng bạc bẽo, hờ hững, chẳng giúp gì được cho gia đình mà còn phải lo lắng và nuôi cả chồng mình. Đồng thời, ông Tú chửi cả một xã hội bất ngờ bất công, ông chửi thói đời đểu cáng, bạc bẽo để cho bà Tú vất vả nhưng vẫn nghèo đói, khó khăn. Tiếng chửi ấy chính là tiếng tố cáo đanh thép xã hội không cho người ta quyền thi cử chính đáng để làm quan đỡ đần gia đình mặc dù ông Tú là người tài hoa. Đằng sau lời chửi ngoa ngoắt là một người chồng không hề hờ hững mà là một người chồng yêu quý, thương vợ rất mực, tài hoa, chung thủy và giàu lòng tự trọng.

Bài thơ là tiếng lòng chân thành của Tú Xương dành đến cho người vợ của mình, người đã vất vả kiếm sống nuôi gia đình. Bài thơ cũng hiện lên nhân cách cao đẹp của Tú Xương khi đã dám lên tiếng chia sẻ sự vất vả với vợ, sự xấu hổ khi không thể đỡ đần cho vợ mình, dám nhận mình là “ quan ăn lương vợ” cùng với tài năng nghệ thuật rất đáng trân trọng.

Có người nói, nụ cười Nguyễn Khuyến là nụ cười thâm trầm, hóm hỉnh, còn nụ cười của Tú Xương là nụ cười cay cú, “cười ra mảnh sành”. Bài thơ Thương vợ của Tú Xương cũng có chất hài hước mà chua chát như thế:

Thơ Đường bao giờ cũng cô đọng, lời ít mà ý nhiều. Với bài Thương vợ ta hãy lắng nghe Tú Xương muốn bày tỏ cái tình riêng tư chua chát của ông.

Thử đọc hai câu thơ đầu:

Hai câu thơ đầu đi ngay vào việc kể lể sự vất vả, khó nhọc và đảm đang, tần tảo của bà Tú. “Quanh năm buôn bán ở mom sông”, nhà thơ đã xác định một địa thế buôn bán của vợ là chốn “mom sông”. Đó là nơi rất lầy lội, cheo leo nguy hiểm ở một xóm chợ nghèo ven con sông Vị Hoàng, làng Vị Xuyên – quê hương tác giả. Rõ ràng, đây là nơi cheo leo, khó khăn vất vả, hoàn toàn không phù hợp với những người phụ nữ chân yếu tay mềm. Thế mà bà Tú vẫn mặc cảnh “mom sông”, vẫn “quanh năm buôn bán”, cuộc đời bà dường như gắn bó với chốn lầy lội chênh vênh này. Với cách làm ăn trên, ta dễ đoán cuộc sống gia đình bà Tú cũng rất chênh vênh. Thế mà bà vẫn “nuôi đủ năm con với một chồng” câu thơ sau lại đi theo một xu hướng hoàn toàn khác, đảo ngược suy nghĩ người đọc. “Đủ” là thế nào? Có thể chỉ là cách nói của riêng ông Tú, tự ông cảm thấy vợ mình quá đảm đang, cuộc sống gia đình mình mới được chu toàn. Như vậy là quá hạnh phúc, quá “đủ” rồi chăng? Cũng có thể hiểu “nuôi đủ” nghĩa là nuôi hết cả, không trừ ai. Cái chua chát trong cái hài hước là chỗ đó: một “ông chồng” cũng được xếp ngang hàng với những đứa con, để vợ phải “nuôi”(!) Ở đây còn có sự nhấn mạnh, đay lại, lặp lại các số từ: “năm con với một chồng”. Các số từ “năm” và “một ấy làm cho gánh nặng của bà Tú trong cuộc đời tần tảo vì chuyện sinh nhai càng trở nên nặng nề lắm thay! Câu thơ phảng phất một tiếng cười trào phúng. Ông đã buộc người đọc phải bật lên tiếng cười. Nhưng cười mà ngẫm lại, ngẫm lại mà thương thay cho bà Tú, cảm phục thay cho cái đảm đang của người mẹ, người vợ Việt Nam.

Người phụ nữ tảo tần xưa nay vẫn được ví như thân cò trắng, lặn lội không quản nắng mưa. Tác giả cùng đã ví vợ mình như thân cò:

Sử dụng đảo ngữ với các từ gợi cảm “lặn lội” “eo sèo”, nhà thơ một lần nữa muốn tô đậm cái vất vả của bà Tú. Hình ảnh con cò ẩn dụ buộc ta chạnh nhớ đến câu ca dao quen thuộc:

“Tiếng khóc nỉ non”! Câu ca nghe mà xốn xang cả lòng.

Nếu cò kia một mình “gánh gạo nuôi chồng” thì bà Tú cũng một mình chống lại với cuộc sống khắc nghiệt, chống chọi cả với nỗi cô đơn. Nhưng, nếu cò kia đã “khóc” thì bà Tú lại bật lên tiếng than não nề.

Bà đã cất tiếng than? Không, đây thực ra là bài thơ của ông Tú viết về vợ mình, ông đã than cho cuộc đời bà. “Một duyên, hai nợ, ba tình”. Các công thức mang đậm nét Á Đông xưa kia nói lên những mối phiền lụa ở đời lại được đặt vào bài thơ này. Cái sợi dây ràng buộc vô hình không phương tháo gỡ luôn thắt chặt ông Tú với bà Tú. Hóa ra, cái khổ là do duyên, là bởi bà Tú lấy phải ông Tú làm chồng (!) Vậy, nguyên nhân của nỗi khổ mà bà Tú phải gánh chịu là do ông Tú! Nhưng bà vẫn không hề phàn nàn, vẫn nhẫn nại và cam phận:

“Năm nắng, mười mưa dám quản công”. Các số từ một lần nữa lại được sử dụng một cách hữu hiệu để nói cái nỗi nhọc nhằn của bà Tú. Nói cách khác, ông Tú ở đây muốn động viên bà Tú một cách xót xa.

Viết Thương vợ, Trần Tế Xương thực ra còn có nỗi thương mình và xót xa thay cho thế thái. Cho nên hai câu thơ cuối không còn là tiếng cười hài hước chua chát mà là tiếng chửi:

Tác giả chửi cái “thói đời”, tức là chửi cái thời đại ấy, chế độ ấm – nó đã khiến cho những kẻ tài năng như Tú Xương trở thành gánh nặng đối với gia đình, tuy nhiên, ngay trong cái tiếng chửi vẫn còn có chất hài hước. Chửi “thói đời” nhưng mà cũng chửi mình. Chẳng có ai lại tự nêu nguyên nhân nỗi khổ của vợ lại chính là… mình như vậy.

Đọc Thương vợ ta cảm thông với những nỗi khổ của người phụ nữ ngày xưa, thêm yêu quý những người mẹ, người chị của ta hôm nay. Cái đáng quý đọng lại sau khi đọc bài thơ này vẫn là hình ảnh bà Tú, rất dân dã, rất thân thuộc và rất đỗi Việt Nam- bà là tượng trưng cho những người vợ, người mẹ tảo tần lam lũ, suốt đời cam chịu hi sinh vì chồng, vì con, vì hạnh phúc giản dị của gia đình.

Đọc Thương vợ, ta cũng cảm thông với nỗi khổ của nhà thơ Tú Xương, một nhà thơ tài năng, nhưng “sinh bất phùng thời”, bất lực trước nỗi vất vả vì cơm áo của vợ và xót xa phải chịu cảnh chính mình phải trở thành gánh nặng cho người vợ hiền đã quá vất vả vì đông con đang phải lặn lội, khốn cùng giữa buổi “đò đông”.

Bài “Thương vợ” thuộc thể loại thơ trữ tình, bộc lộ tình thương yêu lẫn quý trọng người cần cù, đảm đang, chịu thương chịu khó. Tác giả dựng lên bức chân dung người vợ đảm đang thành hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ truyền thống Việt Nam tháo vát và giàu đức hi sinh.

Nói đến Tú Xương là nói đến sự hợp nhất của tính “trào phúng và trữ tình”. Giọng cười mỉa mai chua chát, trong thơ ông là nụ cười mang theo nước mắt trước thực trạng xã hội. Bên giọng cười chua cay có một không hai ấy, Trần Tế Xương cũng là người đi tiên phong trong việc đưa đời sống cá nhân – gia đình vào thơ của mình. Những bài thơ trữ tình của ông tràn ngập thứ tình cảm gia đình, tồn tại song hành với nỗi đau vì nghèo đói, đã tạo cho thơ ca Việt Nam những nét mới mẻ và thú vị: “Thương vợ” là bài thơ thuộc thể loại tình cảm ấy.

Bài thơ được mở đầu khá ấn tượng, bằng cái vòng thời gian khép kín “quanh năm” của người đàn bà buôn bán, tảo tần lại gói trong một không gian nhỏ hẹp “mom sông”, vì hai chữ “chồng – con”:

Hơn thế nữa, cái “danh” bà Tú quả cũng xứng với “cành vàng”. Thế mà, trong buổi lao lụng, phải mua bán trong cảnh chen chúc thì quả là đáng thương. Ấy vậy mà bà Tú cũng chỉ “Nuôi đủ năm con với một chồng”. “Nuôi đủ” là nuôi đủ cả con lẫn chồng. “Nuôi đủ” là nuôi đầy đủ (không thiếu thốn), hay nuôi chỉ vừa đủ. Hiểu theo nghĩa nào đi nữa, ta cũng thấy gánh nặng đè lên vai bà Tú quả là quá lớn. Nghĩa vụ này đương nhiên là Tú Xương phải gánh, thế nhưng con người tài hoa này gặp buổi chợ chiều của Nho học, chỉ biết than thân, tiêu biểu trong bài “Cảnh cùng quẫn”.

Thế cho nên, bà Tú không biết từ lúc nào đã hóa thân thành: “Thân cò” để lặn lội nơi sóng nước eo sèo, nơi quãng vắng thưa người, đã gợi lên nỗi đau thân phận:

Câu thơ thứ ba, với thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ, đã gợi rất nhiều đến hình ảnh con cò trong ca dao:

(Ca dao)

Bà Tú hẳn là không khóc nỉ non như người đàn bà trong câu ca dao kia, nhưng ai dám bảo bà chưa từng khóc trong lòng, ở cái chốn “eo sèo” buổi “đò đông” ? Danh phận một bà Tú, lại như thân cò nơi quãng vắng đã gợi lên sự hẩm hiu, vất vả, đơn chiếc, lại phải mặc cả buôn bán khi đò đông thì hàng hiếm.

Tú Xương “gợi nhờ” gánh nặng lên vai người vợ, còn mình mải vui chơi, hưởng lạc và “hư hỏng”.

(Hỏi Ông Trời)

Tú Xương đã ái ngại để rồi sự cảm thông ấy đã đến chỗ cao trào của lòng thương và tự trách mình vì mang đến cho vợ thứ duyên nợ không trọn đạo. Câu thơ rơi vào chỗ luận lí về chữ “duyên” với nhiều tầng nghĩa:

Duyên theo nghĩa của dân gian hay nghĩa triết học Phật giáo hoặc nói cách khác: Duyên trong “duyên phận”, hay duyên trong “duyên số”, thì trong văn cảnh này, đối với Tú Xương vẫn chỉ sự thiệt thòi về phía vợ. Vậy cái nguyên nhân hay sự tiền định ở đây đều từ cái “nợ”, mà Tú Xương đã sử dụng phép đối thật tuyệt vời. Dù duyên chỉ một mà nợ đến hai, hạnh phúc chồng mang đến quá ít, nhọc nhằn lại quá nhiều, thế nhưng người đàn bà ấy “âu đành phận”.

Tú Xương tự trách mình:

Chữ “bạc” của Tú Xương dùng trong câu thơ chính là sự trách mình chửi mình nhưng lời trách, chửi ấy rất đỗi chân thành. Để rồi, Tú Xương đi đến sự chế giễu cái “vô tích sự” của mình. Ta cũng từng nghe Tú Xương có lần chế giễu cái “chức quan” tại gia, quanh năm chỉ được phép ra “chiếu chỉ” cho con và ăn lương vợ.

(Quan tại gia)

Thơ Tú Xương cay độc mà chân thành, trào phúng mà trữ tình, phong lưu mà chung thủy, chửi đời mà chửi mình, cười mình mà khóc mình, trong nỗi đau công danh lận đận, trong nỗi đau thân phận, trong nỗi đau cùng đường tuyệt lối của cảnh cơ hàn.

Giọng thơ Tú Xương trong “Thương vợ” trào dâng một niềm thương tha thiết đối với vợ. Ngôn ngữ thơ giản dị, mang đậm chất ca dao, hình ảnh gợi trường liên tưởng khá rộng. Độc đáo nhất ở bài thơ là hình tượng người phụ nữ hóa thân vào “thân cò” đã gợi nhiều nỗi niềm thương cảm, một thứ tình cảm thương thân và chua chát. Thành công nhất của bài thơ là xây dựng được hình tượng nghệ thuật có tính đột phá, bất ngờ và mới mẻ. Thành công đó cùng chính là việc: Đưa người phụ nữ vào thơ ca, mà hình tượng đạt đến trình độ mẫu mực và thấm đượm chất nhân văn. Hình ảnh người vợ thân yêu của ông đã chiếm trọn tình cảm của người đọc cho đến mãi bây giờ! Cái công ấy của Tú Xương, có thể bù vào cái tội “hờ hững” được chăng?

Tú Xương là bút danh của Trần Tế Xương. Học vị tú tài, lận đận mãi trên con đường khoa cử: “Tám khoa chửa khỏi phạm trường quy”. Chỉ sống 37 năm, nhưng sự nghiệp thơ ca của ông thì bất tử. Quê ở làng Vị Xuyên, thành phố Nam Định. “Ăn chuối ngự, đọc thơ Xương” là câu nói tự hào của đồng bào quê ông.

Tú Xương để lại khoảng 150 bài thơ Nam, vài bài phú và văn tế. Có bài trào phúng. Có bài trữ tình. Có bài vừa trào phúng vừa trữ tình. Giọng thơ trào phúng của Tú Xương vô cùng cay độc, dữ dội mà xót xa. Ông là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học cận đại của dân tộc.

Bài thơ ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người vợ, của người phụ nữ đảm đang, chịu thương chịu khó vì hạnh phúc chồng con. Câu 1, 2 giới thiệu bà Tú là người giỏi buôn bán, tần tảo “quanh năm” buôn bán kiếm sống ở “mom sông” cảnh đầu chợ bến đò, buôn thúng bán mẹt. Chẳng có cửa hàng cửa hiệu. Vốn liếng chẳng có là bao. Thế mà vẫn “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Chồng đậu tú tài, chẳng là quan chẳng là cùng đinh “Ăn lương vợ”. Một gia cảnh “Vợ quen dạ đẻ cách năm đôi”. Các số từ “năm” (con), “một” (chồng) quả là đông đủ. Bà Tú vẫn cứ ”nuôi đủ”, nghĩa là ông Tú vẫn có “Giày giôn anh dận, ô Tây anh cầm”. Câu thứ hai rất hóm hỉnh.

Câu 3, 4 mượn hình ảnh con cò trong ca dao, tạo thành “thân cò” – thân phận lam lũ, vất vả “lặn lội”. Cò thì kiếm ăn nơi đầu ghềnh, cuối bãi, bà tú thì lặn lội… khi quãng vắng, nơi mom sông. Cảnh lên đò xuống bến, cảnh cãi vã giành giật bán mua “eo sèo mặt nước buổi đò đông” để kiếm bát cơm manh áo cho chồng, con. Hình ảnh “thân cò” rất sáng tạo, vần thơ trở nên dân dã, bình dị. Hai cặp từ láy “lặn lội” và “eo sèo” hô ứng, gợi tả một cuộc đời nhiều mồ hôi và nước mắt.

Câu 5, 6 tác giả vận dụng rất hay thành ngữ: ”một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”. Ba tiếng đối ứng thượng, hạ: “âu đành phận”, “dám quản công” như một tiếng thở dài. Có đức hi sinh. Có sự cam chịu số phận, có cả tấm lòng chịu đựng, lo toan vì nghĩa vụ người vợ, người mẹ trong gia đình. Tú Xương có tài dùng số từ tăng cấp (1-2-5-10) để nói lên đức hi sinh thầm lặng cao quý của bà Tú:

Tóm lại, bà Tú hiện thân của cuộc đời vất vả lận đận, là hội tụ của bao đức tính tốt đẹp: tần tảo, gánh vác, đảm đang, nhẫn nại,… tất cả lo toan cho hạnh phúc chồng còn. Nhà thơ bộc lộ lòng cảm ơn, nể trọng.

Câu 7 là một tiếng chửi, đúng là cách nói của Tú Xương vừa cay đắng vừa phẫn nộ “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”. “Cái thói đời” đó là xã hội dở tây dở ta, nửa phong kiến, nửa thực dân: khi mà đạo lí suy đồi, lòng người đảo điên. Tú Xương tự trách mình là kẻ “ăn ở bạc” vì thi mãi chẳng đỗ, chẳng giúp ích gì cho vợ con. Suốt đời vợ con phải khổ, như có bài thơ ông tự mỉa: “Vợ lăm le ở vú – Con tấp tểnh đi bồi – Khách hỏi nhà ông đến – Nhà ông đã bán rồi”.

Câu 8 thấm thía một nỗi đau chua xót. Chỉ có Tú Xương mới nói được rung động và xót xa thế: “Có chồng hờ hững cũng như không?”. “Như không” gì? Một cách nói buông thõng, ngao ngán. Nỗi buồn tâm sự gắn liền với nỗi đau thế sự. Một nhà nho bất đắc chí!

Bài thơ có cái hay riêng. Hay từ nhan đề. Hay ở cách vận dụng ca dao, thành ngữ và cả tiếng chửi. Chất thơ mộc mạc, bình dị mà trữ tình đằm thắm. Trong khuôn phép một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, từ thanh điệu niêm và vần đến phép đối được thể hiện một cách chuẩn mực, tự nhiên, thanh thoát. Tác giả vừa tự trách mình, vừa biểu lộ tình thương vợ, biết ơn vợ. Bà Tú là một hình ảnh đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam trong một gia đình đông con, nhiều khó khăn về kinh tế. Vì thế nhiều người cho rằng câu thơ “Nuôi đủ năm con với một chồng” là câu thơ hay nhất trong bài “Thương vợ”.

Nói đến thơ trào phúng không ai có thế quên ông, một giọng thơ đả kích, phê phán sắc sảo, cay độc, mạnh mẽ hiếm có. Chế Lan Viên từng viết: “Tú Xương cười như mảnh vỡ thủy tinh”. Nhưng Trần Tế Xương không chỉ là một nhà thơ hiện thực chủ nghĩa như vậy, nói như Nguyễn Tuân, chất hiện thực ấy chỉ là “chân trái”, còn “chân phải” của ông là chất trữ tình. Trân trọng cảm phục và nhớ tới thơ Tú Xương nhiều hơn có lẽ do người đời được nghe nhịp đập của một trái tim chân thành, giàu cảm xúc, biết trọng nhân cách, mang một nỗi đau vời vợi không nguôi. Buồn vì không có tiền để giúp một người ăn mày, một đồng bào cùng cảnh ngộ, ông thề độc: “Cha thằng nào có tiếc không cho”. Mang nỗi nhục nô lệ của một tri thức, ông chua chát: “Nhân tài đất Bắc kìa ai đó! Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà”…

Đó là ngoài xã hội, còn trong gia đình ông luôn bị dày vò bởi cảm giác thiếu trách nhiệm, Tú Xương “thương vợ”, có chồng mà phải gánh vai trụ cột, ông tự xỉ vả cái vai trò “hờ hững” của mình.

Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh hai con người: một người vợ tần tảo giàu đức hi sinh và một người chồng biết cảm thông chia sẻ, thương yêu và quý trọng vợ rất mực.

Hai câu thơ đầu giới thiệu về nghề nghiệp của bà Tú cũng như trách nhiệm nặng nề của bà:

Buôn bán cũng là một nghề như mọi nghề khác, người ta hành nghề để kiếm sống. Người xưa còn coi đây là nghề duy nhất nếu muốn làm giàu (phi thương bất phú). Nhưng việc buôn bán của bà Tú thì không được thế. Chẳng có cửa hàng, cửa hiệu, quán xá gì, mà chỗ bà “kinh doanh” là ở “mom sông”. Hai chữ “mom sông” đã gợi lên hình ảnh một khoảng đất nhô ra ở bờ sông, có thể nước xuống thì còn, nước lên thì mất, có thuyền qua thì thành chợ không thì thôi, cũng có thể chợ họp một lát vào buổi sáng hoặc buổi chiều. Lèo tèo đôi ba gánh hàng, chỗ dành cho người buôn thúng bán bưng, lưng vốn ít ỏi, lấy công làm lãi, chắc chắn thu nhập chẳng đáng là bao. Thế mà công việc khó nhọc ấy, bà Tú không chỉ chịu đựng một hai buổi mà phải theo đuổi “quanh năm”. Chữ “quanh năm” gợi một thời gian đằng đẵng, là 12 tháng, từ tháng giêng đến tháng chạp, cũng có nghĩa là hết năm này đến năm khác. Cái công việc nặng nề ấy dường như theo đuổi bà Tú suốt cả đời, bởi nó chẳng làm cho bà khá hơn lên để có việc khác nhàn nhã hơn hoặc phát triển việc “buôn bán” lên một cấp độ cao hơn.

Công việc thì nhọc nhằn, thu nhập thì ít ỏi, nhưng bà Tú lại phải lo lắng cho cả một gia đình sáu miệng ăn. Hơn nữa, không phải là sáu mà là “năm con với một chồng”, “Năm con” là số nhiều, nhưng dù sao cũng chịu được, lo cho chúng chỉ cần bát cơm, manh áo. Nhưng ông chồng, là “một”, nhưng là chi phí bằng cả năm đứa con kia. Có khi còn hơn thế nữa! Mỗi khi ông lều chõng đi thi, tiền lưng gạo bị lại đổ lên đầu vợ, chưa nói đến khi đồng chè đồng rượu, cao hứng còn lên phố đi hát, cũng tiền vợ nốt.. Nhiều khoản chi như thế nhưng lúc nào bà cũng lo “đủ”. Thật là đảm đang tháo vát biết chừng nào, chiều chồng biết chừng nào!

Được cái tiếng thơm ấy, thật không dễ dàng gì, bà Tú phải đổi bằng biết bao công sức:

Câu thơ gợi hình ảnh con cò trong những câu ca dao quen thuộc:

Hình ảnh về một loài chim hiền lành, chăm chỉ âm thầm nhặt nhạnh, kiếm ăn nơi ruộng lúa, bãi sông đã trở thành biểu tượng về những người phụ nữ lam lũ suốt đời vì chồng, vì con, chẳng mấy khi nghĩ đến bản thân mình.

Trong thơ Tú Xương, không phải là con cò mà là thân cò. Không còn là một con vật cụ thể mà là thân phận, số phận, một cái gì rất mỏng manh, nhỏ bé trước biết bao vần vũ của cuộc đời (Thương thay thân phận con rùa/Thân em như chẽn lúa đòng đòng/Thân em như hạt mưa sa…). Yếu đuối quá, bị động quá mà luôn phải lăn lộn, bươn chải. Khi quãng vắng thì lặn lội; buổi đò đông thì chịu cảnh eo sèo. Hai tính từ được đối nhau ở đầu hai câu thơ vừa giàu tính tạo hình vừa giàu tính biểu hiện. Kia một người phụ nữ gầy yếu như thân cò, gánh nặng trên vai, một thân một mình, bước trầy trật trên con đường lầy lội. Hàng chất về rồi, tránh mưa gió thì mất tiền, nên phải lặn lội ra đi. Và kia nữa cũng thân cò ấy lại phải xù lông xù cánh chao chát, cãi cọ tranh mua tranh bán, tranh xuống cho kịp đò, tranh lên cho kịp chợ. Chỗ đông người thì vã mồ hôi, quãng vắng thì trào nước mắt.

Nhưng đó là bà Tú trong con mắt của ông Tú, còn với bà không hề có một lời kêu ca phàn nàn mà là một thái độ chịu đựng vốn thường có của người phụ nữ phương Đông.

Những số từ được dùng rất khéo, vừa theo thứ tự tăng dần vừa đối nhau: một, hai, năm, mười, gợi được những khó khăn chồng chất ngày một tăng dần, và sức lực phi thường của người vợ, gánh vác tất cả. Thật là kiên cường nhưng sao mà tội nghiệp! Phần lớn phụ nữ nhờ chồng mà được hưởng niềm sung sướng, còn với bà Tú chỉ là thêm một món nợ cả đời. Nhập thân vào nhân vật, Trần Tế Xương nói hộ những nỗi thiệt thòi của vợ nhưng đồng thời cũng thấy rõ cái đức hi sinh của người bạn đời. Kết thúc hai câu thơ cũng là sau những khó khăn được đưa ra là lời khẳng định: âu đành phận / dám quản công. Một thái độ dứt khoát, một sự chấp nhận không cần bàn cãi, một cách ứng xử hiển nhiên. Người phụ nữ Việt Nam là vậy, bà Tú Xương là vậy, họ coi “giang sơn nhà chồng” là việc của mình, họ tự nguyện gánh vác không so đo oán than.

Bà chỉ âm thầm chịu đựng, cho nên ông Tú đã trách hộ bà:

Lời thơ như là tiếng chửi. Mà là chửi thật: “Cha mẹ thói đời…”. Không phải là người vợ chịu nhiều vất vả thiệt thòi chửi mà người chồng tự chửi mình đấy thôi. Chữ “hờ hững” nghe sao mà chua chát. Bà Tú lấy phải một ông chồng bạc bẽo, chẳng giúp gì cho gia đình, cho vợ, chẳng làm được trụ cột lại còn để vợ phải nuôi báo cô. Thật là có chồng mà như không có, thậm chí còn khổ hơn không chồng. Câu thư có chút vị đắng trong thơ Lấy lẽ của Hồ Xuân Hương:

Tóm lại, nổi bật trong bài thơ là hình ảnh bà Tú hiện thân của cuộc đời vất vả lận đận, là hội tụ của bao đức tính tốt đẹp: tần tảo, đảm đang, nhẫn nại quên mình lo toan cho cuộc sống của chồng con.

Có một con người không xuất hiện trực tiếp là ông Tú, những con mắt và trái tim của ông thì luôn luôn hiện hữu. Con mắt ông nhìn thấy rõ mọi nỗi đắng cay cực nhọc hàng ngày, và con tim thì thấu hiểu những nỗi cô đơn, tâm trạng âm thầm chịu đựng của bà. Bài thơ Thương vợ là một bản tự kiểm điểm, tự khiển trách hết sức chân thành và nghiêm khắc của Tú Xương. Mỗi lời thơ như một tiếng thở dài đau xót của một con người rất có ý thức trách nhiệm, nhưng bất lực. Đó là tấm lòng thương yêu cảm phục và biết ơn rất chân thành của người chồng đối với người vợ vì mình mà chịu nhiều đắng cay vất vả.

Tú Xương là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học Việt Nam. Ngoài những bài thơ trào phúng sắc nhọn, lấy tiếng cười làm vũ khí chế giễu và đả kích sâu cay bộ mặt xấu xa, đồi bại của cái xã hội thực dân nửa phong kiến, ông còn có một số bài thơ trữ tình, chứa chất bao nỗi niềm của một nhà nho nghèo về tình người và tình đời sâu nặng.

“Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương. Nó là một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo.

Sáu câu thơ đầu nói lên hình ảnh bà Tú trong gia đình là một người vợ rất đảm đang, chịu thương chịu khó. Nếu bà vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ “hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tả chân nam đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc” (câu đối của Nguyễn Khuyến) thì bà Tú lại là một người đàn bà:

“Quanh năm buôn bán” là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, không được một ngày nghỉ ngơi. Bà Tú “buôn bán ở mom sông”, nơi mỏm đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước, nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh. Hai chữ “mom sông” gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cảnh đời lắm cay cực, phải vật lộn kiếm sống, mới “nuôi đủ năm con với một chồng”.

Một gánh gia đình đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ. Thông thường người ta chỉ đếm mớ rau, con cá, đếm tiền bạc,… chứ ai “đếm” con, “đếm” chồng. Câu thơ tự trào ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia cảnh gặp nhiều khó khăn: đông con, người chồng đang phải “ăn lương vợ”.

Có thể nói, hai câu thơ trong phần đề, Tú Xương ghi lại một cách chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang của mình.

Phần thực, tô đậm thêm chân dung bà Tú, mỗi sáng mỗi tối đi đi về về “lặn lội” làm ăn như “thân cò” nơi “quãng vắng”. Ngôn ngữ thơ tăng cấp, tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ. Câu chữ như những nét vẽ, gam màu nối tiếp nhau, bổ trợ và gia tăng; đã “lặn lội” Lại “thân cò”, rồi còn “khi quãng vắng”. Nỗi cực nhọc kiếm sống ở “mom sông” tưởng như không thể nào nói hết được! Hình ảnh “con cò” cái cò trong ca dao cổ: “Con cò lặn lội bờ sông…”, “Con cò đi đón cơn mưa…”, “Cái cò, cái vạc, cái nông,..” được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh “thân cò” lầm lũi, đã đem đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú, cũng như thân phận vất vả, cực khổ, của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ:

“Eo sèo” là từ láy tượng thanh chỉ sự làm rầy rà bằng lời đòi, gọi liên tiếp dai đẳng: gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi “mặt nước” lúc “đò đông”. Một cuộc đời “lặn lội”, một cảnh sống làm ăn “eo sèo”. Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực. Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được “nuôi đủ năm con với một chồng’” phải. “lặn lội” trong mưa nắng, phải giành giật “eo sèo”, phải trả giá bao mồ hồ, nước mắt giữa thời buổi khó khăn! Tiếp theo là hai câu luận, Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt:

“Duyên” là duyên số, duyên phận, là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng. “Nắng”, “mưa” tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực. Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: “một… hai… năm… mười… làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương, chịu khó vì sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình. “Âu đành phận”, … “dám quản công” … giọng thơ nhiều xót xa, thương cảm, thương mình, thương gia cảnh nhiều éo le.

Tóm lại, sáu câu thơ đầu bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa một vài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lặng hi sinh cho hạnh phúc gia đình. Tú Xương thể hiện một tài năng điêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh. Các từ láy, các số từ, phép đối, thành ngữ và hình ảnh “thân Cò” … đã tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn văn chương.

Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi “mom sông” lúc “buổi đò đông” đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị. Ông tự trách mình:

Trách mình “ăn lương vợ”, mà “ăn ở bạc”. Vai trò người chồng, người cha chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn “hờ hững” với vợ con. Lời tự trách sao mà chua xót thế! Ta đã biết, Tú Xương có văn tài, nhưng công danh dở dang, thi cử lận đận. Sống giữa một xã hội “dở Tây, dở ta”, chữ nho mạt vận, lúc mà “Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co”, cho nên nhà thơ tự trách mình đồng thời cũng là trách đời đen bạc. Ông không xu thời để vinh thân phì gia “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò”.

Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con, thương gia cảnh nghèo. Tú Xương thương vợ cũng chính là thương mình vậy: nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi!

Bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Ngôn ngữ thơ bình dị như là tiếng nói đời thường nơi “mom sông” của những người buôn bán nhỏ, cách đây một thế kỉ. Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với “năm con, một chồng”) vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa). Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm: thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. “Thương vợ’” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam.

Tú Xương chiếm một địa vị vẻ vang trong nền văn học Việt Nam. Tên tuổi ông sống mãi với non Côi, sông Vị.

Thơ xưa viết về người vợ đã ít, mà viết về người vợ khi còn sống càng hiếm hoi hơn. Các thi nhân thường chỉ làm thơ khi người bạn trăm năm đã qua đời. Kể cũng là điều nghiệt ngã khi người vợ đi vào cõi thiên thu mới được bước vào địa hạt thi ca.

Bà Tú Xương có thể đã phải chịu nhiều nghiệt ngã của cuộc đời nhưng bà lại có niềm hạnh phúc mà bao kiếp người vợ xưa không có được: Ngay lúc còn sống bà đã đi vào thơ ông Tú Xương với tất cả niềm thương yêu, trân trọng của chồng. Trong thơ Tú Xương, có một mảng lớn viết về người vợ mà bài Thương vợ là một trong những bài xuất sắc nhất.

Tình thương vợ sâu nặng của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả gian lao và phẩm chất cao đẹp của người vợ.

Câu thơ mở đầu nói hoàn cảnh làm ăn buôn bán của bà Tú. Hoàn cảnh vất vả, lam lũ được gợi lên qua cách nói thời gian, cách nêu địa điểm. Quanh năm là suốt cả năm, không trừ ngày nào dù mưa hay nắng. Quanh năm còn là năm này tiếp năm khác đến chóng mặt, đến rã rời chứ đâu phải chỉ một năm. Địa điểm bà Tú buôn bán là mom sông, cái doi đất nhô như lời giới thiệu, lại như một bối cảnh làm hiện lên hình bà Tú tần tảo, tất bật ngược xuôi:

Quanh năm buôn bán ở mom sông.

Thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tú Xương mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Có điều hình ảnh con cò trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ Tú Xương còn tội nghiệp hơn. Con cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian (như con cò trong ca dao) mà cái rợn ngợp của thời gian. Chỉ bằng ba từ khi quãng vắng tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy lo âu cái rợn ngợp của thời gian, đã làm hao hụt cả ý thơ. So với câu ca dao: Con cò lặn lội bờ sông, câu thơ của Tú Xương:

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Là cả một sự sáng tạo. Cách đảo ngữ – đưa ra từ lặn lội lên đầu câu, cách thay từ – thay từ con cò bằng thân cò, càng làm tăng nỗi vất vả gian truân của bà Tú. Từ thân cò gợi cả nỗi đau thân phận, so với từ con của Tú Xương cũng sâu sắc, thấm thía hơn.

Nếu câu thơ thứ ba gợi nỗi vất vả đơn chiếc thì câu thứ tư lại làm rõ sự vật lộn với cuộc sống của bà Tú:

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Câu thơ gợi cảnh chen chúc, bươn bả trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Sự cạnh tranh chưa đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng. Trong ca dao, người mẹ từng dặn con: Con ơi nhơ lấy câu này/Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua. “Buổi đò đông” không chỉ có những lời phàn nàn, mè nheo, cau gắt, những sự chen lấn xô đẩy mà còn chứa đầy bất trắc hiểm nguy. Hai câu thực đối nhau về ngữ (khi quãng vắng đối với buổi đò đông) nhưng lại thừa tiếp nhau về ý để làm nổi bật sự vất vả gian truân của bà Tú: đã vất vả, đơn chiếc, lại thêm sự bươn bả trong hoàn cảnh chen chúc làm ăn.

Hai câu thực nói thực cảnh bà Tú đồng thời cho ta thấy thực tình của Tú Xương: tấm lòng xót thương da diết.

Cuộc sống vất vả gian truân càng ngời lên phẩm chất cao đẹp của bà Tú. Bà là người đảm đang tháo vát:

Nuôi đủ năm con với một chồng

Mỗi chữ trong câu thơ Tú Xương đều chất chứa bao tình ý, từ đủ trong nuôi đủ vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng. Bà Tú nuôi đủ cả con, cả chồng, nuôi đảm bảo đến mức: “Cơm hai bữa: cá kho rau muống – Quà một chiều: khoai lang, lúa ngô” (Thầy đồ dậy học).

Trong hai câu luận, Tú Xương một lần nữa cảm phục sự hy sinh rất mực của vợ:

Năm nắng mười mưa dám quản công

Ở câu thơ này, “nắng mưa” chỉ sự vất vả, “năm, mười” là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ chéo (năm nắng mười mưa) vừa nói lên sự vất vả gian lao, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú.

Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũng bắt gặp hình ảnh hai người: bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp ở phía sau, nhìn tinh mới thấy. Khi đã thấy rối thì ấn tượng thật sâu đậm. Ở bài thơ Thương vợ cũng vậy. Ông Tú không xuất hiện trực tiếp nhưng vẫn hiển hiện trong từng câu thơ. Đằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là cả một tấm lòng, không chỉ thương mà còn tri ân vợ. Về câu thơ: “Nuôi đủ năm con với một chồng”, có người cho rằng ở đây ông Tú tự coi mình là một thứ con đặc biệt để bà Tú phải nuôi. Tú Xương đã không gộp mình với con để nói mà tách riêng, con riêng rất rạch ròi là để ông tự riêng tri ân vợ.

Nhà thơ không chỉ cảm phục, biết ơn sự hy sinh rất mực của vợ mà ông còn tự trách, tự lên án bản thân. Ông không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm. Bà Tú lấy ông là do duyên nhưng duyên một mà nợ hai. Tú Xương tự coi mình là cái nợ mà bà Tú phải gánh chịu. Nợ gấp đôi duyên, duyên ít nợ nhiều. Ông chửi thói đời bạc bẽo, vì thói đời là một nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ. Nhưng Tú Xương cũng không đổ vấy cho thói đời. Sự hờ hững của ông với con cũng là một biểu hiện của thói đời bạc bẽo. Câu thơ Tú Xương tự rửa mát mình cũng là lời tự phán xét, tự lên án:

Có chồng hờ hững cũng như không

Ở cái thời mà xã hội đã có luật không thành văn bản đối với người phụ nữ: “xuất giá tòng phu” (lấy chồng theo chồng), đối với mối quan hệ vợ chồng thì “phụ xướng, phụ tuỳ” (chồng nói, vợ theo), thế mà có một nhà nho dám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự thừa nhận mình là quân ăn lương vợ, không những đã biết nhận ra thiếu sót, mà còn dám tự nhận khuyết điểm. Một con người như thế chẳng đẹp lắm sao.

Nhan đề Thương vợ chưa nói hết sự sâu sắc trong tình cảm của Tú Xương đối với vợ cũng như chưa thể hiện được đầy đủ vẻ đẹp nhân bản của hồn thơ Tú Xương. Ở bài thơ này, tác giả không chỉ thương vợ mà còn ơn vợ, không chỉ lên án “thói đời” mà còn tự trách.

Nhà thơ dám tự nhận khuyết điểm, càng thấy mình khiếm khuyết càng thương yêu, quý trọng vợ hơn.

Tình thương yêu, quý trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với những cảm xúc quen thuộc trong văn học trung đại. Cảm xúc mới mẻ đó lại được diễn tả bằng hình ảnh và ngôn ngữ quen thuộc của văn học dân gian, chứng tỏ hồn thơ Tú Xương dù mới lạ, độc đáo vẫn rất gần gũi với mọi người, vẫn có gốc rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc.

Trần Tế Xương (bút danh là Tú Xương) là nhà thơ trào phúng nổi tiếng, có lẽ là nhà thơ trào phúng đặc sắc nhất trong nền văn học của nước nhà. Thơ trào lộng, châm biếm, đả kích của Tú Xương sở dĩ được nhiều người yêu thích vì có tính chất trữ tình (trong tiếng cười có nước mắt). Dòng trữ tình trong thơ Tú Xương đôi khi được tách ra thành những bài thơ trữ tình thuần khiết, thấm thía. Hai kiệt tác “Sông Lấp” và “Thương vợ” tiêu biểu cho dòng thơ trữ tình của Tú Xương.

Bài thơ sau đây là bài “Thương vợ” của Tú Xương:

Trần Tế Xương lận đận trong thi cử, đi thi đến lần thứ tám mới đậu được cái tú tài. Ông học giỏi nhưng phải cái ngông quá, thật ra thái độ ngông của ông là một cách ông phản kháng lại chế độ thi cử lạc lậu, quan trường “ậm ọc” lúc bấy giờ. Mà đậu được cái tú tài thì rồi cũng làm “quan tại gia” thôi. Hồi đó phải đậu cử nhân mới được bổ tri huyện. Thế là bà Tú gần như phải nuôi chồng suốt đời. Ông Tú chỉ còn biết đem tài hoa của mình mà ghi công cho bà Tú:

Từ “mom” thật là hay, vừa thấy được nỗi gian truân của bà Tú buôn bán quanh năm bên bờ sông Vị, vừa thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với việc buôn bán khó nhọc của vợ. Từ “mom” là tổng hợp nghĩa của các từ ven, bờ, vực, thềm, thành một từ sáng tạo của nhà thơ làm giầu thêm cho tiếng Việt. Bà Tú buôn thúng bán bưng quanh năm ở “mom sông” mà nuôi chồng, nuôi con:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”

Câu thơ chỉ mấy con số khô khốc thế vậy mà tế toái lắm đó! “Nuôi đủ năm con” là vì con, phải nuôi, nên đếm ra để mà nuôi. Nhưng còn chồng thì một chồng chứ mấy chồng, cớ sao lại cũng phải đếm ra “một chồng”? Là vì chồng cũng phải nuôi, mà bà Tú với cái gánh trên vai nuôi năm đứa con đã là vất vả, lại thêm một ông Tú trong nhà nữa thì gánh nặng gấp đôi. Thời đó mà nuôi một ông Tú, lại là Tú Xương nữa thì nhiêu khê lắm.

Nhưng bà Tú được an ủi là vì ông Tú, cái con người tưởng như chỉ biết bông đùa, cười cợt đó lại để tâm đến từng bước chân của bà trên đường lặn lội buôn bán:

Có thể nói lòng thương vợ của nhà thơ dào dạt lên trong hai câu thơ này. Hình ảnh lặn lội thân cò được tác giả mô phỏng theo một biểu tượng trong thi ca dân gian để nói về người phụ nữ lao động:

Nếu như từ “lặn lội” được đảo ra phía trước chủ ngữ để nhấn mạnh sự vất vả của bà Tú, thì từ “eo sèo” gợi lên âm thanh hỗn tạp (tiếng kì kèo mặc cả, tiếng cãi cọ tranh giành) của “buổi đò đông”. Hai tình huống đối lập thật hay: “vắng” và “đông”. Người phụ nữ gánh hàng lặn lội trên quãng đường vắng thật là khổ. Mà đến chỗ “đò đông” thì thật là đáng sợ!

Nghĩa là nhìn từ phía nào, nhà thơ cũng thương vợ, tình thương thấm thía, cảm động.

Sang hai câu luận, tác giả chuyển sang diễn tả nội tâm của bà Tú, lời thơ như lời độc thoại của người vợ:

Nhân dân ta thường nói “vợ chồng là duyên nợ”. Nhà thơ Tú Xương đã chỉ từ ghép “duyên nợ” thành hai từ đơn: “duyên – nợ”. “Duyên” thì thiêng liêng rồi vì đã có sự tham gia của đấng vô hình (ông Tơ bà Nguyệt), còn “nợ” thì đã thành trách nhiệm nặng nề. “Một duyên hai nợ” đã diễn tả được sự vận động trong tâm trí của bà Tú. “Một duyên hai nợ âu đành phận” là bà Tú đã thuận theo lòng trời và thuận theo lòng người (tấm lòng của chính bà!). Nói gọn lại là bà Tú đã chấp nhận! Và chấp nhận cuộc hôn nhân duyên nợ này, bà chấp nhận một ông đồ nho ngông “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”, bà chấp nhận vị quan “ăn lương vợ” nên bà đâu “dám quản công”:

“Năm nắng mười mưa dám quản công”

Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “năm nắng mười mưa”. Phải nói những con số trong thơ Tú Xương rất có thần. Ta đã thấm thía với hai số năm – một trong câu thừa đề (Nuôi đủ năm con với một chồng). Giờ đây là sự linh diệu của những con số một – hai và năm – mười trong câu luận. “Một duyên hai nợ” đối với “Năm nắng mười mưa”, cho thấy gian khổ cứ tăng lên, bà Tú chịu đựng hết.

Trước người vợ giỏi giang, tần tảo, chịu đựng mọi gian lao vất vả để “nuôi đủ năm con với một chồng” thì nhà thơ chỉ còn biết tự trách mình.

Vì quá thương vợ mà nhà thơ tự trách mình, trách một cách nặng nề. “Cha mẹ thói đời…” thì đã thành lời xỉ vả mình. Thật ra là một cách ông Tú nhún mình để cho công trạng của bà Tú nổi lên, chứ Tú Xương đâu phải là người “ăn ở bạc”. Ăn chơi sa đà thì có, “hờ hững” nữa, thì nhà thơ đã thành thật nói rồi, chứ bạc tình, bạc nghĩa thì không. Gang thép với cường quyền mà nhũn với vợ như thế thì thật là con người đáng kính.

Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động, Tú Xương đã thể hiện được hình ảnh người phụ nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con. Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa.

Bao nhiêu công trạng trong gia đình, ông Tú dành cho bà Tú, ông chỉ nhận về cho mình một chữ “không”. Nhưng bình tâm mà xét thì ông Tú cũng xứng với bà Tú vì trên đất nước gian lao và vất vả này có hàng triệu người như bà Tú, nhưng chỉ có một bà Tú là được vào cõi thơ, cõi bất tử!

Trần Tế Xương hay còn có bút danh là Tú Xương, ông là một tác giả nổi tiếng với nhiều tác phẩm mang chất trào phúng và trữ tình. Ông chỉ sống 37 tuổi và học vị tú tài, nhưng sự nghiệp thơ ca của ông đã trở thành bất tử. Ông để lại khoảng 100 tác phẩm gồm: thơ, văn tế, phú, câu đối. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là bài thơ “Thương vợ”. Một bài thơ tô đọng trong đó là những phẩm chất tốt đẹp của người vợ, người phụ nữ đảm đang, chịu thương, chịu khó vì hạnh phúc của chồng con. Bài thơ được Tú Xương viết như sau:

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật với bố cục được chia làm bốn phần: đề, thực, luận, kết. Mỗi phần hai câu nhằm khắc họa một cách sắc nét hình ảnh bà Tú- vợ Tú Xương, cũng như đang nói lên một phần nào đó hình ảnh người phụ nữ ở xã hội xưa.

Trong hai cầu đề Tú Xương đã giới thiệu một cách khái quát về công việc của bà Tú. Đó là sự tần tảo “quanh năm” buôn bán ở mom sông, việc mua bán này không hề có cửa tiệm hay vốn liếng nhiều. Đây là một công việc vất vả, cực nhọc, thu nhập bất ổn sông bà Tú vẫn đang “nuôi đủ” năm con với một chồng mà không một lời oán trách. Trong câu này, tác giả tách mình một bên, con một bên nhằm nhấn mạnh việc, mặc dù ông đỗ tú tài nhưng không được làm quan, phải đặt gánh nặng lên đôi vai của người vợ, người mà ông yêu thương. Câu thơ như là lời trách nặng nề của tác giả đối với chính bản thân mình, Nhưng qua câu thơ ta cũng thấy được cái tình cảm yêu thương mà Tú Xương dành tặng cho vợ mình.

Để diễn tả một cách cụ thể hơn sự vất vả trong công việc của bà Tú, trong hai câu thực tác giả đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao Việt Nam để biến thành “thân cò” nhằm thể hiện sự lặn lội vất vả của bà Tú trong công việc mưu sinh hàng ngày tại nơi “quãng vắng”. Bên cạnh đó, Tú Xương còn khái quát một cách sinh động cảnh bán buôn ở mom sông của bà Tú qua câu “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”. Đó là hình ảnh nhốn nháo, tranh chấp mua bán của nhiều con người có công việc như bà Tú. Nhìn chung, cuộc đời bà Tú không ít khó khăn gian khổ.

Sự khó nhọc, vất vả của bà Tú không được dừng lại ở hai phần đề và thực mà nó còn tăng lên ở phần luận. Bằng việc sử dụng hai câu thuật ngữ “một duyên, hai nợ” và “năm nắng mười mưa” tác giả đã toát lên sự hi sinh cao cả của bà Tú, đó là việc chấp nhận số phận chăm lo cho chồng con và dù nắng hay mưa cũng không bỏ việc. Ở đây, Tú Xương đã nêu lên đức tính tốt đẹp của bà Tú nói riêng và người phụ nữ nói chung, đó là sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại, sẵn sàng hi sinh vì gia đình. Đồng thời qua đây tác giả cũng bộc lộ nỗi niềm biết ơn và quý trọng đối với bà Tú.

Cùng với quý trọng và biết ơn bà Tú ở hai câu luận, thì hai câu kết là một cách nói ngao ngán về nỗi niềm tâm sự của tác giả- Tú Xương. Một lời thở dài về “cái thói đời” ông nhắc đến chính là cái xã hội lúc bấy giờ- một xã hội mang tính nửa tây nửa ta, nửa phong kiến, nửa thực dân với những tư tưởng và đạo lí bị suy thoái. Bên cạnh ông tự trách bản thân sao mà “ăn ở bạc” thi cử hoài mà không đỗ đạt, chẳng thể làm quan, không giúp được gì cho vợ con, đẩy vợ con phải chịu khổ vì mình. Cuối cùng mọi thứ đúc kết trong lời than đầy xót xa của Tú Xương

“Có chồng hờ hững cũng như không”.

Tóm lại “Thương vợ” là một bài thơ hay mang đậm giá trị cảm xúc của Tú Xương. Nó hay trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh trong ca dao, thành ngữ của Tú Xương. Bài thơ lại mang đậm cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị mà sâu sắc, nói lên tình cảm yêu thương, sự quý trọng mà Tú Xương dành cho vợ. Bên cạnh đó, bài thơ còn thể hiện đức tính đẹp của người phụ nữ Việt Nam xã hội xưa nói chung và bà Tú nói riêng.

Thơ văn Trần Tế Xương gồm hai mảng lớn: trào phúng và trữ tình. Có bài hoàn toàn là đả kích, châm biếm, có bài thuần là trữ tình. Tuy vậy, hai mảng không tuyệt đối ngăn cách. Thường là châm biếm sâu sắc nhưng vẫn có chất trữ tình. Ngược lại, trữ tình thấm thìa cũng pha chút cười cợt theo thói quen trào phúng. Thương vợ là một bài thơ như vậy.

Thương vợ là bài thơ phản ánh hình ảnh bà Tú vất vả, đảm đang, lặng lẽ hi sinh vì chồng vì con, đồng thời thể hiện tình thương yêu, quý trọng và biết ơn của Tú Xương đối với người vợ của mình.

Chỉ bằng vài lời kể nôm na, bình dị, Tú Xương đã giúp người đọc hình dung ra cảnh bà Tú một mình mang trên vai gánh nặng gia đình, lặn lội nơi đầu sông, bến chợ.

Mom sông là mỏm đất nhô ra dòng sông, cũng là một địa điểm ở phía Bắc thành phố Nam Định. Ngày xưa, đây là nơi trên bến dưới thuyền, người từ các nơi đổ về buôn bán. Quanh năm, bà Tú làm ăn ở đó để kiếm tiền trang trải cho cuộc sống gia đình gồm hai vợ chồng và năm đứa con thơ.

Tại sao bà Tú lại chấp nhận sự lam lũ, vất vả như thế? Đương nhiên là để nuôi chồng, nuôi con. Ngày xưa, xã hội phong kiến dành cho phụ nữ bổn phận là thờ chồng, nuôi con. Với bà Tú, chắc chắn là có chuyện thờ chồng. Thờ chồng bao hàm cả nghĩa vụ nuôi chồng. Đó là sự bất công của xã hội, nhưng xét về mặt đức độ thì sức đảm đang tháo vát của những người vợ như bà Tú thật đáng nể phục.

Cái không bình thường trong bài thơ là cách đếm số người. Giá như tính gộp lại là sáu miệng ăn và một mình bà Tú mà phải cáng đáng đến chừng ấy cũng đã là nhiều. Trên đời, phần lớn phụ nữ cũng gặp cảnh như thế. Đằng này, tác giả đếm rõ ràng là: năm con với một chồng. Đặc biệt là tách riêng ông chồng ra và đếm là một. Xuân Diệu có nhận xét rất hay khi đọc câu thơ này: “Hoá ra ông chồng cũng phải nuôi, tựa hồ như lũ con bé bỏng nên mới đến ngang hàng với chúng nó: một miệng ăn, hai miệng ăn…”.

Mà bà Tú nuôi chồng đâu có đơn giản như nuôi con. Cơm ăn đã đành, đôi khi phải có tí rượu tí trà cho ông ngâm nga câu thơ câu phú. Áo mặc đã đành, còn phải có bộ cánh tử tế cho ông đi đây đi đó, chứ ai lại để cho ông quanh năm “Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông” và “Một đoàn rách rưới con như bố”. Lại phải cho ông xổng xểnh ít tiền trong túi để gặp bạn, gặp bè. Ấy thế mà bà nuôi đủ, tức là đủ cả về số lượng lẫn chất lượng. Như vậy là bà Tú không chỉ nuôi ông Tú mà còn cung phụng, còn thờ.

Nhưng kể ra được những điều ấy chứng tỏ là ông chồng thấu hiểu và biết đánh giá một cách xứng đáng công lao của bà vợ. Như vậy là thương vợ.

Đến câu thứ ba, hình ảnh bà Tú một mình thui thủi làm ăn càng hiện lên cụ thể và rõ nét hơn:

Tú Xương dùng một hình tượng quen thuộc trong văn chương dân gian nói về người phụ nữ lao động ngày xưa: Con cò lặn lội bờ sông nhưng ông không so sánh mà đồng nhất thân phận bà Tú với thân cò. Tấm thân mảnh dẻ, yếu đuối của bà Tú mà phải chịu dãi nắng dầm sương thì đã là gian nan, tội nghiệp, vậy mà bà còn phải lặn lội sớm trưa. Nghĩa đen của từ này cũng gợi ra đầy đủ cái vất vả, khó nhọc trong nghĩa bóng. Tấm thân cò ấy lại lặn lội trên quãng vắng đường xa. Nói quãng vắng là tự nhiên nổi lên cái lẻ loi, hiu quạnh, lúc cần không biết nương tựa vào đâu, chưa nói đến những hiểm nguy bất trắc đối với thân gái dặm trường. Eo sèo chi sự nói đi nói lại, có ý bất bình. Đò đông có thể hiểu hai cách: một là đò ngang đã chở đầy người, hai là đò từ các nơi tập hợp lại rất đông. Hiểu cách nào cũng đúng với ý định đặc tả nỗi khó nhọc, gian nan trong cảnh kiếm ăn của bà Tú.

Bên cạnh nỗi khổ vật chất còn có nỗi khổ tinh thần. Vì chồng con mà phải lặn lội đường xa quãng vắng, nhưng liệu chồng con có biết cho chăng? Và bà Tú cứ âm thầm lo toan như vậy cho đến hết đời, hết kiếp số phận bà là vậy.

Câu thơ miêu tả mà đầy chất trữ tình, nghe thật xót xa, tội nghiệp! Ông Tú tỏ ra thông cảm với nỗi khó nhọc của vợ và thương vợ đến vậy là sâu sắc.

Ông Tú hiểu thấu công việc làm ăn của bà Tú. Khi quãng vắng, buổi đò đông, bà đều vất vả khó nhọc, không kể gian nan, không quản thân mình, một lòng vì chồng, vì con. Bà Tú mà nghe được những lời như thế của ông chắc cũng thấy gánh nặng trên vai mình nhẹ bớt và trong thâm tâm bà cũng được an ủi ít nhiều.

Nhưng không phải chỉ có thế, giọng điệu trữ tình kín đáo lồng trong hai câu tường thuật miêu tả (câu 3, 4) chứng tỏ tim ông Tú không phải dửng dưng. Thương vợ nhưng cũng là tự trách mình. Không phải chỉ tự coi mình là một miệng ăn để vợ phải nuôi mà còn hổ thẹn, thấy mình có cái gì đó như nhẫn tâm. Ông chồng trụ cột gia đình là mình ở đâu rồi mà để vợ phải nhọc nhằn, gian nan đến vậy? Tự trách mình như thế cũng là thương vợ thêm sâu.

Tú Xương lại vận dụng thêm một thành ngữ, một câu ca dân gian khác: Vợ chồng là duyên là nợ, Một duyên hai nợ ba tình. Vợ chồng gặp nhau là do ông Tơ bà Nguyệt sắp đặt từ kiếp trước. Có duyên thì tốt đẹp, hạnh phúc, là nợ thì đau khổ một đời.

Có lẽ ở đây, ông Tú mượn tâm tư bà Tú mà suy ngẫm hay đúng ra, ông hoá thân vào bà để cảm thông sâu sắc hơn: lấy chồng như thế này thì cũng là duyên hoặc nợ thôi, số phận đã thế thì cũng đành thế. Cho nên có khổ cực bao nhiêu, năm nắng mười mưa cũng phải chịu, phải lo, nào dám quản công. Chẳng còn là chuyện thân nữa, dù là thân cò, mà đã là chuyện phận rồi, chuyện số phận.

Ôi! Lấy vợ lấy chồng, người ta bảo là duyên là nợ, nghĩ cũng đúng thật! Số phận đã như thế thì cũng đành thôi, chứ biết làm thế nào?! Cái số kiếp người phụ nữ như tấm lụa đào, như hạt mưa sa, như con thuyền lênh đênh mười hai bến nước, như cơm nguội đỡ khi đói lòng… Trách làm sao được! Vậy thì còn dám kể gì gian lao, dám quản gì mưa nắng!

Lại thêm nghĩa của mấy nhóm từ âu đành, dám quản. Âu đành là một sự bất đắc dĩ, xếp lại, nén xuống những gì bất bình, tủi nhục. Dám quản tức là không dám kể gì đến công lao, là thái độ chấp nhận gánh chịu mọi sự nhọc nhằn. Thêm âm thanh nặng nề của từ phận ở cuối câu khép lại càng làm cho câu thơ phù hợp với cảm xúc bị dồn nén vào trong.

Vậy là chỉ bốn câu thơ mà chân dung bà Tú hiện lên hoàn chỉnh: từ vất vả bon chen, lăn lộn ở ngoài đời, đến năm liệu bảy lo trong gia đình, từ con người của công việc làm ăn, đảm đang tháo vát, chịu thương chịu khó, đến con người của đức độ, thảo hiền, đầy tinh thần vị tha. Hình ảnh bà Tú tiêu biểu cho phẩm chất tốt đẹp của những người vợ, người mẹ Việt Nam.

Thương vợ mà nói ra là mình thương thì cũng đã quý. Ở đây, ông Tú đã nhập thân vào bà Tú để thấu hiểu nỗi niềm và thể hiện tình cảm của mình bằng những lời thơ chân thành, thấm thía. Như vậy mà không phải là thương vợ sâu sắc hay sao?

Đó là thương vợ, còn tự trách mình? Ngày ngày ngồi không, làm một miệng ăn cho vợ nuôi, nghiễm nhiên hưởng thụ trong khi vợ phải ngược xuôi tần tảo, nghe cũng đã có cái gì đó bất nhẫn. Nay vợ thầm oán trách, tủi hờn mà quy số phận bất hạnh ấy là do một duyên hai nợ, thử hỏi ông chồng làm sao mà không nhận thấy lỗi của mình? Tự trách đến như vậy là ngoài tình thương vợ đã có thêm ý thức trách nhiệm.

Câu kết là một tiếng chửi đổng cái thói đời ăn ở bạc. Không phải lần này ông Tú mới chửi như thế. Trong bài Gặp người ăn xin, ông cũng đã từng chửi – chửi mình mà thực ra là chửi đời: Người đói, ta đây cũng chẳng no, Cha thằng nào có, tiếc không cho. Chỉ khác ở chỗ là lần này, lời chửi tuy có ném thẳng vào đời, nhưng trước hết là ném vào mình. Để tự trách mình thì ông phải chửi. Mà ông phải đặt câu chửi ấy vào miệng bà Tú thì mới đích đáng! Nhưng bà Tú vốn con gái nhà dòng, chẳng đời nào lại chanh chua, thô tục dám chửi chồng. Nhưng đối với ông Tú thì tự trách đến mức phải bật ra tiếng chửi như thế là giận mình thật sự. Bài thơ ông viết ra cốt để bày tỏ tình thương yêu, quý trọng người vợ đảm đang và tự trách mình là đồ tầm thường, vô tích sự.

Bà Tú vất vả đến thế, ông Tú tự trách mình đến thế thì đương nhiên là phải bực bội đến bật ra tiếng chửi. Nhận lỗi chưa đủ, nguyền rủa mình bằng câu chửi đổng mới xứng với tội lỗi, ông Tú lại chẳng dè dặt gì với chữ nghĩa mà dùng luôn cách chửi dân gian: Cha mẹ thói đời.

Bà Tú không hề coi chồng là ăn ở bạc, nhưng ông Tú thì gọi đích danh tội lỗi của mình ra như vậy, vợ chồng với nhau mà như thế thì còn gì mà không ông Tú lại không nói trực tiếp là mình ăn ở bạc mà khái quát nó lên thành thói đời. Thói đời đen bạc tượng trưng cho bản chất của xã hội kim tiền dưới thời thực dân phong kiến, ở thành thị điều đó càng tệ hại hơn. Hoá ra đệ tử của thánh hiền là ông Tú mà cũng bị nhiễm cái thói đời xấu xa ấy. Như vậy là từ hổ thẹn, ông Tú đã đi tới chỗ xót xa, tự trách.

Câu kết là sự phán xét vô cùng đau đớn nhưng cũng rất công minh, ông Tú xỉ vả mình là ăn ở bạc, nhưng xét ra cái bạc ấy cũng chỉ mới ở mức hờ hững. Hờ hững trước việc nhà, trước mọi lo toan, vất vả, trước thái độ cam phận của vợ. Đã là vợ chồng, trăm sự cùng lo mới phải. Bà Tú không bắt buộc ông vất vả như bà mà chỉ mong ông đừng hờ hững, ông hãy quan tâm lo cho gia đình chút ít, trước hết là ông hiểu cho bà, như thế cũng đủ cho bà ấm lòng và có niềm vui.

Cả bài thơ cô đúc lại ở ý này: ở câu đề, ông chồng có mặt với tư cách là một miệng ăn phải nuôi, ở câu thực, câu luận, ông chồng vắng bóng. Bài thơ chấm dứt bằng sự day dứt, ân hận trong câu kết: Có chồng hờ hững cũng như không, càng làm tăng thêm nỗi thương vợ của nhà thơ. Đó là cách nói của Tú Xương, đã nói gì là nói ráo riết đến tận cùng. Tuy nhiên, có điều này ông đã nói oan cho mình: đó là hai chữ hờ hững. Vì giận mình mà ông nói thế thôi, chứ thực lòng ông đâu có hờ hững với bà. Bởi nếu ông hờ hững thì đã không có bài Thương vợ thấm thía và cảm động đến như vậy.

Tú Xương nhà thơ trào phúng xuất sắc của văn học trung đại. Ông thuộc lớp nhà Nho cuối mùa, sống giữa buổi giao thời, trong lúc thời đại phong kiến suy tàn, những giá trị của quá khứ đang dần mất đi nhưng cái mới chưa kịp hình thành, những nét đẹp truyền thống đang dần rạn vỡ. Bởi vậy thơ ông đầy tiếng u uất, chua chát. Nhưng chất trào phúng trong thơ ông chỉ là “chân trái” còn “chân phải” vẫn là chất trữ tình.

Thơ ông luôn khắc khoải những suy tư, âu lo rộng là với xã hội, hẹp là với gia đình, với bà Tú – người vợ hết thực tần tảo. Bài thơ Thương vợ đã thể hiện đầy đủ chất trữ tình cũng như chất trào phúng ấy trong thơ ông. Viết về người vợ là điều hiếm thấy trong thơ xưa, đặc biệt là khi người vợ còn sống.

Riêng với Tú Xương, ông không chỉ viết về vợ mà còn có hẳn một đề tài riêng về bà Tú: Đau mắt, Văn tế sống vợ, Hỏi mình,… điều đó đã cho thấy vị trí, ý nghĩa to lớn của người vợ trong cuộc đời ông. Hai câu đề tác giả giới thiệu tổng quan về bà Tú cũng như công lao to lớn của bà đối với gia đình:

Tú Xương đã mô tả rất chính xác về nghề nghiệp của bà Tú đó là buôn gạo ở ven sông. Công việc của bà tuần hoàn, đều đặn suốt năm, dường như không có bất cứ lúc nào bà được nghỉ ngơi, có được thời gian cho riêng mình. Không gian bà làm việc cũng chứa đựng đầy sự nguy hiểm. Bà Tú phải làm việc cực nhọc quanh năm, với bao vất vả khó khăn, bà chính là trụ cột của gia đình.

Bà không những phải nuôi con mà còn phải nuôi thêm chồng . Vậy là một người đàn bà phải nuôi sáu miệng ăn trong gia đình. Trong câu thơ Tú Xương tự tách mình riêng ra một vế so với năm đứa con, cho thấy ông tự nhận thức được gánh nặng của thân đối với vợ, gánh nặng ấy còn hơn cả năm đứa con. Nếu như những đứa con chỉ cần đáp ứng nhu cầu ăn uống, quần áo cho chúng thì với ông Tú ngoài những nhu cầu cơ bản, còn phải đáp ứng cả thú ăn, thú chơi của ông. Câu thơ thấy một nụ cười tự châm biếm chính mình.

Nỗi vất vả, gian truân của bà Tú tiếp tục được tô đậm ở hai câu tiếp theo: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Èo sèo mặt nước buổi đò đông”. Phép đảo ngữ: đẩy “lặn lội” “eo sèo” lên đầu câu, tô đậm nỗi vất vả, nhọc nhằn của bà Tú trong cuộc mưu sinh. “Đò đông” gợi nên sự nguy hiểm trong việc đi lại, buôn bán hàng ngày “Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua”.

Hình ảnh bà Tú được miêu tả qua phép ẩn dụ “thân cò” đầy ám ảnh, gợi dáng dấp nhỏ bé, chịu đựng, bơ vơ, côi cút đến tội nghiệp. Hình ảnh cái cò lặn lội vốn là mẫu gốc trong văn học dân gian, cho thấy sự tảo tần, lam lũ của người lao động, đồng thời gợi sự đồng cảm nơi người. Câu 3,4 với hình ảnh ẩn dụ “thân cò” kết hợp với từ đầy tình tạo hình“lặn lội” đã khắc sâu hơn nỗi nhọc nhằn trong cuộc mưu sinh của bà Tú.

Duyên vợ chồng vốn do trời định sẵn, còn “nợ” là gánh nặng, nếu hai người có cuộc sống tốt đẹp ấy là duyên, cuộc sống ngang trái, bất hạnh ấy là nợ. Trong câu thơ: “Một duyên hai nợ âu đành phận/ Năm nắng mười mưa dám quản công” cho thấy cái duyên với chồng thì ít mà cái nợ với nhau thì nhiều.

Ông Tú tự nhận thấy mình là cái nợ, là gánh nặng suốt đời của bà Tú. Nhưng bà Tú không hề đay nghiến điều đó, mà hết lòng hi sinh, như một lẽ tự nhiên, âm thầm không đòi hỏi hay oán trách bất cứ điều gì với ông Tú. Với sáu câu thơ đầu, Tú Xương đã khắc họa chân thực và đầy đủ nhất vẻ đẹp tảo tần, chịu thương, chịu khó của bà Tú đối với gia đình. Chỉ đến hai câu thơ cuối cùng hình ảnh ông Tú mới xuất hiện:

Tiếng chửi cất lên vô cùng gay gắt, ném vào cuộc đời cũng chính là tự mắng chính mình. “Thói đời” – những quy tắc hà khắc của chế độ phong kiến, phân biệt đối xử, trọng nam khinh nữ, coi việc nhà, việc mưu sinh là của đàn bà. Là cái xã hội thực dân nửa phong kiến đã đẻ ra thói đời bạc bẽo, những bất công vô lí. Tiếng chửi ấy xuất phát từ lòng yêu thương và biết ơn vô bờ của ông Tú dành cho vợ.

Tác phẩm là sự việt hóa của thể thơ thất ngôn bát cú. Tú Xương có sự đan xen, kết hợp hài hòa giữa chất trữ tình và chất trào phú, trong đó chất trữ tình là chủ đạo để nói lên lòng biết ơn sâu sắc với vợ. Đây đồng thời cũng là nét đặc sắc và độc đáo trong thơ Tú Xương. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giản dị, như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Hình ảnh thơ quen thuộc, giản dị tạo cho câu thơ vẻ đẹp tự nhiên, chân thành nhưng vẫn có sức truyền cảm mạnh mẽ.

Với dung lượng của một bài thơ ngắn nhưng Tú Xương đã đem đến những nét vẽ đầy đủ và trọn vẹn nhất về vẻ đẹp nhân cách, phẩm chất hi sinh cao quý của bà Tú đối với gia đình. Đồng thời đây cũng là những lời thơ tự trào phúng về sự bất lực của bản thân. Ngoài ra, bài thơ cũng là sự thành công trên nhiều phương diện: ngôn ngữ, hình ảnh, kết hợp giữa chất trào phúng và trữ tình.

(Ca dao)

Hình ảnh của người phụ nữ luôn là đề tài muôn thuở cho nền văn chương kim cổ Việt Nam. Tuy nhiên, thơ văn viết về người vợ bằng tình cảm của một người chồng đã ít nay lại viết về người vợ đang sống lại còn hiếm hoi hơn. Và Trần Tế Xương là một trong những bậc thức giả hiếm hoi của nền thơ ca trung đại Việt Nam đã đưa hình ảnh người vợ tần tảo của mình ngay khi bà vẫn còn là một đóa hoa tươi tắn trên đường đời vào những dòng thơ trữ tình nhưng cũng không kém phần trào phúng làm bật lên được đức hi sinh đảm đang, tấm lòng tháo vát chịu thương chịu khó của người bạn đời, bà Tú, qua đó cũng thể hiện tấm lòng tri ân đến người vợ của mình :

Trần Tế Xương, thường gọi là Tú Xương, sống trong buổi giao thời đầy nghèo khổ nửa thực dân Pháp – nửa phong kiến. Ông là người thông minh, ham học, hào hoa, phóng túng, có tài làm thơ hay nhưng lại lận đận trên con đường thi sử và nổi tiếng chủ yếu ở hai mảng thơ: trào phúng và trữ tình có pha chút giọng cười châm biếm sắc sảo bắt nguồn từ tâm huyết với dân, với nước, với đời. Ông từng được mệnh danh là nhà thơ trào phúng xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX.

Kho tàng thơ văn của Tú Xương tuy không nhiều chỉ với 100 bài, chủ yếu là thơ Nôm, gồm nhiều thể thơ như thất ngôn bát cú đường luật, lục bát,… và một số bài văn tế, phú, câu đối… nhưng có nhiều bài rất đặc sắc, đạt đến trình độ tuyệt mĩ về cả nội dung và nghệ thuật và được xem như những bài thơ bất tử. Minh chứng rõ ràng nhất đó là thi phẩm “Thương vợ” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ đề cập đến nhiều khía cạnh trong xã hội, đồng thời cũng là tiếng lòng tha thiết, sự tri ân đầy xót xa của Tú Xương – nạn nhân của xã hội lố lăng, đảo điên biến con người trở thành vô tích sự với chính mình và gia đình, đối với bà Tú, qua đó, người đọc cũng phần nào thấy được những đức hi sinh to lớn của những người phụ nữ lúc bấy giờ hay của bà Tú đối với người chồng của mình.

Mở đầu tác phẩm, Tú Xương giới thiệu về hoàn cảnh và công việc mưu sinh của bà Tú, qua đó bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với người vợ tảo tần sớm mai của mình:

Mạch cảm xúc của thi phẩm dần dần mở ra với bức tranh toàn cảnh đầy nỗi khó nhọc, lo toan của bà Tú – tên thật là Phạm Thị Mẫn. Tác giả đã sử dụng “Quanh năm” – cụm từ chỉ một khoảng thời gian trường kì lặp đi lặp lại như một vòng tuần hoàn khép kín của tự nhiên để cực tả nỗi vất vả triền miên của bà Tú trải dài hết ngày tháng này sang ngày tháng khác, năm này qua năm nọ mặc cho nắng gắt hay mưa rào vẫn không bỏ sót giây phút nào cả. Chỉ có thế thôi cũng đủ để lại trong lòng độc giả một ấn tượng khó phai về hình ảnh người vợ đầu tắt mặt tối chu toàn mọi sự trong gia đình như bà Tú. Chưa dừng lại ở đó, cách cân đo, đong đếm như thế của thời gian còn góp phần làm bật lên cái không gian, địa điểm bán buôn của bà Tú thông qua hình ảnh “mom sông”. Địa thế “mom sông” rất trắc trở, đầy rẫy những hiểm nguy khôn lường bởi lẽ đó chỉ là một doi đất nhô ra phía lòng sông nơi người làng chài thường tụ tập buôn bán nên những khi tiết trời khắc nghiệt, địa thế chênh vênh mỏng manh kia sẽ dễ sạt lở gây nhiều khó khăn cho bà Tú. Khó khăn là thế, gian nan là vậy nhưng bà Tú vẫn mạnh mẽ vượt qua, luôn luôn cố gắng để cho gia đình được ấm no:

“Nuôi đủ năm con với một chồng.”

Với giọng thơ hóm hỉnh cùng tài năng trong nghệ thuật thơ trào phúng, câu thơ thứ hai như lời lên án gay gắt xã hội phong kiến xưa đã biến những người đàn ông vốn là những trụ cột vững chắc trong gia đình thành những kẻ vô tích sự chỉ biết sống dựa vào vợ, mà đặc biệt là “ăn lương vợ”:

(Quan tại gia – Trần Tế Xương)

Đôi vai của bà Tú đã nặng nay còn nhân lên bội phần khi bà “bất đắc dĩ” trở thành trụ cột chính trong gia đình. Hai chữ “nuôi đủ” là vừa đủ, vừa đủ nuôi, không thiếu mà cũng không thừa vang lên tạo cho câu thơ một âm điệu trang trọng nhưng cũng không kém phần tự hào gợi tả sự đảm đang tột cùng nơi bà Tú khi chỉ với công việc buôn bán “quanh năm” ở nơi “mom sông” chênh vênh, nguy hiểm mà bà vẫn có thể đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ cho “năm” đứa con và người chồng của mình. Bên cạnh đó, cách đặt hai danh từ số đếm “năm” và “một” song song với nhau tưởng chừng như khập khiễng nhưng lại rất độc đáo và mới lạ. Tú Xương tự chế giễu mình khi so sánh bản thân ngang hàng với “năm đứa con thơ” vì ông là một “đứa con đặc biệt” ngầm nâng cao vị thế người vợ tảo tần của mình lên một thứ bậc thiêng liêng khác như một người “mẹ hiền” để có thể đề cao công lao của bà Tú một cách chí lí và chuẩn xác nhất. Hơn thế nữa, cấu trúc “năm” – “một” cùng liên từ “với” chất chứa bao nỗi hổ thẹn, buồn bã đã khắc họa nên chiếc đòn gánh mà ở giữa là đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của người phụ nữ chịu thương chịu khó còn hai bên đều trĩu nặng với “năm con” và “một chồng” nhưng dường như sự khó khăn lại nghiêng lệch về phía người chồng vô tích sự nhiều hơn vì chế độ “trọng nam khinh nữ” rẻ rúng trong xã hội cũ. Có thể nói, bà Tú “nuôi đủ” cho Tế Xương không chỉ chu toàn cho ông “chăn ấm, nệm êm” mà còn lo cho ông đủ thứ cao sang tốn kém khác để khiến ông phải nở mày nở mặt vì suy cho cùng, Tế Xương vẫn là một tú tài, là người có chí thi cử công danh:

(Hỏi ông trời – Trần Tế Xương)

Hay:

(Đi hát mất ô – Trần Tế Xương)

Hai câu đề mở đầu thi phẩm tuy chỉ gói gọn trong mười bốn chữ nhưng đã thể hiện được tất cả những đức tính cao đẹp nơi bà Tú với sự chịu thương chịu khó, tần tảo không quản nắng mưa để chu toàn mọi việc trong gia đình. Qua đó, Tú Xương cũng khéo léo thể hiện sự biết ơn của mình đối với bà Tú, đồng thời cũng phần nào miêu tả sự hổ thẹn của tác giả khi là một đấng nam nhi mà lại không thể làm gì giúp đỡ vợ đến nỗi phải đặt mình trong mối tương quan với “năm đứa con thơ”. Thật xót xa !

Thấu hiểu được những nỗi lo toan, vất vả của người vợ vĩ đại của mình, Tú Xương liên tưởng đến hình ảnh “con cò” năm xưa trong ca dao:

(Ca dao)

để cực tả nỗi khổ tâm mà bà Tú đang trải qua trong hai câu thực:

Tú Xương sử dụng “thân cò” chứ không phải “con cò” như trong ca dao xưa vừa thể hiện được cá tính riêng, sự sáng tạo mang tính chất thời đại trong phong cách thơ ca của thi sĩ, vừa đồng nhất thân phận của bà Tú nói riêng và người phụ nữ nói chung với hình ảnh gầy guộc của “con cò” để nói lên sự cơ cực trong cuộc sống của một người phụ nữ trụ cột. Tiếp đó, chữ “thân” tuy đơn giản nhưng nghe sao cay đắng quá, nó luôn gợi cho mọi người về một thứ gì đó nhỏ bé tội nghiệp đến vô cùng. Và khi xưa, nhà thơ Hồ Xuân Hương cũng đã từng ngậm ngùi trên trang giấy khi nói đến chữ “thân” bạc mệnh:

(Bánh trôi nước)

“Khi quãng vắng” là một cụm từ rất đặc biệt vì nó không chỉ gợi lên cái không gian rợn ngợp cảm giác đơn lẻ đầy nguy hiểm rình rập nơi bờ sông heo hút, giá lạnh lúc bấy giờ mà còn diễn tả sâu sắc nỗi khắc khoải về thời gian của sự tảo tần và một khi được song hành cùng với biện pháp nghệ thuật đảo ngữ của từ láy “lặn lội”, hình ảnh giản dị, chất phác của người phụ nữ gầy guộc chân trần mưu sinh nơi rừng sông núi bãi vào ban đêm – thời gian mà những người phụ nữ khác đang hạnh phúc bên chồng con, đang tận hưởng những giấc ngủ say, hằng mong có thể kiếm thêm thu nhập để trang trải cuộc sống càng trở nên nổi bật và chói lọi hơn trong khung cảnh hiu quạnh đến ghê sợ nơi doi đất chênh vênh.

Advertisement

Nếu như câu thơ thứ ba gợi nỗi cực nhọc đơn chiếc thì câu thơ thứ tư lại là sự vật lộn đầy cam go của bà Tú giữa thời buổi mua bán đông đúc:

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”

Một lần nữa, biện pháp nghệ thuật đảo ngữ lại được sử dụng trong lời thơ của Tú Xương nhưng với từ láy tượng thanh “eo sèo” gợi sự tấp nập, ồn ào để nhấn mạnh tính chất thường tình nơi chợ búa và sự lam lũ của người phụ nữ “năm con với một chồng”. Mặt khác, hình ảnh “buổi đò đông” cũng góp phần mạnh mẽ trong việc xây dựng hình tượng một bà Tú cần mẫn, tất bật và sự đông đúc, xô bồ đó đã từng được ca dao xưa nhắc đến:

Mặc dù văng vẳng bên tai là lời dạy chân tình của cha ông ta: “Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua” nhưng bà Tú vẫn cứ khăng khăng dấn thân vào cuộc chiến tranh âm thầm và dai dẳng của những lần đôi co “eo sèo”, chen chúc, tranh giành khách, phân mua với các gian hàng khác, bất chấp người qua kẻ lại đếm nhiều không xuể khi “đò đông” để bươn chải miếng cơm, manh áo cho chồng, con vì chỉ khi tấp nập như thế, cơ hội kiếm thêm thu nhập sẽ tăng vọt hơn “khi quãng vắng” cho dù phải chịu cảnh đau nhức khi “đầu đội trời, chân đạp đất”, tổn thương về thể xác khi bị dòng người xô ngã. Ôi ! Quả là một người phụ nữ chan hòa tình yêu thương, bà đã đánh đổi cả bản thân mình mà chen lấn bán đi từng món hàng của mình để kiếm từng đồng tiền ít ỏi lo cho cuộc sống gia đình mình, thật đáng khâm phục !

Bằng cách đảo những từ láy hô ứng vừa giàu tính tạo hình vừa giàu tính biểu cảm “lặn lội”, “eo sèo” lên ngay vị trí đầu câu thơ kết hợp với hai hình ảnh đối nhau rất chỉnh “khi quãng vắng” – “buổi đò đông” trong hai câu thực, hình tượng người vợ tháo vát vã mồ hôi chỗ đông đúc vì phải giành giật, trào nước mắt nơi quạnh hiu khi tìm được khách hàng hiện lên với tất cả niềm tự hào của nhà thơ cả về thể chất mạnh mẽ lẫn tinh thần thép của bà Tú dù trong mọi hoàn cảnh khắc khổ nhất.

Đến với những câu thơ tiếp theo, Tú Xương như nhập vai vào chủ thể trữ tình nhằm mượn lời tâm sự của vợ để ngầm ca ngợi những công lao âm thầm vì chồng vì con mà bà Tú đang gồng gánh trên vai:

Theo quan niệm phong kiến xưa, “duyên” và “nợ” là hai định nghĩa hết sức thiêng liêng về mối quan hệ vợ chồng do trời định sẵn, xuất phát từ số phận, từ sợi chỉ hồng của ông Tơ bà Nguyệt:

Thế nhưng khi đi vào lời thơ của một bậc thức giả dày dặn kinh nghiệm như Tú Xương, định nghĩa đó dường như đã đánh mất đi tính chất quyền quý của mình mà trở nên nặng nề vô cùng như một lời than thở khi “duyên” thì chỉ có một mà “nợ” lại hai:

(Ca dao)

Bên cạnh đó, cách sử dụng hai thành ngữ xưa song song với nhau “Một duyên hai nợ” – “năm nắng mười mưa” vừa đối nhau về từ: “một” – “hai”, “năm” – “mười”, vừa đối nhau về ý đã không những khiến cho nhạc thơ bỗng trầm lắng trước nỗi khổ tâm chồng chất ngày một dâng lên theo cấp số nhân của bà Tú mà còn thể hiện rất rõ tài năng văn chương điêu luyện của thi sĩ khi biết vận dụng triệt để giá trị của các thành ngữ cùng các con số mộc mạc để thiêng liêng hóa hình ảnh bà Tú. Có thể nói, dẫu có khó khăn muôn trùng, chông gai trước mắt, “nợ” nghiêng về mình nhưng bà Tú chưa một lần chùn bước mà chỉ gật đầu nhẫn nhục cho qua và ba tiếng đối ứng thượng, hạ: “âu đành phận”, “dám quản công” đã thể hiện được điều đó. Nguyên nhân dẫn đến sự cần cù, âm thầm đầy cam chịu của bà Tú tuy giản đơn nhưng cũng rất cao quý: đó là vì mối nhân duyên thiên định và vì tương lai của đàn con nhỏ. Quả là một người mẹ, người vợ giàu đức hi sinh !

Từ việc pha trộn lời thơ đan xen những thành ngữ đã đạt đến độ hoàn hảo về nội dung với các phép đảo ngữ cực tinh tế cùng các cấp số nhân rất thực và chuẩn xác, nhà thơ Tú Xương đã khắc họa thành công tấm chân dung một người vợ kết tinh đầy đủ đức hi sinh, sự nhẫn nại, sự tần tảo chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam truyền thống trong hai câu luận. Qua đó, ông còn ngầm ý bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người vợ thân thương của mình khi bà đã quên đi cái tôi mà gánh vác hết mọi trách nhiệm của một trụ cột trong gia đình. Thật vậy:

(Kho tàng lục bát dân gian)

Vì quá thương vợ, quá thương cho phận đời nữ nhi mà lại sắm vai trụ cột, Tú Xương tự trách bản thân mình và thông qua đó cũng nói lên tiếng chửi vừa đắng cay vừa phẫn nộ cho định kiến khắt khe “trọng nam khinh nữ” đã biến ông thành một kẻ vô tích sự :

Mạch cảm xúc của thi phẩm dường như có sự chuyển biến đột ngột khi giờ đây, Tú Xương không còn “ẩn mình” sau những vần thơ để tán dương vợ nữa mà ông đã chịu xuất hiện để nói thay cho sự oán trách chồng, trách phận của bà Tú. “Cha mẹ thói đời” thật là một cách nói có phần thô cứng, xù xì nhưng lại rất phù hợp với phong cách thơ ca trào phúng của thi sĩ. Đó là sự giận đời, hận đời vì cái xã hội “Tây tàu lố lăng” lúc bấy giờ không cho phép ông san sẻ gánh nặng gia đình cùng vợ.

Thêm vào đó, ít ai biết được rằng đằng sau tiếng chửi đầy dứt khoát ấy lại là một bi kịch của một con người chất chứa bao niềm phẫn uất, đau xót và tê tái:

“Có chồng hờ hững cũng như không.”

Tú Xương chửi “đời” nhưng cũng “tự chửi” mình, “tự chửi” cái thói sĩ diện của một đấng nam nhi đang trên đường công danh, thói gia trưởng chỉ biết ngồi than vãn sự đời, mà không biết được mọi người xung quanh đang khổ cực vì mình. Tú Xương coi mình như kẻ vô tâm, “ăn ở bạc” với vợ con, luôn luôn “hờ hững” trong trách nhiệm và vai trò của một kẻ làm cha, làm chồng. Thật là “có chồng hờ hững cũng như không”! Thế nhưng nếu nhìn nhận lại sự việc một cách lạc quan thì Tú Xương không hề đáng trách mà lại rất đáng thương bởi suy cho cùng, chính xã hội lem luốc kia đã đẩy ông, một tài năng xuất chúng vào bước đường cùng khiến cho người vợ vốn thuộc dòng dõi cao quý phải chịu khổ. Thật đau đớn !

(Văn tế sống vợ – Trần Tế Xương)

Hai câu thơ khép lại tác phẩm là lời tự rủa mát mình của Tú Xương nhưng lại mang đậm ý nghĩa lên án xã hội sâu sắc góp phần khẳng định tình cảm của ông đối với bà Tú là vô bờ bến. Người chồng ấy tuy “ăn lương vợ” nhưng không hề “ở bạc”, “hờ hững” mà rất chu đáo, luôn dõi theo từng bước đi của bà trên đường đời và đặc biệt là luôn bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với vợ. Thi phẩm kết thúc thật bất ngờ: vừa thấm đượm cái bi, cái bất hạnh trong niềm riêng của tác giả, lại vừa dí dỏm, hài hước.

Nói tóm lại, sau khi đi sâu phân tích bài thơ Thương vợ ta thấy đây là một thi phẩm mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Với chất thơ bình dị mà trữ tình pha chút trào phúng, Tú Xương đã không những khắc họa nên một bức chân dung tuyệt đẹp về người vợ tảo tần, chịu thương chịu khó của mình mà còn thể hiện vẻ đẹp trong nhân cách của bản thân và hình ảnh bà Tú cần mẫn, đầy lo toan đó chính là hình ảnh đẹp đẽ nhất của người phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ: vừa mộc mạc, chất phác, vừa cứng rắn, mạnh mẽ.

Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ thường không được quan tâm nhiều. Một người phụ nữ phải chịu nhiều “gông xiềng” đeo trên vai. Nào là “Xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Nào là “tam tòng, tứ đức”,… Dường như người phụ nữ luôn xuất hiện phía sau người chồng, người con của mình. Họ không có được sự tự do trong cuộc sống và thường là người gánh chịu nhiều nỗi đau về tinh thần do tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo. Vậy nên trong suốt chiều dài lịch sử, những thi nhân thường không đưa hình ảnh người vợ vào trong thơ ca của mình, mà thay vào đó là “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”. Bởi thế, Trần Tế Xương đã được người đời nhớ đến khi trong thơ ông, hình ảnh một người vợ lam lũ, vất vả đã được khắc họa một cách đầy đủ với thái độ trân trọng và yêu thương. Đó thực sự là một nét chấm phá đặc biệt của văn học thời kỳ phong kiến. Bài thơ “Thương vợ” của ông được xem như một trong những tác phẩm “khác lạ” giữa nền thi ca.

Nói bài thơ này khác lạ bởi thông thường các thi sĩ chỉ làm thơ về người bạn đời của mình khi họ đã mất đi. Còn với Tú Xương, ông đã viết về người vợ của mình một cách chân thực, sống động và đầy lòng yêu thương ngay khi vợ ông còn sống. Khác lạ còn bởi trong xã hội phong kiến, người đàn ông là chủ gia đình, mọi quyết định đều do họ. Và hiếm ai chấp nhận một sự thật rằng vợ chính là người nuôi sống cả một gia đình. Ấy nhưng với Tú Xương, đó là một điều hiển nhiên, bởi ông còn bận học hành, thi cử để có chút công danh. Và không ai khác ngoài người vợ chính là nguồn sống cho cả gia đình. Điều đó được khẳng định ở ngay câu đầu tiên của bài thơ:

Sự vất vả, cực nhọc đã được thể hiện một cách rõ ràng. Một mình người vợ mà phải “cõng” tới năm người con và một đức ông chồng. Chữ “mom” ở đây rất có giá trị. Mom là một mô đất nhô ra bên bờ sông, nó nhỏ bé và gợi lên chút gì đó chênh vênh, không bền vững. Đối lập với đó là năm người con và người chồng. Một sự đối sánh có tính chất không cân đối đã nói lên muôn vàn vất vả lo âu của người vợ cho gia đình của mình. Làm sao để có thể kiếm sống để chu đáo cho một gia đình với những đứa con nhỏ.

Người phụ nữ trong thời đại phong kiến thường được ví như những “hạt mưa sa”, “giếng giữa đàng”, ý nói về sự bấp bênh của số phận, may mắn thì được vào gia đình tốt, được yêu thương còn không thì gặp muôn vàn đắng cay, khổ cực mà không biết kêu ai. Ở trong những câu tiếp theo, dường như Tú Xương đã cảm thán thay cho người vợ đáng thương của mình.

Hình ảnh người vợ đã được ông ví như cánh cò nơi dòng nước, nhỏ bé, cô đơn. “Thân cò” là một sự so sánh vô cùng hợp lí và thú vị dành cho người vợ. Động từ “lặn lội” đã phác họa rõ nét hơn tình cảnh của người vợ, người mẹ. Có lẽ đọc đến đây ta cũng xót thương cho những người phụ nữ thời xưa. Hình ảnh người vợ Tú Xương cũng là sự khái quát cho những người phụ nữ Việt Nam thời kỳ phong kiến, phải lam lũ, vất vả một nắng hai sương lo cho gia đình, nhưng lại không được công nhận. Và qua những vần thơ, dường như Tú Xương đang tạo nên một bước chuyển mới trong nhận thức của các đấng nam nhi, cần phải coi trọng người phụ nữ của mình nhiều hơn nữa.

Việc sử dụng cặp từ “một duyên”, “hai nợ” cho thấy Tú Xương không chỉ đồng cảm với sự vất vả của vợ, mà còn nhận thấy giữa hai vợ chồng có sự gắn bó từ kiếp trước. Có duyên mới tới được với nhau và đến được với nhau rồi đó lại là một điều không thể tách rời, bởi đó là “nợ”. Có lẽ ông cho rằng mình đã nợ vợ một món nợ không thể trả. Bởi thế cho nên duyên phận đã gắn bó ông với vợ. Nhưng có một sự “nói hộ” của ông ở đây. Dường như đây là lời của Tú Xương nhưng cũng chính là tâm sự của người vợ. Bởi ở câu thơ sau: Năm nắng, mười mưa, dám quản công, cho thấy dẫu có vất vả, nhọc nhằn, người vợ cũng không dám kể lể công tích của mình, xem như đó là việc mình phải làm cho gia đình. Đó chính là sự vị tha, bao dung và nhẫn nhục của người phụ nữ Việt Nam.

Sự cam chịu của người vợ đã khiến cho Tú Xương không đành lòng. Nhưng người vợ không bao giờ nói ra với ông những nỗi vất vả, khó khăn ấy. Và chính ông đã là người nói ra giúp vợ mình. Một tiếng thơ cũng là tiếng thở than, trách cứ, dằn vặt của người chồng, là tiếng trách mắng nhẹ nhàng của người vợ dành cho người chồng:

Hai câu thơ khép lại tác phẩm là lời tự rủa mát mình của Tú Xương nhưng lại mang đậm ý nghĩa lên án xã hội sâu sắc góp phần khẳng định tình cảm của ông đối với bà Tú là vô bờ bến. Người chồng ấy tuy “ăn lương vợ” nhưng không hề “ở bạc”, “hờ hững” mà rất chu đáo, luôn dõi theo từng bước đi của bà trên đường đời và đặc biệt là luôn bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với vợ. Thi phẩm kết thúc thật bất ngờ: vừa thấm đượm cái bi, cái bất hạnh trong niềm riêng của tác giả, lại vừa dí dỏm, hài hước.

Với chất thơ bình dị, dễ đọc, dễ nhớ và đậm chất nhân văn Tú Xương đã khắc họa nên hình ảnh người vợ chịu thương chịu khó của mình trong mối tương quan với chồng, con. Đó cũng là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà ông dành cho những người chồng, người cha còn “bạc” với người vợ đầu gối tay ấp của mình bằng chất liệu trào phúng đặc trưng.

Khi nhắc đến Tú Xương, người ta thường nhớ đến một nhà thơ trào phúng bậc thầy. Ông là một tác giả viết nhiều, viết hay các bài thơ nội dung châm biếm, đả kích nhưng dù vậy, những tác phẩm thuộc mảng trữ tình như Sông Lấp, Thương Vợ, Áo bông che bạn,… vẫn vô cùng xuất sắc. Trong đó, “Thương vợ” được xem như tác phẩm nổi bật có sự hòa quyện giữa chất trữ tình và chất trào phúng trong phong cách thơ Tú Xương.

Nổi bật của bài thơ trước hết là hình tượng bà Tú qua khắc họa đầy thương yêu, trân trọng của Tú Xương. Đó là một người phụ nữ vất vả, tảo tần để chăm lo cho chồng con, gồng gánh gia đình:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông”

Câu vào đề tác phẩm như giới thiệu, lại như mở ra bối cảnh của câu chuyện về bà Tú. Bà hiện lên với dáng vẻ tần tảo, tất bật ngược xuôi:

“Quanh năm” là suốt cả năm, không trừ ngày nào dù mưa hay nắng. Nó còn là biểu tượng cho sự tuần hoàn khép kín của thời gian. Chẳng có cửa hàng, cửa hiệu, quán xá gì, mà chỗ bà “kinh doanh” là ở “mom sông”, phần đất nhô ra phía lòng sông, một địa điểm có phần cheo leo, nguy hiểm. Chỉ qua câu mở đầu, tác giả đã gợi lên cho ta suy nghĩ: cả thời gian lẫn không gian như hùa nhau làm nặng thêm gánh nặng đang đè trên vai bà Tú. Đó là gánh nặng:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”!

Công việc vất vả, thu nhập lại ít nhưng bà Tú còn phải lo lắng cho cả một gia đình sáu miệng ăn. “Năm con” là số nhiều, nhưng dù sao chúng chỉ cần bát cơm, manh áo. Nhưng lại còn thêm “một” ông chồng chi phí bằng cả năm đứa con kia.

Hai câu thực gợi tả cụ thể hơn cuộc sống tảo tần, buôn bán ngược xuôi của bà Tú:

“Lặn lội thân cò” đã bao gồm trong đó cái thân hèn, sức mọn, cả nỗi lẻ loi, đơn độc. Con cò trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện giữa cái rợn ngợp của không gian mà còn trong cái rợn ngợp của thời gian. Chỉ bằng ba từ “khi quãng vắng”, tác giả đã nói lên được cả không gian, thời gian heo hút, rợn ngợp chứa đầy lo âu, nguy hiểm.Cùng với đó, cách nói đảo ngữ, thay con cò bằng “thân cò” cũng góp phần nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân của bà Tú. Nó gợi lên một nỗi đau về thân phận những con người nghèo khổ trong xã hội đương thời.

Nếu câu thơ thứ ba gợi nỗi vất vả đơn chiếc, cô đơn thì câu thơ thứ tư lại làm rõ nỗi vất vả mưu sinh của bà Tú.

“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

Câu thơ gợi cảnh chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. “Buổi đò đông” đâu phải ít lo âu, nguy hiểm hơn “khi quãng vắng”? Hai câu thực đối nhau về từ ngữ nhưng lại nâng đỡ nhau về ý để qua đó nổi bật lên nỗi vất vả, gian truân của bà Tú. Qua đó, ta cũng thấy được tấm lòng xót thương, yêu quý và trân trọng của nhà thơ dành cho vợ mình.

Dưới ngòi bút của Tú Xương, bà Tú cũng hiện lên với những đức tính cao đẹp nhất. Đó là người phụ nữ đảm đang, tháo vát, chu đáo với chồng con:

“Nuôi đủ năm con với một chồng”

Bà cũng là người giàu đức hi sinh. Trong hai câu luận, Tú Xương một lần nữa cảm phục sự quên mình của vợ:

“Duyên” một mà “nợ” hai nhưng bà Tú không một lời phàn nàn mà lặng lẽ, cam chịu, chấp nhận vì cuộc sống gia đình. Ở câu trên, nắng mưa chỉ sự vất vả, năm mười là số lượng phiếm chỉ để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ đan chéo “năm nắng mười mưa” vừa nói lên sự vất vả, gian truân vừa thể hiện được tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con của bà Tú.

Bên cạnh bà Tú, hình tượng Tú Xương cũng hiện lên với tấm lòng thương vợ thiết tha. Ông không xuất hiện trực tiếp nhưng thông qua những câu thơ đầy yêu thương, trân trọng dành cho vợ và giọng điệu có phần trào phúng khi nói về mình, ta thấy được tình cảm sâu đậm của ông. Nhập thân vào nhân vật, Trần Tế Xương nói hộ những nỗi thiệt thòi của vợ nhưng đồng thời cũng thấy rõ cái đức hi sinh của người bạn đời.

Tú Xương kể chuyện bà Tú nuôi con đã đành, mà còn kể thêm việc bà Tú nuôi mình một cách thẳng thắn, chẳng ngượng ngùng. Ở đây, ta như thấy được nụ cười tủm tỉm tự trách mình thật vô tích sự của ông Tú. Ông không gộp lại mà tách “năm con” riêng, “một chồng” riêng. Điều đó cho thấy Tú Xương nhận thức rõ mình là cái nợ đời mà bà Tú phải gánh chịu. “Duyên” một mà “nợ” hai. Sự “hờ hững” của ông cũng là một biểu hiện của “thói đời” bạc bẽo. Xã hội xưa trọng nam khinh nữ, coi người phụ nữ là thân phận phụ thuộc, Tú Xương dám sòng phẳng với bản thân, với cuộc đời, dám tự nhận khiếm khuyết.

Ông chửi thói đời bạc bẽo vì thói đời là một nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ. Từ hoàn cảnh riêng. Tác giả lên án thói đời bạc bẽo nói chung. Lời chửi rủa trong hai câu kết là lời Tú Xương Tự rủa mát mình nhưng lại mang ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Đặt bài thơ vào lịch sử thơ ca trung đại, chúng ta lại càng thấy được nó đáng quý đến bao nhiêu. Bởi, thời kì ấy, đã mấy ai trực tiếp làm văn thơ về vợ ngay khi còn sống như Tú Xương? Phải yêu quý, trân trọng và biết ơn lắm, Tú Xương mới viết được những lời thơ cảm động và sâu sắc như thế. Có thể nói, bằng việc sử dụng từ ngữ giản dị, giàu sức biểu cảm và cách vận dụng sáng tạo những chất liệu văn học dân gian, “Thương vợ” đã thể hiện tình cảm thương yêu, quý trọng của ông Tú dành cho bà Tú thông qua sự thấu hiểu nỗi vất vả, gian truân và ca ngợi sự hy sinh và những phẩm chất tốt đẹp của bà Tú. Đồng thời, bài thơ cho chúng ta thấy được nỗi lòng, tâm sự và nhân cách cao đẹp của nhà thơ Tú Xương.

“Văn học nằm ngoài những quy luật của băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”. Thơ văn Tú Xương là một trường hợp như vậy. Thể xác của ông hơn 100 năm nay đã hòa tan làm một cùng với đất mẹ nhưng sự nghiệp văn chương của con người tài hoa ấy chưa bao giờ ngừng sống làm lay chuyển lòng người, bất chấp mọi thử thách của thời gian.

Nhắc đến Tú Xương ta không thể không nhắc đến “Thương vợ” bài thơ trữ tình thấp thoáng nụ cười hóm hỉnh, trào phúng bản thân và bày tỏ tấm lòng yêu thương, kính trọng của ông đối với người vợ tần tảo hy sinh suốt một đời vì chồng, vì con, vì gia đình.

Tú Xương lấy vợ năm ông 16 tuổi, vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn. Cuộc đời của Tú Xương là cuộc đời của một nghệ sĩ nhưng trước hết ông là một nhà trí thức phong kiến thuộc loại nhà Nho “Dài lưng tốn vải” phải sống nương tựa nhờ vào người vợ của mình. Mọi chi tiêu trong gia đình đều do một tay bà Tú lo liệu. Điều đó đã đi vào trong thơ ca của ông “Tiền bạc phó cho con mụ kiếm” hoặc “Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ”.

Trong bài “Thương vợ” cũng vẫn là những vấn đề ấy được thể hiện sâu sắc qua tám câu thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Hai câu đề mở ra một không gian, thời gian và công việc của bà Tú. Một công việc vất vả, cơ cực và gian nan vô cùng:

Nghề buôn bán theo quan niệm của người xưa là con đường đầu tiên để làm giàu “Phi thương bất phú” nhưng công việc của bà Tú thì lại đối lập hoàn toàn. Chỗ buôn bán ở đây không phải là vùng đất tốt, bằng phẳng mà ở “mom sông”. Theo cách hiểu của Xuân Diệu: “là cái địa điểm cheo leo chênh vênh, chứ không phải ở cái bến ngang sông tấp nập bình thường”.

“Mom sông” đã cụ thể hóa địa điểm buôn bán của bà Tú nơi “đầu sóng ngọn gió”, đối mặt với bao nguy hiểm khi nước xuống thì còn, nước lên thì mất. Thời gian ở đây là “quanh năm” hết ngày này qua tháng khác. Thời gian đằng đẵng chẳng bao giờ được nghỉ ngơi. Một công việc nhọc nhằn, vất vả mà người vợ phải gánh vác để lo cho gia đình.

Trước đây với quan niệm “Trọng nam khinh nữ”, “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” những việc lớn như kinh tế gia đình phải do người đàn ông lo liệu nhưng người gánh vác trách nhiệm ấy ở đây là bà Tú – người đàn bà giàu lòng yêu thương, giàu nghị lực có thể “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Đủ ở đây nuôi cho đủ miếng cơm manh áo. Một người làm mà bảy miệng ăn ta thấy trách nhiệm nặng nề đặt lên đôi vai người phụ nữ gia đình.

Trong thơ ca trung đại, có thể xem Tú Xương là nhà thơ trào phúng bậc thầy. Thơ ông trào phúng sắc nhọn, lấy tiếng cười làm vũ khí chế giễu và đả kích sâu cay bộ mặt xấu xa, đồi bại của cái xã hội thực dân nửa phong kiến. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Tú Xương còn có một số bài thơ trữ tình, chứa chất bao nỗi niềm của một nhà nho nghèo về tình người và tình đời sâu nặng, đặc biệt là những bài thơ viết về vợ của mình, trong đó phải kể đến tác phẩm “ Thương vợ”.

“Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất của Tú Xương viết về vợ. Bài thơ chứa chan tình yêu thương nhà thơ dành cho người vợ chịu thương chịu khó vừa là một lời tâm sự, một bài thơ mang cảm hứng thế sự sâu sắc.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh bà Tú tần tảo, đảm đang, yêu thương chồng con:

“Quanh năm” là từ chỉ thời gian liên tục, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác. Quanh năm buôn bán, bà Tú dường như không được một ngày nghỉ ngơi. Đã vậy, bà lại “buôn bán ở mom sông”, là nơi mỏm đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước, nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh, đầy khó khăn, nguy hiểm để “nuôi đủ năm con với một chồng”.

Năm con với một chồng như một đòn gánh đè nặng lên đôi vai bà Tú. Một bên là năm con, bên kia là một chồng, hình dáng bà Tú trở nên côi cút, tội nghiệp như một thân cò lặn lội:

Có lẽ thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tú Xương mới mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Thế nhưng, con cò trong ca dao dù tội nghiệp lặn lội bờ ao nhưng vẫn không đáng thương như bà Tú hiện lên trong cái rợn ngợp của thời gian “ khi quãng vắng”. Chỉ bằng ba từ khi quãng vắng tác giả đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy lo âu, bất trắc. Đó là chưa kể, bà Tú còn phải “ eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

“Eo sèo” là từ láy tượng thanh gợi cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi “mặt nước” lúc “đò đông”. Một cuộc đời “lặn lội”, một cảnh sống làm ăn “eo sèo”. Đó là cảnh cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực mát bà Tú phải “lặn lội” trong mưa nắng, phải giành giật “eo sèo”, phải trả giá bao mồ hôi, nước mắt giữa thời buổi khó khăn.

Đến hai câu luận, Tú Xương tiếp tục khắc họa sự lam lũ, sự hi sinh cao cả của vợ:

“Duyên” là duyên số, duyên phận. “ Nợ” là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng. Người ta hay nói vợ chồng đến với nhau là duyên. Nhưng bà Tú đến với ông Tú duyên chỉ một mà nợ thì gấp bội lần. Chồng thi trượt không lập được công danh, mọi việc trong nhà đều một tay bà Tú lo lắng, bươn chải, chịu thương chịu khó làm nên. “Nắng”, “mưa” là thế, là tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực bà phải trải qua. Thế nhưng, người phụ nữ ấy chưa từng than phiền, chẳng bao giờ dám quản công. Các số từ tăng dần lên: “một… hai… năm… mười… làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương, chịu khó vì sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình.

Chỉ với sáu câu thơ đầu bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa một cách chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lặng hi sinh cho hạnh phúc gia đình. Tú Xương thể hiện một tài năng điêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh. Các từ láy, các số từ, phép đối, thành ngữ và hình ảnh “thân Cò” … đã tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn văn chương.

Từ sự trân quý vợ, đến hai câu kết, Tú Xương chuyển sang tự trách mình:

Tú Xương trách mình phụ thuộc vợ, không giúp được cho vợ lại còn “ăn ở bạc”, tạo thêm gánh nặng cho vợ. Người chồng vốn là trụ cột gia đình, là chỗ dựa cho vợ con nhưng khi Tú Xương ở vai trò người chồng, người cha thì chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn “hờ hững” với vợ con. Ta đã biết, Tú Xương có văn tài, nhưng công danh dở dang, thi cử lận đận. Sống trong một chế độ phong kiến mục rỗng bạo tàn, giữa một xã hội “dở Tây, dở ta”, chữ nho mạt vận, lúc mà “Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co”, cho nên nhà thơ tự trách mình đồng thời cũng là trách đời đen bạc. Chính xã hội ấy đã không công nhận tài năng thật sự của ông, một xã hội bóp nghẹt về quyền con người khiến cả vợ ông, lẫn ông đều chìm trong đói khổ, lầm than.

Bài thơ “Thương vợ” quả đúng là bài thơ trữ tình hay nhất của Tú Xương. Chính tình cảm chân thành, sự đồng cảm và thấu hiểu vợ cũng là những người phụ nữ trong xã hội xưa đã mang đến giá trị và dư quên của tác phẩm Tú Xương trong lòng hậu thế.

………………

Nghị Luận Tình Phụ Tử (9 Mẫu) – Văn Mẫu Lớp 9

Dàn ý Nghị luận xã hội về tình phụ tử

Giới thiệu vấn đề nghị luận về tình phụ tử trong cuộc sống.

Có thể đi từ vai trò cùng ý nghĩa của tình phụ tử thiêng liêng.

Nêu định nghĩa, khái niệm tình phụ tử là gì?.

Tìm hiểu những biểu hiện của tình phụ tử.

Phê phán những suy nghĩ lệch lạc về tình phụ tử.

Nêu bài học rút ra khi nghị luận xã hội về tình phụ tử.

Khái quát về vấn đề cần nghị luận, nêu giá trị của tình phụ tử.

Thể hiện, bày tỏ những suy nghĩ khi nghị luận về tình phụ tử.

Nghị luận xã hội về tình phụ tử ngắn gọn

Bài văn mẫu 1

Thực vậy, công lao của cha dành cho con cái không thể đong đo, cân đếm được, nếu mẹ luôn ân cần, chăm sóc ta từng li từng tí thì có lẽ cha là người âm thầm yêu thương chúng ta. Người không thể hiện sự quan tâm rõ ràng như mẹ, người thầm lặng, bảo vệ ta, cha là trụ cột gia đình, luôn nghiêm khắc với ta nhưng thực chất lại là người mềm lòng nhất, quan tâm ta nhất. Tuổi thơ của ai mà lại không một lần được “cưỡi” lên lưng cha, được cha dạy chơi thả diều, đạp xe. Tuy cha không hay nói chuyện, chia sẻ với ta nhiều, nhưng mỗi lời dạy của cha đều thấm thía, khắc sâu trong lòng con.

Dù mai sau khôn lớn, chúng ta sẽ luôn nhớ mãi lời dặn của cha, nhớ mãi cảm giác ấm áp khi được cha ru ngủ, nhớ mãi cái xoa đầu dịu dàng của cha cùng lời động viên: “Con làm tốt lắm”. Tình phụ tử – một tình cảm thiêng liêng, sâu sắc theo ta suốt cuộc đời, phải khi trưởng thành, làm cha, làm mẹ, ta mới thấu hiểu được nỗi vất vả ấy, mới thấy yêu thương, quí trọng cha. Hãy trở thành một người con cho tròn chữ hiếu, trân trọng, quan tâm, lo lắng cho cha đừng trở thành những đứa con vô tâm, bất hiếu. Hãy nhớ “Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”

Bài văn mẫu 2

Trước những lựa chọn của chính mình, tôi phải tự tìm hiểu, phải suy nghĩ, phải quyết định và tìm ra cách để thực hiện nó. Đó không phải là một việc đơn giản. Thế mới biết cha mình trước kia đã phải dốc lòng dốc sức thế nào mới đưa ra được quyết định cho tôi và tôi tin những gì ông mang lại cho tôi là tốt nhất,hoàn hảo nhất. Tình cha-Một đề tài không mới nhưng chỉ cần nó xuất hiện ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào thì nó cũng sẽ đánh động hàng triệu trái tim hồi tưởng lại ý nghĩa của nó.không một cái gì có thể đánh đổi được tình cảm của cha dành cho con va: ”bạn không cần phải đắn đo phân tích xem cha chúng ta là người như thế nào vì lúc nào cha cũng thật vĩ đại.

Nghị luận xã hội về tình phụ tử đầy đủ

Bài văn mẫu 1

Trong cuộc đời này, cha có lẽ là người luôn thầm lặng dõi theo mỗi bước chân của ta. Không nhiều lời vỗ về, cũng không quá nhiều nhắc nhở, nhưng những ưu tư, trăn trở, những hành động quan tâm cùng tình yêu thương vô bờ của cha khiến mỗi người thêm mạnh mẽ hơn trước bao sóng gió của cuộc đời.

Nếu tình mẫu tử là tình cảm giữa mẹ đối với con cái thì tình phụ tử là tình cảm giữa cha đối với con cái. Nếu nhắc đến mẹ, ta nghĩ sự quan tâm dịu dàng và tinh tế, còn nhắc đến cha ta thường nghĩ ngay đến hình ảnh có phần mạnh mẽ, cứng nhắc. Nhưng chính sự mạnh mẽ của cha lại đem đến cho ta một cảm giác ấm áp đầy tin tưởng.

Có thể, cha là người ít bộc lộ cảm xúc ra ngoài nhưng điều không có nghĩa là cha không buồn, không xúc động trước mọi việc xảy ra với con cái. Cái vẻ ngoài có phần lầm lì ít nói ấy vô tình đã che lấp đi tình cảm mãnh liệt. Và chính ta cũng thường hay tâm sự với mẹ nhiều hơn. Bởi hẳn có lẽ, mỗi người trong tiềm thức đều mang một nỗi sợ khi phải nói với cha, sợ đòn roi hay sợ trách mắng?. Và nó trở thành chứng ngại vật tạo ra một khoảng cách giữa ta và người cha thân thương của mình.

Cha còn là người đứng sau lưng và theo sát ta trong mỗi bước chân chập chững. Khi ta vấp ngã, cha không đưa tay ra đỡ, không làm hộ ta những điều ta phải làm mà cha nâng đỡ tạo thêm động lực cho ta thực hiện và hoàn thiện bản thân. Nên không phải ngẫu nhiên mà trong ngày đám cưới, cha sẽ là người dẫn con gái vào lễ đường. Trong giây phút xúc động đó, ta cũng thường thấy những giọt nước mắt rơi xuống từ đôi mắt có nhiều nếp nhăn của cha.

Khi mọi người đã từ bỏ, thậm chí khi cả thế giới có thể chối bỏ ta, gia đình vẫn ở đó nâng đỡ chấp nhận ta quay về. Câu chuyện về bé Nhật Linh bị sát hại man rợ ở Nhật không chỉ khiến cho ta xót xa trước sự ra đi của bé, mà ta còn xót xa hơn về hình ảnh một người đàn ông sẵn sàng bỏ hết công việc ngày ngày lê la khắp đường phố xin chữ ký để tòa án có thể trừng trị tên sát nhân với hình phạt cao nhất. Đó chính là hình ảnh đầy xúc động của cha cô bé Nhật Linh.

Tình phụ tử là một trong những tình cảm thiêng liêng nhất trong cuộc sống này. Nếu không có cha mẹ vất vả hi sinh thì sẽ không ta của ngày hôm nay. Tình phụ tử chính là bệ đỡ nâng đỡ tâm hồn ta. Trong cuộc sống có nhiều trúc trắc, nhiều cám dỗ khiến ta dễ sa đọa. Nhưng chỉ cần một lời khuyên răn chân thành kịp thời và đến từ người có tác động mạnh mẽ đến tâm khảm của ta – đó là lời khuyên của cha, thì ta sẽ được vực dậy khỏi hố sâu đen tối u mê.

Và đôi lúc ta cảm thấy cuộc sống mệt mỏi, thì hãy quay về bên gia đình bên cha, bên mẹ. Đó luôn là nơi bình yên nhất trên hành tinh này. Bạn không cô đơn mà ở phía sau luôn có gia đình kề bên. Bên ngoài bạn có thể giả vờ mạnh mẽ cứng rắn bao nhiêu thì khi mệt mỏi bạn có thể quay trở về sà vào vòng tay của cha mà òa khóc như những chú chim non về tổ, không cần phải giả vờ mạnh mẽ trước mặt cha. Cha sẽ luôn bao dung cho mọi lỗi lầm và tìm cách giúp ta giải quyết vấn đề.

Và đúng với câu “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”, nếu mẹ là đại diện cho những gì hiền dịu nhất thì cha lại đại diện cho những gì nghiêm khắc nhất. Bởi lẽ trong bất cứ gia đình nào cũng cần có một người đứng ra làm “nhân vật phản diện” để dạy dỗ con cái. Và vai trò đó thường do cha đảm nhiệm. Ta thường thấy mẹ làm việc nhà tất bật từ sáng đến tối nhưng cũng đừng quên cha của ta cũng vất vả lam lũ ngoài kia để kiếm từng đồng để nuôi nấng ta…

Những gian khổ, hy sinh của cha ít thể hiện ra nhưng có bao giờ bạn chú ý lưng áo của cha ướt đẫm mồ hôi, bạc phếch đi theo năm tháng?. Có bao giờ bạn chú ý đuôi mắt cha cũng đã xuất hiện những nếp nhăn, mái tóc của cha đã điểm bạc hơn?. Và có bao giờ bạn chú ý những lần cha thao thức ngắm nhìn xa xăm lo lắng cho cuộc sống mưu sinh?… Hãy ngắm nhìn những điều đó để thêm trân quý tình cảm cha dành cho ta.

Tình cha con thiêng liêng là thế nhưng vẫn có nhiều bạn trẻ vẫn chưa ý thức được ý nghĩa cao cả của nó. Đặc biệt là ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Các bạn học sinh thường cảm thấy cha thật nghiêm khắc. Cha không bao giờ chịu lắng nghe thấu hiểu cho mình. Nhưng thực chất cha mẹ luôn ở bên cạnh ta, chỉ có ta thay đổi chứ tình thương cha mẹ dành cho ta không bao giờ đổi thay.

Các bạn cứ viện lí do chênh lệch về tuổi tác, khoảng cách thế hệ, cha mẹ đã lạc hậu cổ hủ nên không hiểu cho các bạn, không thể chia sẻ cùng các bạn. Nhưng thực chất có bao giờ bạn ngồi xuống lắng nghe những lời khuyên của cha, nghe những tâm sự chất chứa trong lòng cha?. Bạn muốn được thấu hiểu nhưng đã bao giờ bạn chịu hạ mình xuống thấu hiểu cho cha mình chưa?.

Có nhiều bạn trẻ sẵn sàng chia sẻ những tin tức về công lao to lớn của cha, có thể viết những bài viết rất xúc động về cha trên mạng xã hội nhưng trên thực tế thì lại không hề yêu thương biết ơn người đã sinh thành mình. Vậy thì những chia sẻ ấy có xuất phát từ tấm lòng hay chỉ là một cách thể hiện ra bên ngoài cho người khác thấy mà thôi…

Bên cạnh đó, cũng có nhiều tin tức đáng buồn về con cái nhẫn tâm sát hại bậc sinh thành của mình chỉ vì mâu thuẫn, chỉ vì tiền bạc. Con người phải chăng đang trở nên vô cảm với đồng loại, đặc biệt với chính cha mẹ của mình?. Bên cạnh đó, cha mẹ cũng đừng áp đặt cứng nhắc suy nghĩ của mình lên con cái. Hãy cho con cái một khoảng không tự do vừa đủ để con cái học được cách tự lập và không bị quá ngột ngạt.

Tình phụ tử không chỉ được thể hiện bằng những lời nói yêu thương mà nó còn phải được thể hiện bằng hành động. Điều quan trọng nhất dù là xuất phát từ lời nói hay hành động thì đều phải là những gì chân thành nhất, xuất phát từ tấm lòng trân trọng công lao to lớn của cha.

Dù có lớn khôn dù có thông minh hay dù có trở thành ai trong tương lai thì hãy luôn nhớ về đấng sinh thành đã chăm sóc ta vất vả bao lâu. Chính vì vậy dù có báo hiếu bao nhiêu vẫn mãi mãi không bao giờ là đủ. Khi cha mẹ già rồi có thể bạn sẽ thấy họ thật phiền phức lôi thôi nhưng hãy nhớ đến ngày bạn thơ bé bạn cũng đã từng phiền phức lôi thôi như thế nhưng cha mẹ vẫn luôn yêu thương chở che. Và trước khi báo đáp cho cha mẹ, thì hãy sống cho xứng đáng với tình yêu thương ấy.

Bài văn mẫu 2

Có một câu ca dao đã từng ví: Con không cha như nhà không nóc”. Thử hỏi ngôi nhà là nơi ta cùng người thân chung sống, che mưa che nắng ấy vậy mà không có nóc thì nó sẽ như thế nào? Với con cái, ngoài sự chăm sóc chu đáo cần mẫn của người mẹ thì sự che chở bao bọc của người cha là mái nhà cho con vui chơi học hỏi hình thành nết người cho con. Cha là người bảo vệ cho con khỏi mưa nắng bão táp, ủ ấm con trong ngôi nhà của mình. Vì thế nếu như một ngôi nhà không có nóc thì đó là một ngôi nhà không hoàn chỉnh, nhất là với những đứa con đó là một sự thiệt thòi không nhỏ.

Mỗi đứa bé sinh ra trên cõi đời này đều có một cha và một mẹ nhưng mỗi người cha người mẹ của mỗi người sẽ khác nhau. Cha tôi sẽ khác ba bạn, cha tôi làm nông dân, cha bạn làm công nhân hay nhà khoa học nhưng chúng ta không cần quan tâm bởi chúng ta đang xét đến hình ảnh người cha trong gia đình chứ không phải địa vị ngoài xã hội. Những ai đã có một gia đình nhỏ, đã làm cha thì chắc hẳn đã biết được cảm giác hạnh phúc khi những đứa con nhỏ chào đời. Từ ấy trong cha bừng nên một ngọn nến, ngọn nến ấy ấp ủ trong cha sự yêu thương với gia đình con cái, tinh thần trách nhiệm ước mơ cho tương lai con cái sau này. Có nhiều người đã không quản hi sinh thân mình để che chắn bảo vệ con, nhiều người cha không tốt nhưng sau khi làm cha họ đã thay đổi, có người cha vì con mà trở thành những người cha gương mẫu, luôn tu chí rèn luyện bản thân cống hiến hết mình cho con mà không hề than vãn hay trách móc. Đó chẳng phải là tình cảm bao la vô bờ bến của người cha hay sao? Vì vậy mà đừng nên suy nghĩ đắn đo xem cha chúng ta là người như thế nào bởi lúc nào cha cũng thật vĩ đại.

Với mọi người tôi không cần biết họ nghĩ về cha tôi ra sao nhưng với tôi cha là số một. Tôi chưa bao giờ so sánh cha mẹ mình với cha mẹ người khác. Tôi thấy những gì mà mình được hưởng từ cha mẹ thật là hạnh phúc. Đặc biệt là có một nóc nhà như cha tôi. Tình cha thật là vĩ đại, nó không thể nhìn thấy bằng mắt thường mà phải nhìn bằng trái tim và tình yêu thương dành cho đấng sinh thành. Ở trong không gian bao la đầy ắp tình thương của người cha tôi tha hồ vùng vẫy nhảy múa và luôn được an tâm. Đó là một nguồn sức mạnh tiềm ẩn vững chắc cho sự phát triển bay cao bay xa của tôi. Dù tôi có vấp ngã hay sai trái thì khi ngoảnh lại sẽ vẫn nhận được tình cảm thương yêu của cha, ánh mắt đầy hi vọng,cái gật đầu đầy tin tưởng để tôi có thể tiếp tục bước đi.

Không một từ ngữ hay một điều gì có thể nói hết sự vĩ đại ấy. ”Công cha như núi thái sơn” – một câu tục ngữ để nói về công lao của người cha hay “Khúc hát tình cha – Ngọc Sơn” cũng chỉ là sự mô phỏng tượng trưng chứ không phải là tất cả. Trái Đất của chúng ta rộng lớn thật nhưng ta còn có thể đo được độ lớn của nó nhưng tấm lòng của cha dành cho con thì đố ai so nổi? Là những người con như tôi và các bạn hãy yêu thương cha mình bởi không một người đàn ông nào trên thế giới tốt hơn cha ruột của mình cả. Ai là người dạy ta cách đối nhân xử thế? Ai là người ngồi cả trưa quạt cho ta ngủ khi mất điện, ai dạy ta bản lĩnh và cách nhìn cuộc sống. Đó chỉ có thể là cha.

Núi cao to sông chảy dài thế nào ta cũng không thể hình dung được tình yêu thương của cha mẹ. Điều đó đã trở thành đạo lí và bổn phận của con cái, chúng ta phải biết ghi nhớ công ơn cha mẹ, vâng lời cha mẹ, cố gắng học tập tốt để cha mẹ vui lòng.

Tình cha – một đề tài không mới nhưng chỉ cần nó xuất hiện ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào thì nó cũng sẽ đánh động hàng triệu trái tim hồi tưởng lại ý nghĩa của nó. Không một cái gì có thể đánh đổi được tình cảm của cha dành cho con và: “Bạn không cần phải đắn đo phân tích xem cha chúng ta là người như thế nào vì lúc nào cha cũng thật vĩ đại”.

Bài văn mẫu 3

Người cha đóng vai trò trụ cột trong gia đình, là chỗ dựa đáng tin cậy cho vợ con. Mọi việc lớn như làm nhà, tậu ruộng, tậu trâu, dựng vợ gả chồng cho con cái thường là do người cha quyết định. Trách nhiệm của người cha rất nặng nề. Con cái ngoan hay hư, chủ yếu là tùy thuộc vào sự bảo ban dạy dỗ của người cha. Bên cạnh người mẹ dịu dàng là người cha nghiêm khắc. Dẫu cách thức biểu hiện tình thương yêu có khác nhau nhưng bậc cha mẹ nào cũng mong muốn nuôi dạy con cái trưởng thành về mọi mặt, đúng như dân gian đã nói: Con hơn cha là nhà có phúc. Trong lúc mẹ hằng ngày chẳng quản vất vả nhọc nhằn, lo lắng cho các con từ bát cơm, tấm áo thì người cha, ngoài những thứ đó ra còn phải nghĩ đến việc dạy dỗ, truyền kinh nghiệm sống mà mình đã đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, để các con học được những bài học thiết thực khi bước vào đời. Thật hạnh phúc cho những đứa con được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ!

Có biết bao người cha chấp nhận thiệt thòi về mình, dành tất cả thuận lợi cho con cái. Em đọc trên báo và xem truyền hình thấy những người cha lam lũ, quần quật làm những việc như: quét rác, đội trấu, đạp xích lô không từ nan bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện để kiếm tiền nuôi đàn con ăn học đến nơi đến chốn. Gần nhà em có một bác người Quảng Ngãi, tuổi hơn năm chục, làm nghề mài dao kéo. Ngày ngày, bác rong ruổi khắp nơi trên chiếc xe đạp cà tàng với vài hòn đá mài và thùng nước nhỏ. Bác vào thành phố đã hơn ba năm, kể từ khi anh con trai lớn thi đậu đại học Bách khoa. Mỗi lúc kể về những đứa con ngoan, bác cười rất mãn nguyện, đôi mắt ánh lên vẻ tự hào: – Nhà bác nghèo lắm! Được mấy đứa con, đứa nào cũng ham học và học giỏi. Năm nay, cô con gái thứ hai cũng đậu Đại học Sư phạm. Bác ráng làm kiếm ngày vài chục ngàn, cha con đùm túm nuôi nhau. Mình chẳng có chi cho các con thì cho chúng cái chữ, cái nghề!

Đức tính nổi bật của cha em là cần cù chịu khó, hết lòng vì vợ con. Tuy công việc thường xuyên bận bịu, cha vẫn cố dành thời gian quan tâm săn sóc đến việc học hành của các con. Cha em ít lời, chỉ nói những câu nào đáng nói như nhắc nhở, uốn nắn khuyết điểm hay động viên, khen ngợi khi các con làm được điều tốt, điều hay. Cha dạy chúng em lòng tự trọng và tính tự lập. Có lần cha bảo: – Đã là người thì phải có ý chí, không được ngại khó ngại khổ.

Càng khó càng phải làm bằng được. Em quý nhất cha em ở thái độ tôn trọng mọi người, tôn trọng vợ con. Có việc gì không vừa ý, cha bình tĩnh phân tích chứ không la lối, chửi bới. Bởi thế nên dù tính cha nghiêm khắc mà vẫn dễ gần, từ vợ con đến hàng xóm láng giềng đều nể phục. Cứ nghe những lời cha nói, nhìn những việc cha làm, em học được rất nhiều điều hay, điều tốt. Cha thường bảo con cái lấy bố mẹ làm gương nên cha rất giữ gìn ý tứ.

Bài văn mẫu 4

“Công cha như núi Thái SơnNghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

Hẳn ai trong cuộc đời cũng dành tình cảm trọn vẹn sự thủy chung, yêu thương cho hai đấng sinh thành của mình là cha và mẹ. Tình mẫu từ từ trước đến nay dường như đã được nói đến, nhắc đến rất nhiều, cả trong văn chương cũng như trong đời sống. Nói như vậy cũng không có nghĩa là tình phụ tử không bao la, cao cả như tình mẫu tử. Không, tình cảm ấy cũng thiêng liêng, đáng trân quý, chỉ là sự thể hiện tình cảm đối với con cái của một người đàn ông và một người đàn bà là thường có sự khác nhau.

Tình cảm của cha thường không bao giờ được nhẹ nhàng, âu yếm như của mẹ, nhưng nó cũng mãnh liệt, trọn vẹn và cũng vô cùng vững bền. Cha cũng như mẹ luôn luôn lo lắng cho con, khi có con, khi là người sinh con ra trên đời, cha mẹ hiểu rõ trách nhiệm cũng như tình cảm của mình. Con chính là nguồn sống của cha mẹ. Tuy nhiên khác với mẹ, tình cảm mẹ dành cho con được biểu lộ rất rõ ràng, nhưng còn với cha, nó rất thầm kín, ít khi được biểu lộ ra bên ngoài.

Tôi vừa xem được một clip rất cảm động trên mạng nói về tình cảm của cha dành cho con. Rất cảm động, rất đời thường nhưng không phải đứa con nào cũng nhận ra những tình cảm cao thượng nơi cha. Bình thường cha là người rất ồn ào, nhưng lại là người rất lặng lẽ đúng thời điểm, đó là khi cha nhẹ nhàng mang nước cho con khi con học bài. Bình thường cha là người khá luộm thuộm và không chịu để ý ngoại hình nhưng cha lại chỉnh chu đến mức thái quá trong ngày trọng đại của con. Bình thường cha là người rất tính toán chi tiêu, luôn cân nhắc suy nghĩ rất nhiều trước khi quyết định mua bán đồ vật gì trong nhà, nhưng với con, cha hào phóng, không tiếc con điều gì. Những khuyết điểm đáng yêu cùng với đó là những ưu điểm tuyệt vời của cha có thể có những đứa con dễ dàng cảm nhận được, nhưng cũng có thể là không.

Nhưng trong thực tế hiện nay, lại có rất nhiều người không hiểu được tình cảm của cha dành cho mình, có nhiều trường hợp còn có những hành vi ngược đãi cha mẹ. Cha mẹ già yếu lại thấy phiền không muốn chăm sóc và đẩy cha mẹ vào viện dưỡng lão. Những hành vi đó đáng phê phán vô cùng.

Tình phụ tử là tình cảm quan trọng trong mỗi cuộc đời con người, nó cũng thiêng liêng, cao cả và cảm động không kém gì tình mẫu tử. Mẹ và cha là hai người đã sinh thành, dưỡng dục và cho con cái có cuộc sống trên đời để được sống, trải nghiệm và yêu thương.

Bài văn mẫu 5

Một trong những thứ tình cảm thiêng liêng nhất trong cuộc đời con người là tình mẫu tử, nó là mối keo sơn gắn kết người sinh thành ra chúng ta. Trong cuộc sống cũng như trong thơ văn, tình mẫu tử luôn được nhắc đến với thái độ kính trọng, trân trọng nhất. Tuy không được nhắc nhiều đến trong thơ văn, trong cuộc sống, thế nhưng, tình phụ tử cũng là một thứ tình cảm thiêng liêng, đáng quý, đáng trân trọng biết nhường nào! Nó cũng cao cả, sâu nặng, nghĩa tình như tình mẫu tử vậy.

Công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ vô cùng to lớn, như trời như biển mà có cố gắng cả đời chúng ta cũng chẳng thể trả hết. Nếu như tình mẫu tử là sợi dây liên kết giữa người mẹ và con mình thì tình phụ tử lại là mối liên kết giữa cha và con. Tuy được thể hiện theo từng khía cạnh, cũng như biểu hiện khác nhau nhưng chung quy lại đều là một thứ tình cảm sâu nặng tựa trời biển.

Tình phụ tử sẽ giúp chúng ta bước qua sóng gió cuộc đời, nó cũng như tình mẹ vậy, vô cùng mãnh liệt, vô cùng vững bền. Cha cũng như mẹ, luôn lo lắng cho ta, luôn bao dung cho ta mọi lỗi lầm cùng như sai trái. Nếu như mẹ ân cần khuyên bảo, nhẹ nhàng răn dạy chúng ta để chúng ta đi đúng con đường đời thì cha lại khác. Cha rất nghiêm khắc với ta, có thể thẳng thắn khuyên răn chúng ta bằng những lời lẽ cứng cỏi, giáo dục chúng ta bằng sự nghiêm khắc của mình. Tình phụ tử khác với tình mẫu tử, bởi tình mẫu tử luôn được bộc lộ ra một cách tình cảm nhất, rõ ràng nhất nhưng tình phụ tử lại rất ít được biểu lộ, nó chỉ tồn tại thầm kín trong tâm hồn ta, chảy thật mạnh mẽ trong tim của ta.

Có mẹ có cha trên đời thì là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của chúng ta. Vậy mới nói, tình phụ tử, tình mẫu tử đối với mỗi người mà nói trong cuộc sống thật sự vô cùng quan trọng. Có cha trong đời, ta sẽ được chở che bằng đôi vai rộng, bằng tấm lưng lớn. Cha sẽ chăm sóc ta, dạy ta sự can đảm, sự mạnh mẽ và trưởng thành. Vâng, có cha, cuộc đời thật hạnh phúc biết nhường nào!

Hay các bạn có đọc tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng. Đó là hình ảnh một người cha đau khổ, con không nhận ra vì ông đã xa nó đi chiến đấu khi nó còn quá nhỏ, nhưng ông vẫn dành cho nó sự yêu thương nhất. Dù rằng bị con chối từ nhưng đối với ông, tình phụ tử đã khiến ông không một phút giây nào thôi nhung nhớ tới đứa con nhỏ ở quê nhà. Ông trân trọng từng phút từng giây bên con.

Cha đối với chúng ta mà nói, luôn yêu thương chúng ta bằng những cách đặc biệt nhất. Ta đi sai đường, mắc lầm mắc lỗi thì cha mẹ chính là người đau lòng nhất. Có thể nói, nếu không có cha trong cuộc đời này, đó là một thiệt thòi vô cùng to lớn của chúng ta. Tình phụ tử của cha sẽ giúp chúng ta đi đúng con đường của mình giữa hàng trăm con đường ở cuộc đời bộn bề sóng gió này. Cha sẽ chỉ dạy, sẽ hướng chúng ta tới những gì tốt đẹp nhất mà cha có thể mang tới. Rồi khi vấp ngã, cha sẽ nâng ta dậy, dạy ta những bài học quý, chỉ cho ta cách thức đứng lên giữa cuộc sống bon chen này. Phải, có cha, điều đó thật tuyệt vời biết bao nhiêu.

Tuy hiện nay, đâu đó vẫn xuất hiện một vài tin tức đáng buồn về tình phụ tử. Một người đàn ông ở Hà Nội cùng vợ của mình đã đuổi người cha già hơn tám mươi tuổi của mình ra ngoài đường trong đêm khiến người cha ấy phải ngủ ngoài lề đường. Thật sự một người con lại có thể đối xử với người cha đã nuôi nấng mình như vậy sao? Đó là một hành vi ngược đãi cha mẹ thực sự đáng lên án vô cùng. Cha mẹ chúng ta dù già yếu nhưng vẫn là người chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ chúng ta từ thuở còn thơ, đừng bao giờ cảm thấy phiền vì phải chăm sóc cha mẹ của mình.

Bài văn mẫu 6

Chẳng có một thước đo giá trị nào có thể đo được tình phụ tử – những tình cảm mà người cha dành cho người con của mình. Đó là thứ tình cảm mà chẳng ngôn ngữ nào có thể diễn tả được.

Nhưng, cha thầm lặng, bởi cha mang trong mình nhiều nỗi ưu tư, trăn trở về cuộc sống. Làm sao có thể chăm sóc, nuôi dưỡng chúng ta cho thật tốt. Gánh nặng của người cha là rất lớn, người cha, người đàn ông trụ cột trong gia đình. Cho nên, tất cả những công việc mà cha phải gánh vác là rất nhiều, khiến cho chúng ta luôn thấy cha thật nghiêm khắc, hay khó tính, nhưng thực ra thì, cha lại rất thương yêu chúng ta.

Sự yêu thương của cha được thể hiện qua hành động thực tế: những bữa cơm ngon, tiền tiêu vặt, những món quà cha tặng, hay là tiền để cho chúng ta đi học, đi chơi. Cha lo cho chúng ta rất nhiều thứ từ khi chúng ta còn bé. Bằng sự vất vả, khổ cực làm việc của cha. Chúng ta mới có những thứ chúng ta cần thiết, tiền để nuôi sống chúng ta. Đừng trách cha vì cha lạnh nhạt, chẳng quan tâm nói chuyện với chúng ta nhiều như mẹ. Bởi bạn biết đấy, cha là một người tuyệt vời. Tuyệt vời vì cha hi sinh cả cuộc đời mình để nuôi nấng chúng ta, chẳng một lời than phiền.

Tuy nhiên, trong xã hội, cũng có những người cha không hoàn hảo như vậy. Những người cha đánh đập chính những người con của mình. Vì họ bất lực trong cuộc sống, nên đánh đập chính con đẻ của mình là một sự giải sầu. Cũng có những người cha nghiện ngập, chỉ biết rượu chè, cờ bạc, hút chích, chẳng quan tâm gì đến con cái, chỉ biết có bản thân mình. Và những đứa trẻ, thật bất hạnh khi sống cùng những người cha như vậy. Hay xã hội hiện nay, với sự hội nhập không ngừng, văn hóa con người cũng trở lên xuống cấp. Những ông bố, bà mẹ tàn nhẫn vứt bỏ những đứa con của mình. Những người cha máu lạnh, vì phút bồng bột không làm chủ được bản thân mà gây hậu quả. Để rồi người nhận hậu quả lại chính là những người con của mình.

Cha, người tuyệt vời nhất, người quan tâm tới chúng ta nhất trên đời, người có thể hi sinh tất cả một cách thầm lặng. Là người con, chúng ta hãy trân trọng những giây phút được ở bên cha của mình. Bởi ai rồi cũng già, và cha cũng vậy. Cha cũng sẽ chẳng theo chúng ta tới suốt cuộc đời được, chẳng thể ở bên ta, chăm sóc ta như lúc ta còn thơ ấu nữa.

Bài văn mẫu 7

Những tình cảm yêu thương đối với cha mẹ luôn là những thứ tình cảm thiêng liêng, đáng quý nhất trong cuộc đời của mỗi con người, đó là mối keo sơn gắn kết giữa chúng ta với đấng sinh thành. Bên cạnh tình mẫu tử cao quý thì tình cảm phụ tử cũng rất sâu nặng và nghĩa tình đó là thứ tình cảm mà chẳng ngôn ngữ nào có thể diễn tả được.

“Cha là bóng mát giữa đờiCha là điểm tựa bên đời của con”

“Công cha như núi ngất trời ”

“Công cha như núi thái sơn”

“Cha là núi xanh hoài cỏ dại

Cha là trời mây trắng con bay ”.

Giống như nhà thơ Y Phương đã từng viết:

“Chân phải bước đến chaChân trái bước đến mẹMột bước chạm tiếng nóiHai bước chạm tiếng cười”

Biết báo hiếu làm tròn trách nhiệm là một người con ta nên biết chia sẻ, quan tam cha nhiều hơn, để cho cha mình được hạnh phúc an vui vơi bớt đi những gánh nặng của cuộc đời là điều mà chúng ta nên làm. “Cha luôn nói tôi là niềm tự hào đời này của cha. Thực ra tôi cũng muốn nói cha là niềm kiêu hãnh trong sinh mệnh của tôi ”. Dù mai sau khôn lớn có đi đâu tự mình bay thật xa thì những lời căn dặn quý báu, những cái xoa đầu dịu dàng của cha sẽ khiến chúng ta nhớ mãi không quên và theo ta đến hết cuộc đời.

25 Bài Thơ Về Mùa Đông Buồn, Tâm Trạng Cô Đơn, Lẻ Loi

1. Gió bấc

Tác giả: Hồ Văn Hảo

Gió bấc mang về nỗi nhớ nhung

Bờ lau xơ xác dưới mưa phùn

Nước tràn sông rộng, thuyền không bến

Lòng gởi chăn bông vẫn lạnh lùng.

Khi bóng hoàng hôn giục én bay

Hương buồn man mác lướt qua cây

Có ai nghe thấy gì trong gió?

Cả một thời xưa đọng ở đây.

2. Hơi ấm mùa đông

Tác giả: Khuyết danh

Gió bấc từng cơn sắp thổi về

Mây đen trà xuống phía bờ đê

Thương người bận bịu bao công việc

Nhớ bạn lo toan khắp mọi bề

Giá lạnh ập vào ôm gối lẻ

Buốt tê ùa tớí đắp chăn mê

ước mong Đông tới chung khăn ấm

Hạnh phúc đơm bông trọn ý thề.

3. Tuyết rơi

Tác giả: Nguyên Hải

Đêm đông về trời không khoác áo

Hơi lạnh tràn tuyết phủ trắng màu tang

Tiếng sóng lòng bồng bềnh theo nhịp đại dương

Hai bờ sóng vá không gian dày thương, dày xót

Đất gượng thở sưởi rừng dương cầm hơi đắng ngọt

Chiều đông gầy lặng ngắt bóng người qua.

4. Anh sẽ về viết tiếp tháng 12

Tác giả: Phạm Ngọc Giao

Anh sẽ trở về tháng 12

Để mùa đông chẳng tần ngần bên hiên cửa

Ngày chẳng xa và đêm qua chẳng vội

Anh sẽ về viết tiếp tháng 12.

Anh sẽ trở về tháng 12

Để được ôm vai gầy áo mẹ

Nghe những lời ru ầu ơ thủa bé

Khúc ca dao cổ tích nhiệm màu.

Anh sẽ về con đường đôi lứa đợi chờ nhau

Mãi chạy dài trong tận cùng kí ức

Về một mùa hoa cải bên sông

Có cô gái đợi ai chưa lấy chồng.

Anh sẽ về ngang ngõ mùa đông

Để tìm về thời ấu thơ trẻ dại

Buổi chiều hôm ngóng trông mẹ đầu ngõ

Dáng liêu xiêu, mong manh tấm áo sờn.

Anh sẽ về để cảm nhận chút cô đơn

Tìm thấy mình trong bộn bề nỗi nhớ

Nỗi nhớ thời gian trong từng hơi thở

Để hiểu thế nào là hạnh phúc, niềm vui.

Anh sẽ trở để tìm lại bấy nhiêu thôi

Của một thời, ai đi rồi tiếc nuối

Để viết về những bộn bề kí ức

Anh sẽ về để viết tháng 12.

5. Tình đông

Thơ: Dương Bích Hạnh

Nhớ anh à xuân về khắp mọi nơi

Đường phía trước vẫn xa vời đôi ngã

Sương khuya lạnh thấm bờ vai buốt giá

Đẫm hàng mi má hường đã bạc màu

Nhớ anh à tim nhức nhói quặn đau

Bởi xa cách tình uá nhàu phai nhạt

Tuyết vùi phủ ngọn lửa hồng lụi tắt

Giọt buồn giăng gió hiu hắt cuối chiều

Nhớ anh à khuê phòng vắng cô liêu

Em góp nhặt tìm lời yêu thủa trước

Tim thổn thức giá thời gian trở ngược

Dành cho nhau phút rạo rực hương nồng

Dấu yêu à anh có nhớ em không

Hay sóng vỗ tình trôi dòng bến lạ

Gió cuốn thổi bay về đâu chiếc lá

Lỡ yêu người ôm lạnh giá TÌNH ĐÔNG..!!!

6. Bài thơ cuối đông

Tác giả: Bounthanh Sirimoungkhoune

Cuối đông lang đãng sương phủ mờ

Lòng vẫn ngóng ai vẫn đam mê

Ánh trăng cuối đông mờ mờ nhạt

Trong lòng khao khát lạnh bờ mi.

Cuối đông đã đến sắp chào đi

Lại thêm một mùa để lại gì

Trăng khóc đổ hạt sương trời đó

Gợn lòng nhớ em cõi đêm khuya.

7. Không tựa đề

Tác giả: Thơ sưu tầm

Ngoài trời khuya gió đông về lạnh buốt

Em một mình với gối chiếc cô phòng

Khóc cho đời dang dở một ước mong

Khi cố quên lòng càng thêm nức nở.

8. Mùa đông xa nhau

Tác giả: Khuyết danh

Trời lạnh rồi, mặc thêm áo nghe em

Gió thổi nhiều, nhớ quàng khăn kín cổ

Trời sương giá, đeo găng cho khỏi buốt

Mùa đông dài, sẽ lạnh giấc mơ quen.

Trời lạnh rồi, nơi ấy có buồn không?

Chiều vội vã nắng chưa vàng đã tắt

Lời ngọt ngào lời chưa trao đã mất

Mùa đông về em có lạnh lắm không?

Ở bên này trời vừa mới vào đông

Nửa trời kia trời lại trong mùa nắng

Chẳng ai nhớ, chẳng ai còn muốn nhớ

Bởi mùa nào gió cũng lạnh như nhau.

9. Xa Em Mùa Đông

Tác giả: Nguyễn Quang Long

Mùa đông đến gợi nhiều nỗi nhớ

Em yêu giờ đang ở nơi xa

Đông mang cái lạnh thấu da

Một mình lạnh lẽo mắt nhòa lệ rơi

Phương trời xa em ơi có biết

Nhớ khi xưa thời tiết chuyển mùa

Mùa đông gió bấc rét lùa

Bên nhau anh quạt gió đùa trêu em

Đêm lạnh lẽo không em trống rỗng

Cho tim anh giấc mộng tan tành

Anh buồn thao thức tàn canh

Gửi vào nỗi nhớ để dành em yêu

Đã xa rồi bao điều mộng ước

Biết bao giờ mình được bên nhau

Mình anh với trái tim đau

Còn đâu lời ước, trước sau chung tình!

10. Em ơi, Hà Nội phố

Tác giả: Khuyết danh

Em ơi, Hà Nội phố

Ta còn em mùi hoàng lan

Ta còn em mùi hoa sữa

Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ

Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm

Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông

Ta còn em nóc phố mồ côi mùa đông

Mảnh trăng mồ côi mùa đông

Mùa đông năm ấy

Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ

Tan lễ chiều sao còn vọng tiếng chuông ngân

Ta còn em một màu xanh thời gian

Từng chiều phai tóc em bay

Chợt nhòa, chợt hiện

Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố

Bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một con đường

Ta còn em hàng phố cũ rêu phong

Và từng mái ngói son yêu

Nao nao kỉ niệm

Chiều Hồ Tây lao xao hoài con sóng

Chợt hoàng hôn về tự bao giờ.

11. Đông về xa anh

Tác giả: Đức Trung

Đêm qua gió lạnh tràn về

Đơn côi gối chiếc tái tê trong lòng

Giờ này em có biết không?

Thu tàn sắp hết mùa đông bắt đầu

Sao mình cứ mãi xa nhau?

Để tim khắc khoải nỗi sầu tâm can

Chia ly thương nhớ vô vàn

Tình như con sóng nát tan trong lòng

Bao nhiêu mộng ước chờ mong

Đừng làm phai nhạt má hồng nghe em?

Anh nằm thao thức trong đêm

Nhớ bao kỷ niệm êm đềm biết không?

Tình yêu như ngọn lửa hồng

Sẽ luôn sưởi ấm mùa đông lạnh lùng.

12. Hơi ấm mùa đông

Tác giả: VuHungViet & P.Nam

Gió bấc từng cơn sắp thổi về

Mây đen trà xuống phía bờ đê

Thương người bận bịu bao công việc

Nhớ bạn lo toan khắp mọi bề.

Giá lạnh ập vào ôm gối lẻ

Buốt tê ùa tới đắp chăn mê

Ước mong Đông tới chung khăn ấm

Hạnh phúc đơm bông trọn ý thề.

13. Mùa đông đợi

Tác giả: Hoàng Nghi

Thấm thoát mùa thu cũng đã xong

Tháng mười lại đến tiết trời đông

Vi vu gió thổi se se lạnh

Ào ạt sóng tràn tuyết giá băng

Trống vắng đơn côi sầu lắng động

Cô đơn lẻ bóng buồn trào dâng

Cuộc tình đã mất còn đâu nữa

Còn lại mình ta vẫn đợi mong.

14. Đêm đông

Tác giả: Bounthanh Sirimoungkhoune

Đêm đông buồn lắm thay

Sương trắng ngập trời bay

Lạnh lẽo canh dài ngóng

Chờ trông chẳng ai hay.

Đêm đông lạnh heo may

Trao nhau từng cơn say

Bóng ai qua ngoài ngõ

Chẳng biết rõ là ai.

Đêm đông chợt nhớ hoài

Bên đường đó là ai

Muốn trao gửi lời nhớ

Cho giảm bớt cơn say.

Đêm đông lạnh canh dài

Phảng phất bóng ai đây

Sao gửi hồn cho tới

Đôi lời tới tận tay.

15. Nhặt

Tác giả: Thanh Hùng

Nhặt nắng vừa loang ở cuối trời

Đem về hong lại nỗi chơi vơi

Chiều qua gió lạnh luồn tim nhỏ

Bất chợt làm ta lại nhớ người

Nhặt dăm chiếc lá nhẹ nhàng bay

Viết hết tình thư để tỏ bày

Thuở ấy quên rồi chưa kịp nói

Nên người phương đó chẳng hề hay

Dường như sót lại điều gì đó

Rỉ rả hạt buồn đọng khoé mi

Có lẽ mùa thu còn bỏ lỡ

Để ta nhặt lấy những thầm thì

Ta vừa mới bỏ nỗi hanh hao

Nó cứ cuồng dâng tựa sóng trào

Nếu gặp thì xem như chẳng thấy

Xin đừng nhặt lấy để nao nao

Nhặt chút heo may gió lạnh về

Bên thềm rêu phủ thật lê thê

Chớm đông vàng úa từng chiếc lá

Để lại trong ta chút não nề.

16. Về đi anh

Tác giả: Thanh Hiếu

Em lạnh rồi giờ anh ở nơi đâu

Có về nối lại nhịp cầu dang dở

Bao đông đến lời hẹn thề đã lỡ

Đêm tàn canh buồn vô cớ tim gầy

Anh hãy về mình cùng ngắm áng mây

Bồng bềnh gợn giữa trời đầy nắng gió

Chút e thẹn làm má em hây đỏ

Nụ hôn nồng ai đó đặt bờ môi

Tháng mười sang kìa đông ghé thật rồi

Em muốn được ngồi bên anh thủ thỉ

Kể ra hết những gì lòng đang nghĩ

Bao chờ mong âm ỉ dấu yêu à

Thu cúc vàng cũng mấy độ đi qua

Tim trăn trở bao nhiêu là nỗi nhớ

Trời ban tặng cho hai mình duyên nợ

Về đi anh xin người chớ chần chừ.

17. Đông về

Tác giả: Lê Ngọc

Sáng thức giấc thấy trời se se lạnh

Mới hay thu đã tránh để đông về

Chợt giận mình sao nửa tỉnh nửa mê

Thời gian qua mà chẳng hề nhìn lại !

Chỉ mải miết đắm chìm trong hoang hoải

Ngắm mùa thu vàng lá trải trên đường

Thả tâm hồn phiêu lãng với mùa thương

Mà đâu biết má hường em nhạt nắng !

Ngồi nơi đây một mình nơi quán vắng

Ly cà fe từng giọt đắng rơi rơi

Góc thân quen giờ đây vắng một người

Lại nuối tiếc thưở đôi mươi khờ dại !

Phố ngày xưa khắc đậm sâu tim mãi

Nhìn dòng người qua lại dáng thân quen

Từ sáng mai cho tới lúc lên đèn

Lại lê gót tìm chút men cay đắng !

Ta tìm mãi một bến bờ phẳng lặng

Nơi ngọt ngào không đắng mặn bờ môi!

18. Nỗi nhớ mùa đông

Tác giả: Tùng Trần

Đông đã về trên từng con phố nhỏ

Lạnh vai gầy… anh chợt ngó mông lung

Mùa đông xưa ta sánh bước đi cùng

Nhưng đông này… anh lạnh lùng đơn lẻ.

Giờ nơi đâu… người yêu xưa nhỏ bé?

Nhớ em nhiều… anh khoé mắt lệ cay

Bước một mình trên phố vắng chiều nay

Lối đi xưa bổng dài thêm nỗi nhớ.

Lạc mất nhau khiến lòng anh trăn trở

Giờ phương nào… em có nhớ anh không?

Có khi nào… nhớ kỉ niệm mùa đông

Hay hạnh phúc bên chồng trong êm ấm?

Sao thời gian cứ mãi trôi chầm chậm

Để đêm về… lệ ướt đẫm bờ môi

Đông đã sang nhưng phố vắng em rồi

Chợt tim anh… bồi hồi bao kỉ niệm.

Nhớ đến em… anh nghe hồn tắt lịm

Mất nhau rồi biết tìm ở nơi đâu?

Anh đớn đau vỡ giấc mộng ban đầu

Để đông sang… anh đơn sầu… cô lẻ!

19. Mùa đông nhớ anh

Tác giả: Khuyết danh

Bấc lạnh theo về tiết chuyển đông.

Gối chiếc chăn đơn tủi quần hồng.

Mây trôi gió thổi trời lồng lộng.

Nắng nhạt mưa đêm đất chẳng nồng.

Bến nước thuyên xa lòng mải ngóng.

Duyên xưa tình cũ dạ hoài mong.

Bao lần mòn mỏi vì chờ đợi.

Thử hỏi người đi có biết không?

20. Nhớ kỷ niệm chiều đông

Tác giả: Dương Anh Dũng

Con phố nhỏ giờ đây lặng lẽ

Nét u buồn điểm nhẹ màu mây

Nhớ thương một thủa đong đầy

Hàng mưa nắng tỏa còn đây nỗi lòng

Từng kỉ niệm chờ mong sống mãi

Giữa Hồ Gươm biển ái nghiêng thuyền

Tháp rùa cũng tỏ tình duyên

Hai người nguyện ước, trăm miền mãi mơ

Cơn gió lạnh xô bờ vẫy gọi

Nụ hôn nồng khẽ gói tình ta

Áng mây nặn vẽ căn nhà

Ngày đêm hạnh phúc, rời xa cõi buồn

Đông ngập lối tình tuôn ảo não

Đám sương mù giả tạo đường đi

Bỗng nhiên bỏ lại xuân thì

Lòng anh vẫn đó tình si mặn mà

Ngày giã biệt lời ca héo rủ

Mộng tàn phai lối cũ Hà Thành

Dẫu rằng chẳng hận trời xanh

Đôi lần trách hỏi không đành vậy sao

Giờ trở lại ai nào đã thấy

Ngỡ người yêu sống dậy quay về

Chỉ cần một kiếp hoài mê

Mong rằng giữ trọn câu thề thuở xưa

21. Nhớ đông Hà Nội

Tác giả: Hồng Nguyễn

Hà Nội đông về gió lạnh tái tê

Em một mình vẫn nhớ về Hà Nội

Thèm được nghe lời yêu thương nhắn gởi

Của ai đó nơi đâu nghĩ tới mình …

Mùa đông về cúc hoạ mi trắng tinh

Nở e ấp như nụ cười thiếu nữ

Liễu hồ Tây vẫn thì thầm buông rủ

Như tóc ai xanh mướt tuổi học trò …

Giọng nói Hà thành dịu nhẹ âu lo

Như gió thổi vi vu qua đầu lưỡi

Con gái Hà Nội da như hoa bưởi

Ngan ngát hương trinh níu bước ai nhìn …

Tôi là kẻ quê mùa lắm yêu tin

Yêu Hà Nội và tin người Hà Nội

Yêu cái đẹp không tiền nào mua nổi

Xa xăm rồi nhớ mãi góc trời Quê.

22. Hà Nội và Anh

Tác giả: Mộc Nhiên

Hà Nội bây giờ đang rét phải không?

Anh nhớ mang theo áo khăn đủ ấm

Em thấy người ta bảo rằng lạnh cóng

Bỗng lo cho anh những lúc ra đường

Chúng mình bây giờ không phải người thương

Mà đã gọi nhau bằng người yêu cũ

Nhớ mùa đông trước anh còn nhắn nhủ

“Mình phải bên nhau đến lúc bạc đầu”

Vậy mà đông này mình đã xa nhau

Hà nội và anh trở thành nỗi nhớ

Kí ức mùa đông bên anh còn đó

Em với hoạ mi hôm ấy rộn ràng

Hà Nội đông về nỗi nhớ miên man

Muốn được lang thang qua từng con phố

Kỉ niệm ngày yêu vẫn còn đâu đó

Chỉ mới đây thôi chưa thể xoá nhoà

Em ước một ngày nào đó không xa

Sẽ được đón đông trong lòng Hà Nội

Dẫu rằng chúng mình không còn chung lối

Hà Nội vẫn là nỗi nhớ trong em.

23. Không tựa đề

Tác giả: Khuyết danh

Trời lập đông, tháng mười hai se lạnh

Một mình anh đi giữa phố đêm khuya…

Nghe thấm lạnh từ trong lòng nổi nhớ

Bóng hình người con gái đã thương yêu.

Tháng mười hai, còn chút gì vương vấn

Bao yêu thương, lưu luyến buổi ban đầu

Lần hò hẹn mắt nhìn nhau nồng ấm

Lời yêu thương đã nói tận đáy lòng.

Tháng mười hai, trời vẫn còn mưa muộn

Nhìn mưa rơi lất phất lại thêm buồn

Bao yêu thương dâng đầy theo ngày tháng

Sâu thẳm lòng anh nổi nhớ không nguôi.

Tháng mười hai, anh trầm ngâm lặng lẽ

Gom hết lại bao thương yêu, nhung nhớ

Anh mang theo trên đường đời vô định

Bóng hình em sâu thẳm tận lòng anh.

24. Nhớ kỷ niệm chiều đông

Tác giả: Dương Anh Dũng

Con phố nhỏ giờ đây lặng lẽ

Nét u buồn điểm nhẹ màu mây

Nhớ thương một thủa đong đầy

Hàng mưa nắng tỏa còn đây nỗi lòng

Từng kỉ niệm chờ mong sống mãi

Giữa Hồ Gươm biển ái nghiêng thuyền

Tháp rùa cũng tỏ tình duyên

Hai người nguyện ước, trăm miền mãi mơ

Cơn gió lạnh xô bờ vẫy gọi

Nụ hôn nồng khẽ gói tình ta

Áng mây nặn vẽ căn nhà

Ngày đêm hạnh phúc, rời xa cõi buồn

Đông ngập lối tình tuôn ảo não

Đám sương mù giả tạo đường đi

Bỗng nhiên bỏ lại xuân thì

Lòng anh vẫn đó tình si mặn mà

Ngày giã biệt lời ca héo rủ

Mộng tàn phai lối cũ Hà Thành

Dẫu rằng chẳng hận trời xanh

Đôi lần trách hỏi không đành vậy sao

Giờ trở lại ai nào đã thấy

Ngỡ người yêu sống dậy quay về

Chỉ cần một kiếp hoài mê

Mong rằng giữ trọn câu thề thủa xưa.

25. Đông lạnh

Thơ: Hoàng Yến

Đông về rồi …anh có thấy lạnh không

Có buồn không …khi nhìn trời u ám

Hay tình chết rồi…lòng sẽ thành vô cảm

Chẳng thấy não nề khi gió lạnh …đông sang

Anh nhớ không…duyên mình đã lỡ làng

Ta xa nhau …từ mùa đông năm ấy

Bao đông rồi…mà vẫn đau biết mấy

Khi gió lạnh về …mưa bụi cứ rơi rơi

Gió đông về …lòng em cứ chơi vơi

Cơn gió vô tình cứ nhắc hoài …thủa ấy

Chẳng thể gom được nắng mùa hè bỏng cháy

Để đông về …đừng lạnh lẽo cô đơn

Tình cũ rồi…chẳng dám trách dám hờn

Trách cơn gió …cứ vô tình gợi nhớ

Gió đông ơi …đã chẳng mong gặp gỡ

Mùa đông này ….đừng lạnh nữa được không.

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Mẫu Lớp 10: Phân Tích 16 Câu Đầu Bài Thơ Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ Dàn Ý + 8 Mẫu Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ 16 Câu Đầu trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!