Xu Hướng 2/2024 # Văn Mẫu Lớp 8: Phân Tích Nhân Vật Hồng Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ 2 Dàn Ý + 16 Bài Văn Mẫu Lớp 8 Hay Nhất # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Văn Mẫu Lớp 8: Phân Tích Nhân Vật Hồng Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ 2 Dàn Ý + 16 Bài Văn Mẫu Lớp 8 Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

TOP 16 bài Phân tích nhân vật Hồng trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng, kèm theo 2 dàn ý chi tiết, sẽ giúp các em học sinh lớp 8 cảm nhận sâu sắc hơn về số phận cay đắng, tình cảm mãnh liệt của bé Hồng với mẹ.

A. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Đoạn trích “Trong lòng mẹ” được trích trong tác phẩm “Những ngày thơ ấu” của nhà văn Nguyên Hồng.

– Khái quát tính cách, phẩm chất nhân vật bé Hồng trong đoạn trích: Nhân vật bé Hồng là nhân vật trung tâm của đoạn trích với cảnh ngộ đáng thương và tình yêu thương mẹ đáng trân trọng.

B. Thân bài:

Luận điểm 1: Cảnh ngộ đáng thương, buồn tủi của chú bé Hồng

– Hồng là kết quả của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Cha mất sớm. Người mẹ vì cùng túng quá phải tha hương cầu thực. Chú phải sống xa mẹ, sống cùng họ hàng ở bên nội. Nhưng cậu lại không hề được yêu thương. Cậu phải sống trong sự ghẻ lạnh và cay nghiệt của những người được gọi là thân thích.

– Trong ngày giỗ đầu của cha, cậu vừa phải chịu nỗi đau mất cha, vừa phải nghe những lời châm chọc, cay nghiệt của người cô về mẹ của mình. Từng lời nói từ cô như cứa thêm vào tâm hồn nhỏ bé, đáng thương hàng nghìn nỗi đau. Họ chỉ muốn gieo giắc vào đầu cậu bé những điều xấu xa, để cậu ruồng bỏ chính mẹ ruột của mình như cách họ ruồng bỏ râu con trong nhà.

– Lời bà cô càng thâm hiểm, ác độc bao nhiêu thì chú bé lại càng đáng thương bấy nhiêu khi phải một mình chống đỡ yếu ớt lại miệng lưỡi người đời và những hủ tục lạc hậu, ác nghiệt.

Luận điểm 2: Tình yêu thương mẹ của chú bé Hồng

– Trong cuộc đối thoại với người cô, Hồng đã thể hiện tình yêu thương, niềm tin của mình vào người mẹ khi trả lời cô một cách dứt khoát và thông minh

+ Nhận ra ý nghĩ thâm độc trong giọng nói và nét cười rất kịch của cô tôi

+ Nhận ra mục đích của người cô : Biết rõ “ nhắc đến mẹ tôi cô tôi chỉ gieo giắc vào đầu tôi những hoài nghi và khinh miệt để tôi ruồng rẫy mẹ tôi”

+ Người cô càng mỉa mai Hồng càng thương mẹ hơn. Một khao khát mãnh liệt trong suy nghĩ của Hồng đó là muốn những cổ tục đã đầy đọa mẹ thành một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ để vồ lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi.

– Nếu trong cuộc hội thoại với người cô, chú bé Hồng thể hiện tình yêu me bằng cách phản kháng mãnh liệt thì trong cuộc gặp gỡ bất ngờ với mẹ của mình, chú bé Hồng như quay trở về với chính tâm hồn non nớt, bé bỏng đáng có của mình.

– Khi “ thoáng thấy một bóng người ngồi trên xe kéo”, chú bé đã vội vã chạy đuổi theo từ đây ta thấy được tâm trạng hồi hộp, niềm khát khao mong được gặp mẹ của Hồng

– Tâm trạng cô đơn khi thiếu vắng mẹ và mong ước cháy bỏng được gặp lại mẹ của Hồng được bộc lộ rõ qua những suy nghĩ, những giả thiết ngây thơ, trong sáng mà chứa đựng nhiều nỗi đau.

– Được ngồi lên xe cùng mẹ chú òa lên khóc rồi cứ thế nức nở khiến cho người mẹ cũng sụt sùi theo. Ba từ “òa, nức nở, sụt sùi” cùng một trường nghĩa , nối nhau miêu tả các dạng thức đặc biệt của tiếng khóc của những dòng lệ. Đây là âm thanh, là nước mắt của biết bao nỗi niềm, tâm trạng của hai mẹ con: tự hào, bàng hoàng, sung sướng..

– Suy nghĩ liên tưởng của Hồng : “ Phải bé lại và lăn vào lòng mẹ” ⇒ cảm giác mình đang bé lại để làm nũng mẹ, để hưởng sự vuốt ve, chiều chuộng lâng lâng.

⇒ Nhờ tình yêu thương và niềm tin ấy, đến khi gặp mẹ, bé Hồng đã nhận được niềm sung sướng và hạnh phúc lớn lao. Người mẹ của bé Hồng trở về đúng thời điểm quan trọng nhất, đã xua tan mọi đau đớn, dằn vặt trong tâm hồn chú bé.

C. Kết bài:

– Khái quát lại hình ảnh nhân vật chú bé Hồng và nghệ thuật của đoạn trích: Hình ảnh nhân vật chú bé Hồng khiến người đọc xúc động với tình mẫu tử thiêng liêng, cao quý.

– Liên hệ phong cách sáng tác của nhà văn Nguyên Hồng: Nhà văn Nguyên Hồng là một nhà văn nhân đạo – hiện thực luôn hướng ngòi bút của mình cho những con người bất hạnh, đặc biệt là phụ nữ và trẻ con.

1. Mở bài

Giới thiệu đoạn trích Trong lòng mẹ và nhân bé Hồng: Nguyên Hồng là một nhà văn với ngòi bút chan chứa tình cảm. Ngòi bút của ông được thể hiện rõ nhất qua đoạn trích Trong lòng mẹ. Chú bé Hồng – chính tác giả hồi nhỏ đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.

2. Thân bài

a. Tuổi thơ cơ cực của Hồng

– Là đứa con sinh ra trong một gia đình không có tình yêu: bố vì nghiện thuốc phiện mà chết sớm; mẹ phải bỏ đi tha hương cầu thực; em sống cùng với người cô cay nghiệt.

b. Cuộc đối thoại của Hồng và bà cô

+ Khi bà cô xoáy sâu vào nỗi đau, sự thiếu thốn tình mẫu tử: em im lặng không nói gì.

+ Sự tức giận lên đến tột cùng, em căm hờn những hủ tục lạc hậu và miệng đời cay nghiệt đã đày đọa mẹ mình, em ước nó như hòn đá, cục thủy tinh, mẩu gỗ để cắn, nhai, nghiến đến kì nát thì thôi → Tình yêu thương mẹ vô bờ bến, khao khát muốn bảo vệ mẹ trước mọi điều xấu xa.

c. Cuộc gặp gỡ của Hồng và mẹ

+ Trong lòng em luôn khao khát mẹ về và được gặp mẹ, khi thấy người ngồi trong xe kéo giống mẹ đã gọi và chạy theo → mẹ luôn hiện hữu trong lòng em.

+ Cảm giác xấu hổ với đám bạn nếu đó không phải mẹ mình nhưng trên hết là sự tủi thân vì luôn mong ngóng mẹ.

+ Khi biết người ngồi trên xe là mẹ mình: chạy đến, òa khóc nức nở, vỡ òa cảm xúc.

+ Thu mình trong lòng mẹ để cảm nhận tình yêu thương, hơi ấm. Em nhận ra mẹ không tiều tụy như lời người cô kể mà vẫn tươi đẹp như thuở sung túc.

+ Lời người cô văng vẳng bên tai nhưng nhanh chóng tan biến chỉ còn lại tình yêu thương và cảm xúc hạnh phúc.

→ Tình mẫu tử thiêng liêng là động lực giúp Hồng vượt qua tất cả những nỗi đau.

3. Kết bài

– Khái quát lại nhân vật: bé Hồng không chỉ lấy được nhiều sự thương cảm của mọi người mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, nhắc nhở con người cần phải bảo vệ trẻ em, để trẻ em có một môi trường sống tốt nhất có thể.

Gia đình là điểm tựa vững chắc, là cái nôi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ nhỏ. Thế nhưng không phải đứa trẻ nào có gia đình cũng lớn lên trong sự chở che và tràn ngập hạnh phúc, trong cuộc sống của chúng ta luôn tồn tại những thứ gọi là ngoại lệ, luôn có những sự thật bất biến mà khi nghe đến ai ai cũng phải thốt lên bàng hoàng. Một trong những ngoại lệ đó là bé Hồng, một cậu bé đáng thương trong đoạn trích ” Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng, người mà người ngoài nhìn vào tưởng chừng như có cuộc sống rất sung túc và ấm cúng thế nhưng ẩn sâu trong đó là là những tủi nhục, ấm ức và tổn thương sâu nặng.

Bé Hồng được sinh ra trong một gia đình khá giả và giàu có, gia đình em có tất cả và chỉ thiếu duy nhất đó là hạnh phúc. Đúng vậy, đó là một cuộc giao dịch của gia đình hai bên không hơn không kém, không tình cảm, cuộc sống trở nên rẻ mạt và vô vị, không niềm vui, không tiếng cười hạnh phúc. Thế nhưng thời gian qua đi mối quan hệ ấy đã đâm hoa kết trái và gia đình ảm đạm ấy cuối cùng cũng đón chào đứa con đầu đời của mình. Đó chính là cậu bé Hồng.

Tưởng chừng khi đứa con đầu đời của họ chào đời thì gia đình ấy sẽ thêm gắn kết và mối quan hệ gượng ép kia sẽ được cải thiện, thế nhưng không, cuộc sống vốn đã mệt mỏi nay lại càng thêm mỏi mệt và xa cách. Được sinh ra trên đời đâu phải là cái tội vậy mà cậu bé Hồng lại đang phải chịu những tổn thương trực tiếp từ cha mẹ mình. Làm gì có đứa con nào cảm thấy hạnh phúc nếu bố mẹ chúng không yêu thương nhau. Mối quan hệ hời hợt đến mức ngay cả một đứa nhỏ vài tuổi cũng nhận ra, cũng tự thấy đau đớn và tổn thương, Hồng nhận ra em chỉ là điều cuối cùng còn sót lại để níu giữ mối quan hệ của hai con người đã sinh ra mình. Sự thật phũ phàng như thế liệu có quá nhẫn tâm với một đứa bé vô tội.

Nhưng những tổn thương mà em phải gánh chịu đâu có như thế, bên trong thì gia đình lục đục không hạnh phúc, bên ngoài thì lại nhận những lời dèm pha về cha mẹ, những tin đồn thất thiệt về mẹ mà em chẳng biết đúng sai. Những thứ mà mọi người nói ngoài kia, những điều mà em nghe được về mẹ mình liệu có đúng, em không tin đó là sự thật, em đã đấu tranh suy nghĩ để giữ lại hình ảnh về người mẹ đẹp nhất trong tâm trí mình, gắng gượng sống tiếp mà bỏ ngoài tai những điều thị phi và tai tiếng về cha mẹ. Trong phút chốc đứa nhỏ đáng thương trở thành tâm điểm của những mũi giáo chĩa về phía người thân của mình. Bi kịch chưa dừng lại ở đó, không hạnh phúc đã đành, thiếu thốn đã đành nhưng nay em lại chịu cảnh tan nát gia đình vì người bố nghiện ngập. Bố là trụ cột gia đình, là tấm gương cho con cái noi theo vậy mà người cha vô dụng kia lại biến mình trở thành gánh nặng cho vợ con, trở thành nỗi tủi nhục lớn nhất đối với mẹ con cậu bé Hồng. Mẹ bé Hồng phải lao động cực nhọc để nuôi chồng, nuôi con, tấm thân gầy guộc ấy vừa phải chăm lo cho cuộc sống vừa phải trang trải nợ nần, bà sống mà chẳng phải là sống, sống mà lòng như đã chết.

Vì nghiện ngập mà không lâu sau đó người cha qua đời, nỗi đau này chưa dứt thì nỗi đau kia lại xảy ra, mẹ bé Hồng từ bỏ cuộc sống mỏi mệt đi tìm niềm vui mới bỏ lại một mình em sinh tồn nơi xã hội hiểm ác. Người ta thường nghĩ là giàu sang thì sẽ hạnh phúc thế nhưng không phải như vậy. Dù được sống trong cảnh giàu sang ở nhà họ nội thế nhưng em lại phải chịu sự hắt hủi, khinh rẻ và vô cảm của lũ người ruột thịt. Họ cũng có cùng máu mủ với em, là những người mà đáng ra phải bảo vệ, an ủi và chở che em trong những lúc khó khăn nhất thì họ lại là người quay lưng để rồi nhẫn tâm tạt vào mặt em gáo nước lạnh giá buốt. Gia đình em tan vỡ, người ngoài buông lời dèm pha đã đành thế nhưng ngay trong cái gia đình ấy lại có những kẻ máu lạnh cố gieo dắt vào đầu em những điều không hay, bà cô độc ác cố vấy bẩn suy nghĩ của em về mẹ, từng lời lẽ sắc bén như lưỡi dao khứa mạnh vào trái tim đang nhỏ máu của đứa bé bất hạnh. Bà cô như một con rắn độc mưu mô đang cố hãm hại đồng loại của mình, cố gây sát thương cho đứa cháu tội nghiệp bằng những lời giả dối mà vô cùng giả tạo.

Và cuối cùng sau bao đau đớn và tổn thương mà em gánh chịu, sau bao ngày mong nhớ khát khao được gặp mẹ thì ước nguyện đó cũng đã thành hiện thực, ngày hôm đó em đã được gặp lại mẹ của mình, gặp lại người mẹ đáng thương mà em luôn cố bảo vệ và tôn thờ bấy lâu nay. Người ta thường nói người mình thương yêu thì dù họ có lẫn trong đám đông chúng ta vẫn có thể tìm ra được, và đúng là như vậy, cậu bé Hồng đã nhìn thấy mẹ của mình trên chiếc xe kéo. Xúc động là thế nhưng em bỗng chốc khựng lại, trong lòng em trào dâng một thứ cảm xúc hỗn độn nào đó, bối rối và hoang mang đến lạ, em sợ mình nhận nhầm người, sợ niềm hy vọng mà mình ấp ủ bấy lâu nay không trở thành hiện thực, sợ người đó không phải là mẹ mình, sợ em ôm hy vọng rồi lại đổi lấy thất vọng. Thế nhưng sau vài giây giằng co trong suy nghĩ em đã bất chấp tất cả cất lên tiếng gọi đầu tiên sau ngần ấy thời gian xa cách mẹ, giọng đứa bé run run bối rối: “Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!”. Và bao mong mỏi của em đã được đền đáp, đó không phải ai khác mà chính là mẹ của em, người mẹ hiền từ mà em mong mỏi được gặp bấy lâu.

Cuộc hội ngộ của hai mẹ con đã giúp tâm hồn em được an ủi, ít nhất trong những giây phút ngắn ngủi đó em không còn phải tự mình chống chọi với thế giới, không còn phải gồng mình mà tỏ ra mạnh mẽ, vậy là em đã khóc, những giọt nước mắt rơi xuống không biết là vì hạnh phúc hay vì những tủi nhục vỡ òa trong em. Ngày hôm ấy có hai tâm hồn sứt mẻ đã tìm về được với nhau, tìm thấy niềm hạnh phúc hiếm hoi trong cuộc đời của mình.

Bức tranh về tình mẫu tử ấm áp đã khép lại tác phẩm, đó là thứ tình cảm thiêng liêng và bất diệt. Dẫu có bị vùi dập nhưng nó vẫn luôn bùng cháy và mãi mãi rực sáng trong tim mỗi người. Tình mẫu tử ấy đã giúp cậu bé Hồng vượt qua tất cả, chống chọi với những khó khăn, thách thức khắc nghiệt để hướng đến những điều tốt đẹp.

Trong chúng ta, tình mẫu tử luôn là thiêng liêng và ấm áp nhất. Những đứa con dù hiền hay dữ, dù sang hay hèn thì trong trái tim mình đều có tình yêu thương bao la dành cho mẹ – người sinh thành, nuôi dưỡng và luôn dành cho ta những điều tốt đẹp nhất. Tôi đã đọc nhiều câu chuyện, nhiều vần thơ viết về tình mẹ con, nhưng tôi thực sự bị ám ảnh với hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng. Đặc biệt in sâu đậm dấu ấn trong tôi là hình ảnh cậu bé Hồng qua đoạn trích “Trong lòng mẹ”.

Đọc những dòng đầu tiên của đoạn trích Trong lòng mẹ, tôi thực sự thương cảm và xót xa cho số phận cậu bé Hồng : “Chú bé Hồng ra đời là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng không tình yêu ; chú lớn lên trong không khí giả dối, lạnh lẽo của một gia đình không hạnh phúc”. Ngay từ những phút giây bắt đầu đón nhận sự sống, chú bé Hồng đã gặp những bất hạnh.

Là một đứa trẻ lẽ ra cậu bé Hồng phải được sống trong sự đùm bọc, yêu thương của bố mẹ và gia đình, nhưng trái lại em phải “sống bơ vơ giữa sự ghẻ lạnh cay nghiệt của họ hàng.” vì bố chết, mẹ bỏ đi “tha phương cầu thực”. Sống giữa gia đình nhưng cậu bé Hồng giống như một đứa trẻ mồ côi, và hơn thế em còn phải chịu đựng sự hắt hủi, chì chiết của người thân, đặc biệt là bà cô.

Trong đoạn trích, nhà văn Nguyên Hồng đã rất tinh tế khi miêu tả diễn biến tâm trạng của cậu bé Hồng : từ nỗi đau đớn buốt lạnh trước những lời đay nghiến của bà cô đến nỗi vui sướng vỡ oà khi gặp lại mẹ, và bao trùm lên tất cả là tình yêu mẹ vô bờ bến của chú bé.

Dù mới chỉ là một cậu bé nhưng Hồng sớm phải gánh chịu sự đối xử cay nghiệt của người thân, đó chính là sự nhẫn tâm của bà cô. Cho dù cả đoạn trích không nhắc đến sự đánh đập bằng đòn roi nhưng cách đối xử, lời lẽ mỉa mai của người cô còn khiến cho chú bé đau đớn hơn gấp trăm nghìn lần.

“Hồng ! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không ?”, nghe qua ta tưởng đây là lời nói thể hiện sự quan tâm, muốn cháu với bớt nỗi nhớ mẹ nhưng thực chất đây là những lời nói kháy, tàn độc : “nhận ra những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch của cô tôi, tôi cúi đầu không đáp. Vì tôi biết rõ, nhắc đến mẹ tôi, cô tôi chỉ cố ý gieo rắc và đầu óc những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi”.

Trước lời nói đầy thâm ý của bà cô, trong lòng cậu bé Hồng lại càng trào dâng lên tình yêu thương mãnh liệt dành cho mẹ “Nhưng đời nào tình yêu thương và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến.”. Cậu ra sức bảo vệ mẹ, cố gắng cười đáp lại dù trong thâm tâm đang rất đau đớn, tủi cực “Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về”. Cậu bé trả lời bà cô và có lẽ cũng là tự an ủi mình, cậu bé luôn có niềm tin mãnh liệt rằng mẹ sẽ về và không bao giờ bỏ rơi cậu.

Tuy nhiên, bà cô của chú vẫn tiếp tục đay nghiến “Sao lại không vào ? Mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước nữa đâu !”. Tâm hồn non nớt, ngây thơ của chú bé dường như đã quá sức chịu đựng “lòng tôi càng thắt lại, khóe mắt tôi đã cay cay”. Nhà văn đã kết hợp miêu tả đan xen giữa lời nói bà cô và tâm trạng chú bé, mỗi lời bà cô phát ra là một lần khiến cho cậu bé trở nên đau đớn hơn.

Tính chất chì chiết đay nghiến trong từng câu nói cứ tăng dần, để rồi lên đến cao trào khi bà cô nói : “Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ”. Từng lời nói như những nhát dao cứa vào trái tim non nớt, khiến cậu bé phải khóc “ròng ròng”.

Hồng khóc không phải vì ghen tị với em bé mà “vì thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở một cách giấu giếm”. Người đọc hiểu rằng, dù mới chỉ là một cậu bé nhưng Hồng đã có những suy nghĩ chín chắn.

Tình yêu thương mẹ của cậu bé Hồng còn gắn liền với niềm căm tức, thù hận với những định kiến. Bởi lẽ cậu bé hiểu rằng chính những thành kiến tàn ác kia đã đẩy mẹ cậu vào cảnh “tha hương cầu thực”, mẹ con cậu phải chia lìa nhau. Trong nỗi đau uất ức, nghẹn ngào không thốt ra tiếng chú bé Hồng đã có một ước mơ “giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”.

Nỗi căm tức, đau đớn của chú bé đã được nhà văn hình tượng hoá qua hình ảnh so sánh biểu cảm. Những cổ tục cũng lạnh lùng, sắc nhọn chẳng khác nào “hòn đá, cục thuỷ tinh”. Bên cạnh đó, biện pháp điệp “mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi” khiến cho nhịp văn nhanh dần, mạnh mẽ thể hiện niềm căm tức tột độ của cậu bé Hồng.

Qua đó toát lên tình yêu thương mẹ cháy bỏng, chú bé sẵn sàng làm tất cả dù khó khăn, dù đau đớn để bảo vệ người mẹ kính yêu của mình. Suy nghĩ tâm trạng của Hồng khiến cho người đọc không khỏi ngậm ngùi, xót xa, thương cảm và khâm phục. Ta hiểu rằng, những thủ đoạn tàn nhẫn, những câu nói cay độc, phũ phàng của bà cô không thể lay chuyển suy nghĩ của bé Hồng về mẹ, trái lại nó càng khiến cho cậu yêu thương mẹ hơn.

Đọc đoạn trích Trong lòng mẹ, người đọc được trải qua các trạng thái cảm xúc đối lập nhau. Đọc đoạn đầu tiên, ta như đi vào một sa mạc khô cằn tình người, ở đó ta chỉ thấy sự chì chiết, đối xử cay nghiệt và nỗi đau của một chú bé nhưng kết thúc đoạn trích ta lại chìm ngập trong dòng suối mát lành của tình mẹ con ấm áp. Cho dù bà cô có cố tình chia lìa tình mẹ con thì với Hồng cậu luôn tin rằng mẹ cậu sẽ trở về và niềm tin đó đã trở thành sự thực: “Nhưng đến ngày giỗ đầu thầy tôi, tôi không viết thư gọi mẹ tôi cũng về”.

Để diễn tả niềm vui sướng của bé Hồng khi gặp mẹ, nhà văn đã miêu tả một cách cụ thể, chi tiết: “Chiều hôm đó, tan buổi học ở trường ra, tôi chợt thoáng thấy một bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ tôi. Tôi liền đuổi theo gọi bối rối : “Mợ ơi ! Mợ ơi ! Mợ ơi Những cụm từ như “thoáng thấy”, “liền đuổi theo”, “gọi bối rối” thể hiện sự cuống quýt, Vội vàng của chú bé. Ta hiểu rằng niềm mong chờ mẹ về luôn thường trực trong tâm trí của chú bé Hồng.

Tuy nhiên, giống như con chim bị thương sợ gặp phải cành cong, cậu bé Hồng chưa kịp vui sướng thì đã lo sợ, lo sợ nếu như đó là người khác thì sẽ thành “trò cười tức bụng” cho lũ bạn. Hình ảnh so sánh tinh tế, biểu cảm cái lầm đó. khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc” cho người đọc thấy tâm trạng mong đợi khắc khoải của cậu bé Hồng.

Hình ảnh người bộ hành “ngã gục giữa sa mạc” sẽ chính là hình ảnh của chú bé Hồng sẽ gục ngã giữa sa mạc của sự ghẻ lạnh, đay nghiến nếu như mẹ cậu không về. Câu chuyện được đẩy lên đến cao trào, người đọc cũng hồi hộp chờ đợi: liệu người đó có phải là mẹ cậu bé ? Và rồi, tất cả như được tháo bung ra “Xe chạy chầm chậm mẹ tôi cầm nón vẫy tôi mẹ tôi xoa đầu tôi hỏi, thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở”.

Đó không còn là những giọt nước mắt tủi cực mà là những giọt nước mắt của niềm hạnh phúc vô bờ bến. Nhà văn đã viết nên những câu văn nhẹ nhàng để diễn tả tình mẹ con ấm áp. Trong lòng cậu bé Hồng giờ đây chỉ còn niềm vui sướng tột độ vì cậu thấy rằng mẹ mình không phải như những gì bà cô nói, mẹ vẫn tươi đẹp và “cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt”.

Chú bé Hồng thấy mình cần bé lại để “lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Ở bên mẹ, Hồng không còn một chút đau đớn, tất cả những lời bà cô giờ trở nên vô nghĩa với cậu “câu nói ấy bị chìm đi ngay, tôi không mảy may nghĩ ngợi gì nữa.”. Tình mẹ bao la và ấm áp đã xua tan đi mọi băng giá, khổ đau, đem lại một niềm hạnh phúc tràn ngập.

Người đọc như thấy đâu đây sự mỉm cười mãn nguyện của nhà văn. Ông thực sự là nhà văn có trái tim ấm nóng, hiểu và cảm thông sâu sắc với những người có số phận bất hạnh ,đặc biệt là với trẻ em và phụ nữ. Trang văn của Nguyên Hồng nói chung và đoạn trích Trong lòng mẹ nói riêng thực sự là những trang văn thấm đượm tấm lòng nhân đạo của một nhà văn chân chính.

Đoạn trích Trong lòng mẹ khép lại nhưng đã gợi lên cho người đọc biết bao điều suy nghĩ: chúng ta sẽ làm gì để những tâm hồn non nớt, ngây thơ luôn được sống trong niềm yêu thương, hạnh phúc, chở che ? Chúng ta làm gì để những giọt nước mắt đau đớn, tủi cực không còn lăn dài trên khuôn mặt thánh thiện của các em ? Đó sẽ mãi là câu hỏi nhức nhối mà nhà văn gửi đến mỗi chúng ta.

Nếu ai hỏi tôi: Tình cảm nào thiêng liêng cao đẹp nhất? Tôi xin trả lời là tình mẫu tử! Nếu ai hỏi tôi: Nhà văn Việt Nam nào viết về tình mẫu tử đẹp nhất? Tôi xin trả lời là Nguyên Hồng! Có phải chăng vì Nguyên Hồng là một người con thương mẹ tha thiết, nên ông đã nổi tiếng khi viết về mẫu thân mình? Vâng, chính tác phẩm Những ngày thơ ấu được Nguyên Hồng viết khi vừa tròn mười tám tuổi, đã đưa ông bước vào làng văn một cách chững chạc và vững chắc. Tác phẩm chính là một tập hồi kí về cuộc đời đầy đau khổ, sóng gió của nhà văn.

Mẹ Hồng bao lâu khao khát yêu thương, đã phải chôn vùi tuổi thanh xuân trong cuộc hôn nhân không lối thoát, nay đã vùng lên, thoát khỏi sự cổ hủ của phong kiến đè nặng lên cuộc đời mình. Bà đi vào Thanh Hóa, bỏ lại bé Hồng bơ vơ, côi cút giữa sự ghẻ lạnh của những người họ hàng giàu có. Hồng phải chịu đựng những lời cay nghiệt, xấu xa từ phía họ nội giàu có. Hoàn cảnh làm em phải trở thành đứa trẻ lêu lổng, đói rách, luôn khao khát cuộc sống, một tình yêu thương đích thực. Thế mà cái mong muốn giản đơn ấy mãi mãi không thực hiện được. Đối với Hồng, cái cảnh của nhà thờ đêm Nô – en không có chỗ cho em, cho những con chiên bé nhỏ tìm sự che chở, ban phước của Chúa, mà chỉ dành cho những ông Tây, bà Đầm, những chức dịch, những kẻ quyền quý, khệnh khạng và bệ vệ. Khó khăn lắm em mới lên được vào, để có thể nhìn thấy bàn thờ. Rõ ràng cái xã hội thối tha bẩn thỉu ấy không phải là chỗ đứng của em. Nhưng biết làm sao được! Chúa đã ấn định cho cuộc đời Hồng một vực thẳm tăm tối, vô đáy. Cái vực thẳm ấy sẵn sàng nhấn chìm em, nếu em có một phút lỡ làng, quên đi bản chất hồn nhiên, ngây thơ, chân thật của mình.

Tình thương và hình ảnh của mẹ luôn ngời sáng trong tâm trí Hồng. Mặc dù sống hoàn cảnh như vậy, nhưng tâm hồn Hồng vẫn cứ là vì sao lấp lánh giữa bầu trời thăm thẳm. Trong tâm tư của em vẫn tồn tại hình ảnh một người cha dịu dàng, ngọt ngào; một người mẹ chỉ vì sợ hãi những thành kiến cổ hủ mà xa lìa các con, nhưng tình thương và hình ảnh của mẹ luôn ngời sáng trong tâm trí Hồng. Chính cuộc nói chuyện giữa Hồng, ngay cả chúng ta cũng phải công nhận rằng Hồng rất thông minh, tinh ý. Bởi với một đứa trẻ, một năm không được gặp mẹ, không nhận được một lá thư, một lời thăm hỏi âu yếm, không xin được mẹ một đồng quà thì khi bắt gặp câu hỏi (của người cô) có muốn vào chơi với mẹ hay không? Với tâm lý ngây thơ, trong sáng sẽ trả lời ngay là có, nhưng chợt nhận ra những điều không tốt đẹp trong câu nói ấy nên mới phản bác lại ý muốn dồn nén trong lòng từ bấy lâu nay của mình. Để có được cái chợt ấy quả là một quá trình quan sát lâu dài, được hình thành từ những việc xảy ra trong cuộc sống mà em quan sát và tiếp thu được. Những động cơ xấu, như lời bà cô, đã làm mất đi phần nào tính ngây thơ trong Hồng, để đến nỗi mỗi lời nói, mỗi hành động của em đều được cân nhắc, suy nghĩ kĩ càng. Trong em, sự độc ác của bà cô đã cho em một bài học về cách tính tốn của người lớn, đã biến em thành một người khôn ngoan, “phòng thù kẻ xấu” đã trở thành bản năng tự vệ, và vũ khí duy nhất của em, để bảo vệ cho danh dự của người mẹ thân yêu. Bởi ở cái xã hội của em, mọi người hầu như đều giả dối, ác độc. Đáng thương biết bao! Và tiếng cười của em khi trả lời bà cô: “Cháu không muốn vào” như gây cho người đọc cảm giác dường như Hồng không chú ý, không buồn bã khi phải xa mẹ. Mặc đù trả lời như vậy nhưng chắc rằng lúc bấy giờ, trong lòng Hồng, hình ảnh và những tình cảm yêu thương mặn nồng đối với mẹ đang trào dâng nghẹn ngào.

Bé Hồng thương yêu mẹ sâu sắc. Mặc dù gần một năm trời sống bơ và đói rách giữa thái độ ghẻ lạnh và nhất là những lời lẽ cay nghiệt của người cô nói xấu mẹ mình, lòng yêu thương mẹ của Hồng không vì thế mà suy giảm. Ngược lại, bé càng thông cảm với mẹ hơn. Hồng đã rất sớm nhận ra cái bất công của cổ tục làm khổ nhục mẹ mình và xót xa mẹ đến “cổ họng nghẹn ứ” muốn “vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiền cho kỳ nát vụn mới thôi” cái cổ tục ấy nếu như nó cụ thể như hòn đá, cục thủy tinh. Lòng thương yêu, kính trọng mẹ đã giúp Hồng trước sau nhận rõ ác ý của người cô cay nghiệt vẫn thấy mẹ mình phải được che chở, phải được sống đàng hoàng giữa cuộc đời. Trong lòng chú bé, nguyên vẹn người mẹ rất đáng yêu, rất đẹp với “gương mặt vẫn tươi sáng, đôi mắt trong và nước da mịn tươi đẹp như thuở còn sung túc”. Trong sâu thẳm cảm giác vẫn nguyên sự ấm áp “mơn man khắp da thịt”, “hơi quần áo hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra thơm tho lạ thường”, sau bấy lâu xa vắng, giờ lại được ngồi gọn trong lòng mẹ. Giây phút thiêng liêng đến xúc động!

Chính vì rất yêu thương mẹ và trong lòng bao giờ cũng chỉ thấy có mẹ là gần gũi, thương xót mình nhất, nên bé Hồng luôn cảm thấy buồn tủi trong cảnh sống nhờ. Trước thái độ miệt thị của người cô, Hồng “im lặng, cúi đầu xuống đất, lòng thắt lại, khóe mắt cay cay”, có lúc “nước mắt tôi đã ròng ròng…” khi người mẹ xiết mãi nỗi đau ấy. Ngay cả lúc bất ngờ gặp mẹ, nỗi mừng của Hồng cũng chứa cái tủi, khiến chú “òa lên khóc, rồi cứ thế nức nở” trong lòng mẹ.

Một chuỗi ngày nén yêu thương, tủi hờn cũng là chuỗi ngày Hồng khao khát muốn gặp mẹ. Nỗi khao khát ấy thể hiện rõ trong bước chạy “ríu cả chân lại” của chú bé. Nỗi khao khát ấy khiến chú bé hình dung đến sự tuyệt vọng ghê gớm của người đi giữa sa mạc gặp ảo ảnh dòng nước, nếu bị nhận lầm dáng mẹ. Cảm giác ấm áp sung sướng tuyệt vời “đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt” khi được trong lòng mẹ, cho ta thấy nỗi khao khát ấy cụ thể, xúc động biết chừng nào.

Phải như bé Hồng trong phút lăn vào lòng mẹ, “được bàn tay mẹ vuốt ve và gãi rôm ở sống lưng cho”, mới cảm thấy hết một nỗi “êm dịu vô cùng” mà chỉ mẹ mới có thể cho ta.

Chúng ta, ít người rơi vào cảnh đời cay đắng ấy, vì có mẹ chăm sóc, che chở. âu yếm. Em cũng may mắn như thế. Chính vì thế mà em cảm thương nỗi đau của thuở nhỏ Nguyên Hồng, nỗi đau của thân phận sống bơ vơ đầy tủi nhục, thèm khát tình thương. Qua tâm trạng của chú bé Hồng, em hiểu hơn những bạn nhỏ vì chiến tranh, vì thiên tai phải mất cha mẹ, họ khổ đau biết chừng nào. Dù xã hội, bà con có cưu mang, nuôi ăn học nhưng làm sao lấp nổi nỗi cô đơn, buồn tủi trong lòng những đứa con xa mẹ, mất mẹ. Nỗi đau ấy đeo đẳng con người suốt một đời. Và cũng suốt một đời, tìm đâu thấy bàn tay quen thuộc vuốt ve âu yếm, lời ngọt ngào, trách mắng mến yêu, ruột thịt chỉ có ở mẹ. Hình ảnh và tâm tư của bé Hồng đã xúc động lòng em, khiến em thấy đầy đủ mọi niềm vui của mình được sống có mẹ là rất quý báu.

Nguyên Hồng là một nhà thơ đã có nhiều những đóng góp lớn trong sự nghiệp văn học, và nhiều tác phẩm của ông đã để lại những giá trị to lớn cho người đọc, tiêu biểu đó là trong tác phẩm trong lòng mẹ tác giả đã thể hiện rõ và chi tiết được nhân vật bé Hồng.

Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng đã kể lại những hình ảnh và chi tiết đặc sắc trong tình yêu thương của cậu bé đối với mẹ của mình, những hình ảnh được đan xen trong tác phẩm đã thể hiện được rõ ràng và chi tiết trong tác phẩm của mình, những hình ảnh đó đã để lại cho chúng ta những người đọc tác phẩm có những suy nghĩ sâu sắc và vô cùng thấu hiểu về nhân vật Hồng, nhân vật Hồng đã để lại nhiều cảm xúc trong lòng người đọc, từ một cậu bé rất đáng thương cha mất sớm, chỉ sống với người mẹ của mình nhưng rồi hoàn cảnh đưa đẩy, mẹ cậu là một người cũng phải chịu nhiều đau đớn, một cuộc đời của Hồng và mẹ trải qua những đau đớn khi cha của Hồng mất đi, mẹ Hồng bị mọi người ruồng bỏ, nhưng rồi không chịu được những áp lực gia đình nhà chồng mà mẹ Hồng đã phải bỏ nhà ra đi nơi khác kiếm sống bỏ lại Hồng ở lại đây.

Hình ảnh đó đã làm cho Hồng đau đớn khi người mẹ của mình không còn ở bên cạnh mình nữa, những đau đớn khi phải xa người mẹ của mình, nhưng rồi cậu cũng thấu hiểu hiểu được tình yêu của mình dành cho mẹ là vô bờ bến, những đau đớn mà mẹ phải gặp phải thật xót xa những hình ảnh đó đã làm cho cậu bé này có thêm động lực sống, ngày qua ngày Hồng sống với bà cô độc ác, bà ta dùng những lời nói làm cho trái tim của cậu bé này thật đau đớn xót xa, những hình ảnh đó đã mang trong cậu những hoài niệm lớn khi tình yêu mà cậu dành cho người mẹ của mình không có gì có thể thay đổi được, những đau đớn đó làm cho Hồng tủi hổ hơn, nhiều những chi tiết mà thể hiện được tấm lòng của Hồng đối với mẹ là vô cùng lớn lao, nhưng điều đó đã tác động sâu sắc đến con người của Hồng.

Những lời nói chua cay độc ác, nhằm tác động đến cậu bé này là người mẹ của cậu rất xấu thì cậu lại chỉ đau đớn và xót xa cho những hoàn cảnh như vậy, tình yêu thương của cậu với mẹ của mình không chỉ vì mấy lời nói độc ác của bà cô mà có thể thay đổi được, nỗi đau mà cậu bé phải đối mặt đó là những lời hỏi của bà cô: Hồng mày không vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày sao, mẹ mày bây giờ giàu có lắm không còn như trước đau, những lời cặn hỏi đó đã làm cho Hồng thêm đau đớn xót xa những nỗi xót xa đó tác động sâu sắc đên Hồng, một cậu bé nhưng đã mang trong mình những trái tim sắt đá những nỗi niềm đó khắc họa sâu sắc qua con người của Hồng, những hình ảnh đó tác động lớn đến những nỗi niềm sâu thẳm nó mang trong trái tim cậu bé này những hoài niệm và đau thương cho người mẹ của mình, cậu hiểu được tại sao người mẹ phải ra đi, những đau đớn này đã rày xé lấy tâm hồn của cậu.

Cậu bé đã thấu hiểu được những gì mà mẹ mình đã phải trải qua, giờ đây khi cậu đã đủ để hiểu được những điều đó thì những lời nói của bà cô độc ác đó không làm cho cậu ngừng thương nhớ và yêu quý người mẹ của mình, những hành động của bà cô chỉ làm cho cậu thấu hiểu được mẹ mình thật đáng thương, những hành động đó đã cho thấy cậu là một người con vô cùng có hiếu yêu thương mẹ của mình, những điều đó đã tạo nên những điều rất tuyệt vời và vô cùng đáng quý. Nhiều những hình ảnh khác cũng thể hiện rất chi tiết và rõ những điều đó, những mong muốn mà tác giả đã thể hiện mang những hình dáng của những tấm lòng vị tha bao dung và thấu hiểu được tấm lòng của người mẹ.

Khi Hồng luôn mong nhớ về người mẹ của mình, cậu tin rằng mẹ mình sẽ trở lại, điều đó thật đúng khi trái tim của người con lúc nào cũng hướng tới mẹ, một trái tim của người con đã thấu hiểu được những điều mà mẹ mình đã phải làm để có một cuộc sống tốt hơn, trong chi tiết tác giả nhìn thấy mẹ mình mờ ảo từ xa, nhưng trực giác đó thật đúng, khi cậu nhìn thấy mẹ mình thì đó là những điều rất tuyệt vời, những điều đã để lại bao nhiêu những rung động thiết tha bởi trong trái tim của Hồng mẹ sẽ quay trở lại, khi nhìn thấy mẹ cảm xúc của Hồng đã thay đổi, Hồng hiểu được những nỗi đau đó của mẹ mình, những nỗi đau đó thầm kín và sâu sắc thấm đẫm trong lòng của người con này, chạy ra ôm mẹ trái tim nghẹn đứng.

Hình ảnh đó đã đủ để chúng ta thấy được những điều rất lớn lao trong tâm hồn của người, chi tiết đã thể hiện được điều đó là những hành động và nó vang vọng đến tâm hồn của người, những hành động của một người có nhiều yêu thương, tình cảm của Hồng đối với mẹ mình là vô bờ bến nó mang dáng vóc của một con người có trái tim nồng hậu và thấu hiểu.

Trong lòng mẹ đã thể hiện rõ tình cảm của cậu bé Hồng đối với người mẹ của mình, những hình ảnh đó đã thể hiện Hồng là một người có tấm lòng yêu thương mẹ của mình vô bờ bến, và bao dung nhân hậu trước hoàn cảnh sống khó khăn.

Trong suốt cuộc đời viết văn của mình, nhà văn Nguyên Hồng đã gặt hái được rất nhiều thành công. Nhưng chính bởi tác phẩm “Những ngày thơ ấu” viết khi ông tròn 18 tuổi, đã đưa ông bước vào làng văn một cách chững chạc và quả quyết. Tác phẩm chính là một tập hồi kí về cuộc đời đầy đau khổ, sóng gió của nhà văn.

Bằng cách dẫn chuyện tài tình, tác giả đưa ta đến với gia đình bé Hồng, một gia đình rất giàu có. Bằng chứng là vào ngày sinh của chú bé, rất nhiều vị có máu mặt đến chúc mừng. Đồ lề, đồ mừng chật ních cả nhà. Tưởng rằng bé Hồng sẽ mãi sống trong cảnh giàu sang, sung sướng, nhưng ngờ đâu cuộc đời em chìm ngập trong đau thương, khổ ải. Có lẽ bất hạnh lớn nhất đối với Hồng là việc cha mẹ em lấy nhau chỉ vì ép buộc, không có hạnh phúc. “Sự trái ngược cay đắng đó tôi đã hiểu rõ rệt và thấm thía ngay từ năm tôi lên bảy, lên tám “. Chính em cũng phải nói thế là gì! Còn cay đắng, xót xa nào hơn khi đứa con biết “người mẹ thỉnh thoảng lại mỉm những nụ cười êm ấm, dịu dàng” nhưng trong lòng thì “luôn luôn giá buốt, đau đớn, phiền muộn”. Trong cuộc sống từ bé của Hồng, tình cảm gia đình đã có cái gì đó gượng ép, cha mẹ sống với nhau mà hầu như không có tình cảm, tất cả chỉ vì đứa con chung, chính là Hồng. Và cũng ngay từ bé, Hồng đã nghe những lời đồn không mấy tốt đẹp về mẹ. Việc mẹ đẻ em Quế với ông cao H chứ không phải với thầy. Tất cả những chuyện như thế, không phải ai khác mà chính những người trong gia đình đã gây nên ngọn lửa tò mò trong em. Để đến nỗi trong suốt một thời gian dài Hồng phải sống trong sự dằn vặt, phân vân, không biết ai đúng, ai sai. Rồi khi gia đình sa sút vì cái bàn đèn của bố Hồng, gia đình đã quyết định bán nhà. Tuy rằng đó là một sự mất mát lớn, nhưng Hồng là một chú bé rất giàu tình cảm. Những lời nói ngây thơ của em: “Để con đi học rồi con xây lại nhà cho bà” đã phần nào làm bớt không khí nặng nề, u ám đang bao trùm lên gia đình. Góp phần vào đấy là khánh kiệt đến cực độ của gia đình Hồng. Mẹ thì buôn bán thua lỗ, thầy thì nghiện thuốc phiện, ngày ngày phải sống ăn bám vào vợ. Vậy đấy! Cái cuộc sống tưởng như sung sướng, nhàn hạ của bé Hồng, giờ trở nên nghèo túng, thiếu thốn. Không những thiếu thốn về mặt sinh hoạt, vui chơi, mà em còn thiếu một gia đình ấm cúng, thực sự trở thành chỗ dựa vững chắc cho tuổi ấu thơ của em. Người cha, chỗ dựa của cả gia đình, nay lại nghiện ngập, hút xác, sống ăn bám. Khốn nạn đến nỗi phải cướp tiền của Hồng để mua thuốc hút, thì không còn lời nào mà nói nữa. Thử hỏi rằng ai mà không xấu hổ, đau đớn khi có một người chồng, một người cha như vậy! Cuối cùng, thì cha Hồng, cả đời sống tối tăm, u uất, nay đã chết trong nghèo nàn, nghiện ngập. Người mẹ khao khát yêu thương đành phải chôn vùi tuổi thanh xuân trong cuộc hôn nhân không lối thoát nay đã vùng lên, chạy thoát khỏi sự cổ hủ của lễ giáo phong kiến đè nặng lên cuộc đời mình, bà đi vào Thanh Hóa, bỏ lại bé Hồng bơ vơ, côi cút giữa sự ghẻ lạnh của những người họ hàng giàu có. Hồng phải chịu những lời lẽ cay nghiệt, xấu xa từ phía họ nội. Hoàn cảnh bắt buộc phải trở thành đứa trẻ lêu lổng, đói rách, luôn khao khát một cuộc sống, một yêu thương đích thực. Vậy mà cái mong muốn đơn thuần, giản đơn ấy mãi mãi không thực hiện được. Đối với Hồng, cái cảnh của nhà thờ đêm Nô-en không có cho em, cho những con chiên bé nhỏ tìm sự che chở, ban phước của Chúa, mà dành cho những ông Tây, bà đầm, những chức dịch, những kẻ quyền quý, khệnh khạng và bệ vệ. Khó khăn lắm em mới lên được vào, để có thể nhìn thấy bàn thờ. Rõ ràng cái xã hội thối tha bẩn thỉu ấy không phải là chỗ đứng của em. Nhưng biết sao được! Chúa đã ấn định cho cuộc đời Hồng một vực thẳm tối tăm, vô đáy.

Cái vực thẳm ấy sẵn sàng nhấn chìm em, nếu em có một phút lỡ làng, quên đi bản chất hồn nhiên ngây thơ, chân thật của mình.

Nếu trong cuộc nói chuyện với bà cô, Hồng đã phải đau đớn, giằng xé bao nhiêu thì nay em lại được đền bù bấy nhiêu. Đấy là sự trở về của mẹ Hồng. Bằng những trực giác hết sức tinh tế nhạy bén của mình, thêm vào đó là những tình cảm nồng nàn Hồng dành cho mẹ, em đã phát hiện rất chính xác người ngồi trên xe kéo là mẹ mình. Nhưng do quá sung sướng, bất ngờ nên Hồng nghĩ “mình đã lầm”. Vậy nhưng em vẫn cất tiếng gọi một cách bối rối: “Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!”.

Đến đây, ngay cả người đọc cũng hồi hộp và mừng thầm thay cho em. Nếu người đó là mẹ Hồng thì em đã được đền bù thích đáng sau bao ngày sống khốn khổ, bơ vơ. Nhưng nếu không phải thì còn thất vọng nào cho bằng. Chính em cũng nói lên điều đó. Thực sự em nhầm lẫn thì khác nào người bộ hành đi giữa sa mạc mênh mông bắt gặp ảo ảnh của bóng râm và dòng suối. May mắn thay đó chính là mẹ Hồng. Hình ảnh em hồng hộc chạy theo xe tay, đến nơi thì khóc lên nức nở chứng tỏ em rất nhạy cảm. Em tủi thân lắm nên tiếng khóc nghẹn ngào mới bật ra khi gặp mẹ. Đồng thời đó còn là tiếng khóc sung sướng, vỡ òa ra. Và khi nhà văn nói lên tâm trạng của em: “Nhận ra mẹ không còm cõi xơ xác quá như lời cô tôi nói” chúng ta mới vỡ lẽ rằng dù sao Hồng vẫn còn là một đứa trẻ. Em bảo vệ, bênh vực mẹ là thế, nhưng em vẫn chịu ảnh hưởng của lời nói độc địa từ bà cô. Em vẫn nhận rằng mẹ không đến nỗi như cô nói chứng tỏ phần nào em cũng tin những thông tin kia. Nhưng do lúc ấy, niềm sung sướng choáng ngợp tâm trí em nên em có thể quên ngay những lời đồn đại xấu xa về mẹ. Hồng lúc ấy chỉ là một chú bé con, trở về trong lòng người mẹ yêu dấu, rất thơ ngây và trong trắng. Em thực sự phải được hưởng niềm hạnh phúc lớn lao ấy bởi con người, tâm hồn em đích thực là một vì sao lạc lõng, nhỏ bé nhưng sáng chói giữa bầu trời bao la.

Qua toàn bộ tác phẩm, nhất là ở Chương IV, chúng ta có thể học tập được rất nhiều đức tính ở bé Hồng. Mặc dầu lớn lên trong một hoàn cảnh rất khắc nghiệt nhưng Hồng vẫn đấu tranh cho cuộc sống của mình, đấu tranh cho những gì mà mình thấy là lẽ phải, là hợp đạo lí. Chắc chắn sau này hình ảnh cậu bé đáng yêu và đáng thương này mãi ngời sáng trong tâm hồn chúng ta.

Tình cảm gia đình, tình cảm mẫu tử luôn là thứ tình cảm thiêng liêng, bất diệt trong lòng mỗi chúng ta. Trong văn học có biết bao người phụ nữ sẵn sàng hi sinh, đánh đổi tất cả vì con cái, nhưng đồng thời cũng có những người con yêu thương, bảo vệ mẹ hết lòng. Người con hiếu thảo, giàu tình yêu thương ấy chính là chú bé Hồng trong trích đoạn Trong lòng mẹ của nhà văn Nguyên Hồng.

Để hiểu về tình cảm Hồng dành cho mẹ, chúng ta cũng cần tìm hiểu sơ qua về hoàn cảnh sống của Hồng. Hồng trước đây sống trong gia đình trung lưu, đủ đầy về tiền bạc nhưng lại thiếu tình yêu thương. Cha nghiện thuốc phiện, tiêu tốn tài sản rồi qua đời, mẹ bỏ đi để Hồng ở lại với bà cô cay nghiệt, đầy những rắp tâm xấu xa, hàng ngày tiêm nhiễm những điều không tốt vào cậu bé Hồng.

Tình yêu thương của bé Hồng dành cho mẹ trước hết là ở sự kiên định trong tình yêu thương trước những lời gièm pha, xúc xiểm của bà cô. Những lời bà cô nói như ngàn nhát dao đâm vào trái tim non nớt, nhỏ bé của Hồng. Hai tiếng em bé kéo ra thật dài, rồi lời hỏi han: “Hồng ! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không?” rồi lời mắng: “Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy tiền tàu cho. Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa và thăm em bé chứ”. Những lời nói tưởng là quan tâm đến cậu bé nhưng thực tế lại chỉ làm cho trái tim non nớt của cậu đau nhói. Hồng cố gắng kím nén cảm xúc bản thân để cho bà cô không đạt được mục đích của mình. Không chỉ vậy cậu còn kiên định, quả quyết rằng: “Thế nào cuối năm mợ cháu cũng về”. Cậu nói ấy như một hành động đanh thép đập tan nhưng suy nghĩ, hành động xấu xa của bà cô. Đồng thời cũng là một minh chứng cho tình yêu thương, niềm tin sâu sắc Hồng dành cho mẹ.

Hồng thương mẹ, thương mẹ rất nhiều, nhưng cũng giận mẹ, bỏ đi biệt xứ, để lại mình Hồng ở đây phải chống trọi lại người cô độc ác, cay nghiệt. Đỉnh điểm của tình yêu thương đó, trong suy nghĩ ngây thơ mà rất đỗi chân thành của Hồng, em đã ước “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Hình ảnh so sánh vô cùng đặc sắc, so sánh cổ tục phong kiến bảo thủ với những vậy hữu hình: đầu mẫu gổ, thủy tinh,. để có những hành động hết sức quyết liệt: vồ, cắn, nhai, nghiến cho kì nát vụn. Mong ước ấy của Hồng một lần nữa khẳng định tình yêu thương sâu nặng em dành cho người mẹ bất hạnh của mình.

Tình yêu thương mẹ của bé Hồng được thể hiện đặc biệt rõ khi cậu gặp lại mẹ. Hồng đã từng có lần đau đớn nghĩ rằng: “Mợ, ơi! Con khổ quá mợ ơi, giá ai cho tôi một xu nhỉ, chỉ một xu thôi để tôi mua một năm xôi hay một chiếc bánh khúc ăn cho đỡ đói.”. Đó là những tâm sự thấm đẫm nước mắt của một cậu bé nhỏ người mà tâm hồn đã già dặn. Và bao nhiêu đau đớn, tủi cực đã được bù đắp trong giờ phút gặp lại. Hai mẹ con mừng mừng, tủi tủi, gặp nhau. Hồng chạy nhanh tới, hơi thở hồng hộc, trán đẫm mồi hôi, cả hai chân níu lại, mừng rỡ, sung sướng đến cực điểm trèo lên xe mẹ. Nếu người quay lại ấy không phải mẹ, có lẽ sẽ là điều đau đớn, cơ cực nhất trong cuộc đời: “Và cái lầm đó không những làm tôi thẹn mà còn tủi cực nữa, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc”. Hình ảnh so sánh gợi cảm, chính xác khi lấy hình ảnh người bộ hành đi giữa sa mạc để so sánh với tình yêu thương mãnh liệt Hồng dành cho mẹ. Hình ảnh dòng suối là một ví von đặc sắc cho thấy mẹ chính là dòng nước trong xanh và mát lành làm dịu mát những nỗi cay đắng trong cuộc đời con.

Ngồi kề bên mợ, Hồng lúc này mới sụt sùi và khóc nức nở. Cũng chính trong lúc được kề sát vào lòng mẹ Hồng mới thấy rằng mẹ không giống những lời bà cô nói. Mẹ vẫn xinh đẹp, tươi sáng, hai gò má ứng hồng, mẹ vẫn đẹp như thuở còn sung túc. Được mẹ ôm ấp vào lòng, Hồng mới cảm nhận được tất cả niềm hạnh phúc mà mỗi đứa con được cảm nhận trong cuộc đời: “Phải bé lại lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay của người mẹ vuốt ve, gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”.

Đoạn trích Trong lòng mẹ, với ngôn từ giản dị, hình ảnh so sánh đặc sắc, giọng văn trữ tình tình cảm, là một minh chứng điển hình cho tình mẫu tử bất diệt. Tình cảm thiêng liêng, cao cả ấy lay động đến hàng triệu trái tim và như một lời nhắc nhở đến mỗi người con phải luôn biết yêu thương và kính trọng cha mẹ.

Viết về đề tài phụ nữ và trẻ em có lẽ nhà văn Nguyên Hồng là một tên tuổi đáng chú ý. Ông đã có nhiều tác phẩm viết về đề tài này, trong đó có hồi kí “Những ngày thơ ấu”. Đặc biệt đoạn trích “Trong lòng mẹ” đã làm nổi bật số phận cay đắng và tình cảm mãnh liệt của Hồng đối với mẹ của mình.

Nói đến hoàn cảnh của Hồng thì thật tội nghiệp. Hồng sinh ra và lớn lên trong gia đình không mấy hạnh phúc. Khi cha mất thì mẹ Hồng đi tha hương cầu thực để lại Hồng ở lại trước sự ghẻ lạnh của hàng xóm. Dù hoàn cảnh của đứa cháu đáng thương như vậy nhưng bà cô của Hồng không hề yêu thương cậu. Mặc dù là cô ruột nhưng bà ta không hề thương Hồng mà luôn cố ý chia rẽ tình cảm mẹ con Hồng.

Một lần, trong cuộc trò chuyện với bà cô, chú bé Hồng đã rất đau khổ khi người cô nói đến mẹ của mình. Hồng biết rằng sau lời nói tươi cười quan tâm đó người cô không hề có ý tốt nào cả. Khi cô hỏi Hồng có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ không? Hồng chỉ rớt nước mắt nhớ đến mẹ. Hồng nhớ đến gương mặt rầu rầu và sự hiền từ của mẹ. Biết được ý nghĩ xấu xa của cô mình Hồng đã trả lời: “Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào Mợ cháu cũng về”. Khi cô người nói với giọng ngọt xớt: “Mợ mày phát tài lắm có như dạo trước đâu”, lòng cậu thắt lại, khóe mắt cay cay. Hồng thương mẹ vất vả, lam lũ. Người cô nói tiếp “vào mà bắt mợ mày mua sắm quần áo cho và thăm “em bé” thứ”. Hai tiếng “em bé” kéo dài khiến nước mắt Hồng chảy ròng ròng, cười dài trong tiếng khóc. Khi người cô tươi cười kể về người mẹ đáng thương của mình thì cổ họng Hồng như nghẹn ứ lại khóc không ra tiếng. Cậu ước rằng giá như những cổ tục đang đày đọa mẹ cậu kia là những hòn đá hay mẩu thủy tinh thì cậu sẽ vồ ngày đến mà cắn, mà nhai mà nghiến, cho kì vụn nát. Trong cuộc trò chuyện này, ta thấy Hồng đã bộc lộ tình yêu thương mẹ, thương mẹ vất vả, nhớ về người mẹ đáng thương của mình.

Tình cảm mãnh liệt của chú bé được biểu hiện cụ thể khi ngồi trong lòng mẹ. Đó là buổi tan học, thấy dáng dấp của người phụ nữ đang ngồi trên xích lô giống mẹ mình. Hồng đã chạy và đuổi theo mẹ gọi: “Mợ ơi! Mợ ơi!..” Khuôn mặt Hồng lúc đó trán ướt đẫm mồ hôi, Hồng ríu cả chân lại nhảy lên và khóc nức nở. Lúc này, khi được ngồi trong lòng mẹ, Hồng đã sung sướng vô cùng ngắm kĩ gương mặt mẹ “Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má”. Hồng cảm nhận được sự ấm áp mà bấy lâu nay cậu không thấy. Hồng sung sướng vô cùng và quên đi những lời nói cay độc của bà cô.

Nguyên Hồng đã xây dựng hình tượng chú bé Hồng chịu những khổ đau tủi cực những xen lẫn với bao hạnh phúc khi ngồi trong lòng mẹ. Chúng ta cảm phục Hồng khi đã quên được những định kiến về mẹ của mình để hưởng được hạnh phúc trọn vẹn khi ngồi trong lòng mẹ.

Trong lòng mẹ là chương IV của tập hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng với tấm lòng yêu thương mẹ thật tha thiết, hồn nhiên, mãnh liệt trong đoạn trích.

Chương IV của tác phẩm đã miêu tả một cách sinh động “những rung động cực điểm của một tâm hồn trẻ dại” (Thạch Lam) đối với người mẹ, đã bộc lộ sâu sắc lòng yêu thương mẹ của bé Hồng. Hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến, bị trói buộc trong những hủ tục khắt khe từ đó mà đau khổ, bất hạnh triền miên được thể hiện rõ.

Qua tác phẩm, bà mẹ của bé Hồng là người phụ nữ bất hạnh, không hề có hạnh phúc! Bà bị ép gả chồng mà không hề được tự ý lựa chọn theo mơ ước của mình. Càng đau khổ hơn khi chồng bà là người nghiện ngập, bệnh hoạn. Gia đình bên chồng tuy khá giả nhưng ích kĩ, nhiều thành kiến và cổ hủ nên đã ghét bỏ bà. Họa vô đơn chí! Bà góa chồng, gia đình tan nát lại nghèo khó, đành gửi con lại cho gia đình bên chồng để lưu lạc kiếm sống.

Người mẹ tái giá. Gia đình chồng coi đó là hành động tội lỗi nhục nhã vì bà có thai khi chưa hết tang chồng. Bà luôn bị gièm pha, oán trách, mỉa mai. Đến ngày giỗ chồng, cũng như lúc ra đi, bà mạnh dạn trở về để gặp con, ở hai mẹ con lại có những phút giây ngọt ngào êm dịu hiếm hoi.

Như vậy, trước hết ta thấy bà mẹ bé Hồng điển hình cho người phụ nữ xưa, ngoan ngoãn theo thói tục cũ: lấy chồng theo sự lựa chọn của cha mẹ. Xuất giá tòng phu, bà vẫn sống trong khuôn khổ cũ. Khi chồng mất, bà túng quẫn, bà lại “bước đi bước nữa”, đã tự cởi trói cho mình để tìm hạnh phúc cho cuộc đời còn lại của mình. Bà đã thể hiện cá tính mạnh mẽ vượt lên thói tục thông thường để tìm hạnh phúc mới.

Người mẹ phải xa đứa con yêu dấu của mình nhưng lúc nào bà cũng thương nhớ con, đau nhói trong tim khi nghĩ đến cảnh con bà bơ vơ, lạc lõng, bị hắt hủi bên gia đình chồng cũ. Yêu con, bà đã chấp nhận mọi lời dị nghị và cách đối xử ghẻ lạnh để về thăm con trong ngày giỗ đầu chồng cũ.

Ta có thể hiểu vì sao bà bặt tăm, không thư từ thăm hỏi, không quà bánh cho con đến gần một năm trời. Bà không muốn con bà phải nghe những lời đay nghiến, mỉa mai. Gặp lại con, bà xúc động, ôm con vào lòng với biết bao yêu thương và nước mắt. Đó là tình mẫu tử vô biên của một người đàn bà bất hạnh, đắng cay.

Thật xót xa khi cảnh đời thật của người mẹ trong hồi ký của nhà văn lại là cảnh đời tiêu biểu cho người phụ nữ việt Nam thời xưa. Lễ giáo phong kiến, hủ tục khắt khe chỉ tạo thêm những dòng lệ thảm cho cuộc đời vốn bất hạnh của người phụ nữ. Mẹ bé Hồng là người dám thoát ra để vươn tới một hạnh phúc, một cuộc sống hợp lí tốt đẹp hơn.

Qua hồi kí về tuổi thơ nhiều cay đắng của Nguyên Hồng, ta hiểu thêm về phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại với những hoàn cảnh thương tâm và ước mơ chân chính, với lòng thương con đậm đà, tha thiết. Nội dung cơ bản của đoạn trích cũng toát lên từ chương hồi kí này là nỗi cay đắng uất nghẹn và tình thương yêu vô bờ bến của bé Hồng đối với người mẹ nhân từ, tần tảo mà cuộc đời chịu nhiều bất hạnh.

Có hai sự kiện đã hóa thành kỉ niệm không thể phai mờ được nhà văn kể lại, ghi lại. Thứ nhất là cuộc trò chuyện của bé Hồng với bà cô; thứ hai là mẹ bé Hồng trở về, cuộc gặp gỡ đầy nước mắt, đầy niềm vui và hạnh phúc. Nhớ lại cuộc trò chuyện với bà cô tức là nhà văn nhớ lại cảnh côi cút của một đứa bé và cảnh ngộ thương tâm của người mẹ hiền từ. Cha bé Hồng mất chưa đầy một năm. Mẹ bé Hồng trở thành người đàn bà bị cái tội bước đi bước nữa, nên bị gia đình chồng ruồng rẫy.

Vì “cùng túng quá” trong cái xã hội đầy thành kiến và hủ tục độc ác, người mẹ khốn khó ấy phải bỏ con đi tha phương cầu thực. Thế là bé Hồng mất cha, lại xa mẹ phải sống nhờ họ hàng, bị hắt hủi tàn nhẫn. Đã một năm, bé Hồng không nhận được thư, không lời thăm hỏi hay một đồng quà của mẹ, bé Hồng nhớ thương mẹ, nhiều khi rơi nước mắt.

Cuộc trò chuyện với bà cô là kỉ niệm không thể quên về một nỗi đau uất nghẹn mà tuổi thơ Nguyên Hồng đã trải qua. Nỗi đau sâu xa của bé Hồng không chỉ là xa vắng mẹ mà còn là nỗi đau xé lòng khi đang nhớ thương mẹ, lại phải nghe những lời nói xấu cay nghiệt về mẹ. Ác ý của người cô bộc lộ rất rõ. Giọng của bà cô lúc ngọt lúc nghiêm nghị tỏ ra ngậm ngùi thương xót. Nhưng thực ra, lời nói của bà như khoét sâu vào nỗi đau của đứa bé tội nghiệp.

Bé Hồng nhận rõ nét mặt khi cười rất kịch của bà cô. Rắp tâm của bà là gieo rắc vào đầu óc đứa cháu những hoài nghi để nó khinh miệt và ruồng rẫy mẹ nó nhưng bé đinh ninh đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị rắp tâm tanh bẩn xâm phạm ngay đến. Tuy còn bé, rơi vào hoàn cảnh éo le như thế, Hồng đã sớm khôn ngoan, cố gắng giấu kín ý nghĩ và tình cảm của mình đối với bà cô. Nhưng cũng vì giấu kín nên nỗi đau và uất nghẹn ấy càng bùng nổ dữ dội.

Nỗi đau khổ sâu xa của chú bé không chỉ là thiếu tình thương mà còn ở chỗ chú thường bị người khác xúc phạm một cách độc ác về mẹ chú. Một người đàn bù bị cái tội là góa chồng, nợ nần cùng túng quá, phải đi tha phương cầu thực, xa cả đứa con yêu dấu.

Bằng cử chỉ cùng giọng nói thân tình tự nhiên nhất, bà cô bảo chú bé hãy đi thăm mẹ và “thăm em bé” (con sau của người mẹ). Đấy là những lời đầy dụng ý: hai tiếng “em bé” mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm cơ thể tôi như ý cô tôi muốn.

Chú bé Hồng từ chỗ im lặng cúi đầu đến nước mắt ròng ròng… Cái cười dài trong tiếng khóc đó cho ta thấy nỗi đau đớn tủi cực và cả nỗi căm giận buộc phải nén lại của chú bé sâu sắc biết chừng nào! Không phải là giọt nước mắt xấu hổ, tủi thân mà là giọt nước mắt của tình thương qua ý nghĩ thương mẹ tại sao phải sinh em bé một cách giấu diếm, trốn tránh.

Dường như chưa cho thế là đủ, bà cô còn tươi cười kể cho chú bé nghe rằng mẹ chú ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng ngồi cho con bú ở chợ.. Chưa nghe hết câu chú bé đã nghẹn họng khóc không ra tiếng. Chú đau đớn và vô cùng cảm giận những cổ tục đã đày đọa người mẹ hiền từ đáng thương của mình.

Tình thương yêu mẹ của chú bé khi gặp lại mẹ là cảm giác vui sướng thấm thía tột cùng của chú khi được trở về “trong lòng mẹ”. Đó là một cảm xúc lớn lao, mãnh liệt dâng trào, một cảm giác hạnh phúc tuyệt vời đã xâm chiếm toàn bộ cơ thể và tâm hồn chú bé.

Thoáng thấy bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ mình, chú bé cuống quýt đuổi theo gọi bối rối: “Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!…” Nếu người quay lại ấy là người khác thì thật là điều tủi cực ghê gớm cho chú bé, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc.

Bé Hồng khát tình mẹ như người bộ hành khát nước đến kiệt sức ở sa mạc. Hình ảnh so sánh cực tả nỗi nhớ mong mẹ tới cháy ruột của bé Hồng. Khát khao càng mãnh liệt nên được gặp mẹ, bé Hồng xiết bao hồi hộp, sung sướng! Chú bé thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi và khi trèo lên xe, chú ríu cả chân lại. Biết bao hồi hộp sung sướng, đau khổ toát lên từ những cử chỉ cuống quýt ấy. Và khi được mẹ kéo tay, xoa đầu hỏi thì chú bé òa lên khóc và cứ thế nức nở.

Dường như bao nhiêu sầu khổ dồn nén không được giải tỏa trong chú bé suốt thời gian xa mẹ dài đằng đẵng lúc này bỗng vỡ òa trong tiếng khóc nức nở, tức tưởi của bé Hồng. Trong ánh mắt thương yêu của đứa con mong mẹ, mẹ chú hiện ra xiết bao thân yêu, đẹp tươi: vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má.

Chú bé cảm thấy ngây ngất sung sướng tận hưởng cảm giác khi được sà vào lòng mẹ, cảm giác mà chú đã mất từ lâu. Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Chú bé còn cảm nhận thấm thía hơi mẹ vô cùng thân thiết đối với chú: Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường.

Dường như tất cả các giác quan bé Hồng đều thức dậy và mở ra để tận hưởng cái êm dịu vô cùng của người mẹ. Trong những giây phút say sưa và rạo rực ấy, bé Hồng không nhớ gì, không nghĩ gì, kể cả những lời âu yếm mẹ con nói với nhau, lẫn câu nói cay độc của bà cô hôm nào. Sự xúc động, tình thương yêu của bé Hồng thật sinh động, nồng thắm.

Tình thương mẹ là nét nổi bật trong tâm hồn bé Hồng. Nó mở ra trong mắt ta cả một thế giới tâm hồn phong phú của bé. Thế giới ấy lấp lánh ánh sáng nhân đạo, luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên.

Tình thương mẹ đã cho bé Hồng một cái nhìn sắc bén đối với con người và sự việc ngoài đời. Tình thương ấy không gì có thể cản ngăn, chia cắt được và ngày càng trở nên thắm thiết nồng nàn. Qua đó, ta càng hiểu và yêu mến bé Hồng, hiểu sâu hơn tình mẫu tử thiêng liêng. Hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng trở thành một áng văn nghệ thuật, vừa có tầm vóc tư tưởng lớn lao, vừa thể hiện chân thật “rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”

Trong lòng mẹ được trích trong cuốn Những ngày thơ ấu là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyên Hồng. Tác phẩm không chỉ cho thấy số phận cơ cực bất hạnh của chú bé Hồng mà trên hết còn cho thấy tình thương sâu sắc cậu dành cho mẹ. Trong lòng mẹ là trích đoạn phản ánh đầy đủ những nội dung, tình cảm ấy.

Trước hết Hồng là một đứa trẻ có tuổi thơ bất hạnh. Hoàn cảnh của Hồng hết sức đáng thương: cha mất, mẹ bỏ đi tha hương cầu thực. Đến gần ngày giỗ đầu của cha vẫn chưa thấy mẹ về. Cậu phải sống cùng họ hàng trong sự khinh ghét, ghẻ lạnh của mọi người. Hồng luôn sống trong sự thiếu thốn tình yêu thương.

Đáng thương hơn nữa, sống trong hoàn cảnh như vậy, Hồng còn nhiều lần bị bà cô dùng những lời lẽ độc địa để đay nghiến, hạ nhục mẹ của cậu. Quả thực, số phận của Hồng hết sức bất hạnh, thương cảm. Nhưng cậu là người có tình yêu thương mẹ mãnh liệt. Đầu tiên được thể hiện trong cuộc đối thoại với bà cô.

Cuộc đối thoại này chẳng khác gì cuộc chiến tranh không cân sức: bà cô dùng những lời lẽ, hành động (vỗ vai, kéo dài tiếng em bé, đôi mắt sắc lạnh) liên tiếp tấn công bé Hồng. Bé Hồng yếu ớt, tội nghiệp chống trả lại những lời của bà cô. Những lời đó như con dao khứa vào tâm hồn non nớt, đáng thương của bé Hồng.

Tình yêu thương mãnh liệt đối với mẹ được thể hiện qua suy nghĩ, cảm xúc của Hồng khi trả lời người cô. Trước những lời nói rất “kịch” bé Hồng nhận ra ngay sự giả dối trong suy nghĩ, hành động của bà cô. Điều này được thể hiện rõ trong các chi tiết: “nhận ra những ý nghĩ cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch” của người cô, cậu bé hiểu rằng “nhắc đến mẹ tôi, cô tôi chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi”.

Nhưng tất cả những lời mỉa mai, cay độc đó cũng không thể làm xấu đi hình ảnh người mẹ trong lòng bé Hồng. Ngược lại càng làm tình yêu đó bùng cháy, mãnh liệt hơn “đời nào tình yêu thương và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến”. Mặc dù kiên quyết bảo vệ mẹ trước những lời lẽ thâm hiểm của bà cô, nhưng cậu bé vẫn giận mẹ, bởi “căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở một cách giấu giếm”.

Và tình yêu đó được đẩy lên một mức cao hơn nữa qua hình ảnh so sánh đặc sắc: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Chỉ với câu văn ngắn tác giả tách làm nhiều vế, sử dụng các động từ mạnh theo hình thức tăng tiến: cắn, nhai, nghiến những hủ tục phong kiến, qua đó đã cho thấy tình yêu thương mẹ mãnh liệt của bé Hồng.

Tình yêu thương đó dâng trào hơn nữa khi cậu bất ngờ gặp lại mẹ. Bóng dáng mẹ sao cậu có thể quên, vậy mà trong vô thức ám ảnh cậu vẫn nghi ngờ đó không phải là mẹ. Nhưng cậu vẫn chạy đuổi theo, và nghĩ: “Nếu người quay lại ấy là người khác thì thật là một trò đùa tức cười cho lũ bạn. Và cái lầm đó không những làm tôi thẹn mà còn tủi cực nữa, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc”.

Và niềm tin, sự khao khát gặp lại mẹ của cậu đã được đền đáp, người đàn bà trên xe ấy chính là mẹ của cậu. Cậu lập cập, bối rối, vội vã thở hồng hộc, chạy theo xe mẹ, và khi mẹ kéo tay, xoa đầu hỏi thì “tôi òa lên khóc rồi cứ thế nức nở”. Đây là giọt nước mắt của niềm vui, sự hạnh phúc, khi được nằm trong lòng mẹ, đùi áp vào đùi mẹ, được cảm nhận hơi thở thân thương phả ra từ khuôn miệng xinh xắn của mẹ.

Những lời lẽ của bà cô về mẹ xơ xác, còm cõi cậu không thấy mà vẫn thấy mẹ như xưa, gương mặt tươi sáng, đôi mắt trong, hơi thở thơm tho lạ thường,. và từ giây phút ấy Hồng lâng lâng trong cảm giác được gặp lại mẹ, bao lời nói, ý nghĩa cay độc bà cô cố công tiêm nhiễm vào đầu giờ đã tan biến hết cả, chỉ còn lại tình mẫu tử thiêng liêng.

Tác phẩm không chỉ xuất sắc về mặt nội dung mà có hấp dẫn ở nghệ thuật. Tác giả sử dụng linh hoạt các biện pháp nghệ thuật: so sánh, liệt kê, tăng tiến,.. cho thấy tình yêu thương mẹ mãnh liệt, tha thiết của bé Hồng. Không chỉ vậy, nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật cũng rất đặc sắc, mỗi nhân vật thể hiện tính cách riêng qua suy nghĩ, hành động.

Đây là tác phẩm thấm đẫm chất trữ tình: tình huống truyện chứa đầy cảm xúc: bé Hồng gặp lại mẹ sau bao lâu xa cách; nội dung câu chuyện cũng đậm chất trữ tình: cảnh ngộ đáng thương, éo le của mẹ và bé Hồng đã gieo vào lòng người đọc những cảm xúc mạnh mẽ; ngôn ngữ kể chuyện giàu cảm xúc kết hợp hài hòa giữa kể và bộc lộ cảm xúc.

Bằng ngôn ngữ trần thuật tha thiết, giàu tình cảm, tác phẩm đã cho thấy tình yêu thương mãnh liệt của bé Hồng dành cho mẹ trong hoàn cảnh éo le của cuộc sống. Tình mẫu tử là mạch nguồn sâu thẳm trong mỗi con người, không có yếu tố, tác nhân nào có thể giết chết tình cảm thiêng liêng ấy.

Năm 1937, trong bài thơ “Mồ côi”, Tố Hữu có viết:

Một năm sau, trên tuần báo Ngày nay, hồi ký “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng ra mắt bạn đọc. Nhân vật bé Hồng trong cuốn hồi kí cũng là một “con chim lon rã cánh.”. Bố nghiện ngập, gia đình sa sút trở nên bần cùng. Bô’ chết chưa đoạn tang, người mẹ trẻ lại chửa đẻ với người ta, “nợ nần quá”, phải bỏ nhà, bỏ quê vào Thanh Hóa kiếm ăn lẩn hổi. Bé Hồng mồ côi, bơ vơ sống trong sự ghẻ lạnh của họ hàng bên nội. Đến trường thì bị thầy giáo phạt quỳ một cách vô lí oan uổng; đêm Nô-en thì bị người ta hắt hủi đuổi ra khỏi nhà thờ, em lủi thủi đi dưới làn mưa gió lạnh lẽo.

Đọc Trong lòng mẹ, ta bắt gặp một bé Hồng rất đáng thương, đáng yêu; trong đau khổ, trái tim thương yêu của em vẫn dành cho người mẹ một cách đằm thắm trọn vẹn.

Mồ côi bố, cái mũ trắng của bé Hồng còn “quấn băng đen”; mẹ tha phương cầu thực mãi chưa về. Sống trong cảnh ăn cơm chực gia đình bên nội, chú còn bị người cô nanh ác, hiểm độc nói xấu mẹ mình. Mẫn cảm và thông minh, bé Hồng đã phát hiện ra “những ý nghĩ cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch” của bà cô tàn nhẫn. Mặc dù đã non một năm, mẹ không gửi cho một lá thư, không nhắn lời hỏi thăm, không gửi cho con một đồng quà nào, nhưng trái tim của em đối với người mẹ đau khổ vẫn trọn vẹn. Bà cô cố ý gieo vào lòng ngây thơ của em “những hoài nghi” để em “khinh miệt và ruồng rẫy mẹ”. Bé Hồng là một đứa con hiếu thảo, cảm thông với cảnh ngộ “góa chồng, nợ nần cùng túng quá phải bỏ con cái đi tha hương cầu thực” của mẹ mình. Em quyết không để “những rắp tâm tanh bẩn ” của bà cô xâm phạm đến “tình thương yêu và lòng kính mến mẹ”.

Bao nhiêu nước mắt của bé Hồng đã chảy xuống trước những lời cay độc của bà cố: “Mợ mày phút lài lắm.”, “vào mà thăm em bé chứ”, mợ mày “ngồi cho con bù ở bân rổ bóng đàn., ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng. người gầy rạc đi.”, gặp người quen thì “quay đi, lấy nón che”. Mỗi lời nói và giọng cười của bà cô đã làm cho bé Hồng võ cùng tủi nhục, đau đớn. Lúc thì em “cúi đầu xuống đất”, lòng “thắt lại”; khóe mắt “cay cay”. Lúc thì nước mắt “ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ”. Có lúc, cổ họng em “nghẹn ứ khóc không ra tiếng”. Bé Hồng rất thương mẹ, em đã cảm thông với mẹ chưa đoạn tang chồng mà đã chửa đẻ với người khác. Em không trách mẹ mà “căm lức” sao mẹ vì “sợ hãi những thành kiến càn ác” mà xa lìa đứa con thơ. Lòng thương mẹ của bé Hổng là vô cùng mãnh liệt. Càng thương mẹ bao nhiêu, em càng căm ghét, càng ghê tởm những cổ tục bấy nhiêu: “Giá những cổ tục đã đầy đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”.

Phần đấu chương Trong lòng mẹ, qua nhân vật bà cô độc địa, xấu xa, hình ảnh bé Hồng càng trở nên đáng yêu đáng trọng. Những dòng nước mắt của em chứa chan bao tình thương mẹ, một người mẹ đau khổ mà đôn hậu.

Phần cuối chương Trong lòng mẹ nói lên niềm sung sướng của bé Hồng được gặp lại mẹ hiền sau một năm dài xa cách. Đốn ngày giỗ đầu của bố, em chẳng viết thư cho mẹ thì mẹ cũng về. Thương mẹ nhiều, nhớ mẹ lắm, tin yêu mẹ nên bé Hồng mới có linh cảm khi “chợt thoáng thấy một bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ” mình, liền chạy theo gọi rối rít: “Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!”. Nỗi khát khao gặp mẹ của bé Hồng khác nào người bộ hành giữa sa mạc khao khát một/ dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm“. Như một cành dào dạt niềm vui. Xe chạy chầm chậm. Mẹ cầm nón vẫy con. Con chạy kịp. từ hồng hộc, trán đẫm mồ hôi. Vui sướng cảm động, con trèo lên xe mà “ríu cả chân lại”. Mẹ kéo lay con, xoa đầu con; con “nức nở”, mẹ cũng sùi”. Đã bao lâu rồi bé Không lại được nghe lời yêu thương của mẹ hiền: “Con nhớ dì! Mợ đã về với các con rồi mà’’. Bao cử chì thương trìu mến hòa quyện tình mẹ con. Mẹ “xốc nách” con lên xe, rồi lấy vạt áo nâu “thấm nước măt’ cho con. Con ngắm nhìn gương mặt mẹ. Mẹ “không còm cõi xơ xác ‘ như người cô đã nói. Gương mặt mẹ “vần tươi sáng”, đôi mắt mẹ “trong’’, ‘‘nước da mịn làm nổi bật. màu hồng của hai gò má”. Một mùi “thơm tho lạ thường” phả ra từ quần áo, từ hơi thò ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu của, mẹ.

Từ miêu tả cụ thể những chi tiết, tình tiết của hai mẹ con gặp lại nhau sau một năm dài xa cách, bé Hổng với tâm hồn trong sáng ngây thơ và giàu lòng hiếu thảo, em đã thổ lộ niềm vui sướng hạnh phúc của đứa con được sống Trong lòng mẹ: “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa của người mẹ. mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Sự êm dịu ấy đã được khơi nguồn từ tình mẫu tử bao la. Câu nói ấy của bé Hồng đã đem đến cho ta nhiều chân cảm. Bế Hồng mồ côi. hiếu thảo, rất thương yêu mẹ mới dạt dào chân cảm ấy.

Trong lòng mẹ là những trang hồi ký cảm động. Nhân vật bé Hồng trong đau khổ xa cách mẹ, trong cay đắng khi bà cô nói xấu mẹ, trong niềm vui sướng hạnh phúc tột độ được gặp lại mẹ hiền, được mẹ vỗ về an ủi, đểu sáng bừng lên một trái tim yêu thương thiết tha, chân thành, những “rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại” (Thạch Lam). Giọt nước mắt của bé Hổng là giọt nước mắt của một đứa con hiếu thảo. Trong bi kịch gia đình, bi kịch tuổi thơ, em càng thương mẹ hơn bao giờ hết.

Đoạn văn ghi cảnh bé Hồng gặp lại mẹ là hay nhất, cảm động nhất. Bé Hổng là hình ảnh đáng thương và đáng yêu của bài ca Trong lòng mẹ.

Bên cạnh nhân vật người mẹ mang nhiều nét đẹp, nhân vật chú bé Hồng hiện lên với biết bao suy nghĩ và cảm xúc, cũng thật là đẹp, đáng chia sẻ, đáng trân trọng. Qua nhân vật này, chúng ta không chỉ cảm nhận những cung bậc tâm trạng của một chú bé rất mực tin yêu mẹ mà còn hiểu cụ thể, sâu sắc những nét đặc trưng của thể văn hồi kí, một thể văn đậm chất trữ tình. Chất trữ tình thống thiết của ngòi bút Nguyên Hồng thể hiện bằng lời kể của nhân vật “tôi” (tức bé Hồng) với những diễn biến tâm trạng theo trình tự thời gian trong hai mối quan hệ: quan hệ với bà cô và quan hệ với người mẹ, rất cụ thể.

Khi nói chuyện với bà cô, bé Hồng chịu bao nhiêu đau đớn, uất ức, nhưng vẫn lòng tin yêu mẹ. Nghe lời nói thứ nhất của bà cô, lập tức trong kí ức chú bé sống dậy hình ảnh người mẹ ở nơi xa, cơ cực, vất vả. Từ cử chỉ “cúi đầu không đáp” đến lúc cười và đáp lại: “năm nay thế nào mợ cháu cũng về” là một phản ứng thông minh xuất phát từ sự nhạy cảm và lòng tin yêu mẹ của chú bé. Chú đã nhanh chóng nhận ra ý nghĩa cay độc của lời bà cô và cố gắng giữ vững tình thương yêu và lòng kính mến mẹ. Nhưng vì tuổi thơ non nớt, nên đến lời nói thứ hai, thứ ba của bà cô, lòng chú bé “càng thắt lại, khóe mắt đã cay cay”, rồi “nước mắt ròng ròng, rớt xuống hai bên mép, rồi chan hòa đầm đìa ở cằm, ở cổ..”. Nỗi đau, sự day dứt đã lên đến đỉnh cao. Trong tâm hồn non nớt ấy, diễn ra một mâu thuẫn: “Tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi để sinh nở một cách giấu giếm trốn tránh như một kẻ giết người lúng túng với con dao vấy máu.”. Lời văn, nhất là hình ảnh so sánh thật dữ dội. Tình thương, niềm tin yêu và một chút ngờ vực đối với người mẹ như đang nổi bão, giằng xé trong lòng chú bé. Nhưng chú vẫn cố kìm nén để giữ vững tình yêu và niềm tin. Vì thế, bé Hồng đã “cười dài trong tiếng khóc” hỏi lại bà cô về cái tin sét đánh kia. Nỗi uất ức và đau đớn như chuyển sang trạng thái chai lì, bướng bỉnh. Khi nghe bà cô tươi cười kể lể tình cảnh khốn khổ của mẹ mình thì “cổ họng tôi đã nghẹn ứ, khóc không ra tiếng”. Và ý nghĩa táo tợn bất cần, đầy phẫn nộ đã trào sôi như cơn dông tố trong lòng chú bé: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Lại một câu văn biểu cảm và một hình ảnh so sánh đặc sắc nữa! Nguyên Hồng đã sử dụng các từ cắn, nhai, nghiến..nằm trong một trường nghĩa đặc tả tâm trạng uất ức, căm giận của nhân vật. Đến đây, tình thương và niềm tin đối với mẹ đã xui khiến người con hiếu đễ ấy suy nghĩ sâu hơn, xúc cảm rộng hơn. Từ cảnh ngộ riêng của người mẹ, từ những lời nói kích động của người cô, bé Hồng nghĩ tới những “cổ tục”, căm giận cái xã hội cũ kĩ đầy đố kị, thành kiến độc ác đối với những người phụ nữ gặp hoàn cảnh éo le. Từ câu chuyện riêng của đời mình, Nguyên Hồng đã truyền tới người đọc những nội dung mang ý nghĩa xã hội bằng những dòng văn giàu cảm xúc và có hình ảnh, rất ấn tượng. Qua cuộc đối thoại và những cung bậc cảm xúc của bé Hồng trước bà cô, chúng ta thông cảm với những nỗi đau thấm thía, đồng thời rất trân trọng một bản lĩnh cứng cỏi, một tấm lòng thiết tha của người con rất mực thương và tin yêu mẹ.

Nhờ tình thương và niềm tin ấy, đến khi gặp mẹ, bé Hồng đã nhận được niềm sung sướng, hạnh phúc lớn lao. Như trên ta đã biết, người mẹ của bé Hồng trở về đúng thời điểm quan trọng nhất, đã xua tan mọi đau đớn, dằn vặt trong tâm hồn chú bé. Mới chỉ thoáng thấy một bóng người giống mẹ, chú bé Hồng đã vội vã, bối rối, vừa chạy theo vừa gọi mẹ. Được ngồi lên xe cùng mẹ, chú bé “òa lên khóc rồi cứ thế nức nở” khiến cho người mẹ cũng “sụt sùi theo”. Ba từ òa, nức nở, sụt sùi cùng trường nghĩa, nối nhau miêu tả các dạng thức đặc biệt của tiếng khóc, của những dòng lệ. Đây là âm thanh, là nước mắt của biết bao nỗi niềm, tâm trạng hai mẹ con: tủi phận, tự hào, bàng hoàng, sung sướng. Cảm giác sung sướng của đứa con khi được ngồi kề bên mẹ, được ôm ấp trong lòng mẹ cứ dâng lên từng giây, từng phút. Trước hết, chú được tận mắt nhìn thấy mẹ, “nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má.”. Có được một người mẹ như thế, chú bé nào chẳng vui sướng, tự hào, huống chi là bé Hồng, đứa trẻ côi cút từng mong gặp lại mẹ đến cháy lòng, cháy ruột, từng phải đấu tranh với người khác cố ý nói xấu mẹ mình, chia rẽ tình mẹ con. Tiếp sau, chú bé được mẹ ôm ấp “đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi..hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở d khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường.”. Chỉ một đoạn văn ngắn mà nhà văn sử dụng dồn đập bao nhiêu động từ, tính từ, nhất là những danh từ cùng trường nghĩa: gương mặt, đôi mắt, nước da, gò má, đùi, đầu, cánh tay, da thịt, khuôn miệng miêu tả vô cùng sinh động niềm hạnh phúc lớn lao tưởng như tới đỉnh điểm của tình mẫu tử. Đây thực sự là những cảm giác “mơn man” ngây ngất, đắm say mà vô cùng êm dịu của quan hệ máu mủ, ruột thịt mà những đứa trẻ bất hạnh không dễ gì có được. Nhà văn đã dựng lại một bức tranh tràn ngập ánh sáng, đường nét rõ ràng, hài hòa, trong đó là những sắc màu tươi tắn, thoang thoảng hương thơm. Đó là một hình ảnh về một thế giới đang bừng nở, hồi sinh, một thế giới dịu dàng kỉ niệm, ăm ắp tình người. Sống trong thế giới đó, chú bé Hồng bồng bềnh trôi trong cảm giác sung sướng, rạo rực, ru mình trong tình mẹ dịu êm, tự hào, hãnh diện được đền đáp bởi tấm lòng người con hiếu thảo thương và tin yêu mẹ đến cháy lòng. Cái cảm giác mình đang bé lại – hay niềm khát khao được bé lại – để làm nũng mẹ, để hưởng sự vuốt ve, chiều chuộng của mẹ cứ lâng lâng, tiếp nối khiến chú bé như đang sống trong mơ vậy. Mọi điều xấu xa, sai lệch mà bà cô gieo vào tâm hồn thơ dại của chú bé bay biến đi hết cả. Xung quanh, từ thế giới bên ngoài vào sâu trong tận cùng cõi tâm linh của chú bé và người mẹ dường như chỉ là niềm hạnh phúc giản dị mà thiêng liêng, hiện thực mà lãng mạn, đầy mộng mơ.

Có thể nói, càng về cuối câu chuyện, ngôn ngữ văn chương càng linh hoạt, sống động, tình cảm người viết càng dạt dào. Đúng là nhà văn đang sông lại những kỉ niệm tuổi thơ của mình để tâm tình, chia sẻ với bạn đọc, cùng bạn đọc thấm thìa những khúc nhạc buồn, vui, cay đắng, ngọt ngào của lòng mẹ yêu con, tình con tin yêu mẹ.

Cậu bé Hồng trong tác phẩm ‘trong lòng mẹ’ phải chịu đựng sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của bà cô nhưng trong cậu vẫn bùng cháy tình yêu thương mẹ mãnh liệt.

Chao ôi! chúng ta thật xót xa và cảm thông cho hoàn cảnh đau khổ, bất hạnh của chú bé. Cậu bé là kết quả của cuộc hôn nhân không có tình yêu, lớn lên trong không khí gia đình lạnh lẽo, trong sự ghẻ lạnh, xa lánh của bà cô. Không chỉ có vậy, đáng thương biết bao khi bố cậu nghiện ngập rồi mất sớm, mẹ phải bỏ đi tha phương cầu thực để lại trong cậu những mất mát to lớn.

Chú bé Hồng là một đứa trẻ thông minh và ngoan ngoãn, giàu tình yêu thương mẹ, biết ứng xử khôn khéo và những tình huống đẫm nước mắt trước những ý đồ đen tối thâm hiểm của bà cô. Từ khi mẹ cậu bỏ cậu đi đến nay, bà cô của cậu – người họ hàng ruột thịt không những không quan tâm, giúp đỡ cậu bé Hồng mà luôn hắt hủi, cay nghiệt, xa lánh đứa cháu đáng thương của mình. Và cuộc đối thoại giữa cầu với bà cô đã thể hiện rõ nhất sự thâm hiểm, độc ác và tình yêu thương mãnh liệt của cậu bé hồng với mẹ.

Bà cô vừa cười vừa hỏi ‘mày có muốn vào Thanh Hóa – chơi với mẹ mày không?’ với nét mặt và giọng nói rất kịch đã thể hiện sự giả dối trơ trẽn của bà cô. Bé Hồng toai trời lời có những khi nghĩ lại thì cúi đầu không đáp đã cho ta thấy sự thông minh, yêu mẹ của cậu.

Rồi bà cô lại ngọt giọng mẹ mày phát tài lắm với đôi mắt sắc lạnh nhìn cháu chằm chằm. Rồi như bị cứa vào nỗi đau tinh thần, chú bé chỉ im lặng cúi đầu, lòng thắt lại khóe mắt cay cay với một nỗi đau không thể kể hết trên gương mặt hốc hác tội nghiệp của đứa trẻ bất hạnh.

Nỗi đau càng được thể hiện rõ hơn khi bà cô vỗ vai ngân dài hai tiếng ’em bé’. Đến đây, những dòng nước mắt chảy ròng ròng, đầm đìa, chan hòa. Cậu quyết không để ‘những rắp tâm tanh bẩn’ có thể xúc phạm đến tình yêu thương mẹ mãnh liệt ấy. Cậu cũng chỉ biết thương mẹ, thương thân, căm tức những cổ tục đã đày đọa mẹ con chú bé đến mức đường cùng. Rồi nỗi uất ức, căm hận dường như được đẩy lên cao trào khi bà cô độc ác tươi cười khi kể về tình cảnh túng quẫn của mẹ.

Bé Hồng lúc đó cổ họng nghẹn ứ lại, giá như cổ tục đã đày đọa, kẹp nát vụn mới thôi. Thể hiện tình yêu thương mẹ mãnh liệt, sâu sắc. Dù phải chịu đựng nỗi đau tủi cực nhưng em có một tình yêu thật mãnh liệt với người mẹ kính yêu của mình.

Qua đó ta cũng thấy được sự thờ ơ thiếu quan tâm của những người lớn đối với con trẻ.

Quả là không có gì sung sướng hơn, hạnh phúc hơn khi một người con được gặp lại mẹ sau nhiều năm xa cách. Thoáng thấy bóng dáng của một người giống mẹ, cậu bé bối rối chạy theo gọi, khát khao được gặp mẹ, thèm khát được tình yêu thương mà bấy lâu nay đã bị bỏ quên. Cậu bé Hồng có tình yêu mẹ, niềm khát khao được gặp mẹ đến cháy bỏng.

Đến khi được gặp lại mẹ, cậu sà vào lòng mẹ òa khóc nức nở. Cậu lại được sống trong tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp, trong niềm hạnh phúc sung sướng ngập tràn, thái ngược hẳn với nỗi đau khổ mà cậu phải hứng chịu trước kia. Ở trong lòng mẹ, bé Hồng vẫn cảm nhận được cái cảm giác ấm áp của tình mẫu từ và quên hết mọi tủi cực, đắng cay. Niềm hạnh phúc dâng tràn và sung sướng của chú bé khi gặp lại mẹ.

Chú bé Hồng là chú bé giàu tình yêu thương mẹ, thông minh, ngoan ngoãn, luôn mạnh mẽ để đối đầu với những thành kiến tàn ác mà nỗi tủi cực, đắng cay cậu phải gánh chịu.

Câu ca dao đã nhắc nhở chúng ta phải biết ơn bố mẹ, những người đã sinh ra ta. Thông qua nhân vật chú bé Hồng bồi đắp cho em tình yêu thương, tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp đối với mẹ của mình.

Vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt phẩm nhất vẫn là trái tim người mẹ”. Trên thế gian này, không có thứ tình cảm nào cao quý và thiêng liêng hơn tình mẫu tử. Là một đứa con có tình yêu mẹ sâu sắc, Nguyên Hồng đã thực sự tạo nên những trang viết thấm thía và cảm động về tình mẫu tử. Qua đoạn trích “Trong lòng mẹ”, ta lại được sống trong tình cảm ấy một lần nữa khi cảm nhận tình yêu da diết của bé Hồng dành cho mẹ.

Bé Hồng thương yêu mẹ sâu sắc. Mặc cho hoàn cảnh cha nghiện ngập mà chết, mẹ đi tha hương cầu thực, sống với bà cô cay nghiệt, cậu càng khao khát tình yêu của mẹ nhiều hơn. Yêu mẹ, Hồng thương mẹ nhiều hơn và cảm thông với những hủ tục mà người phụ nữ bất hạnh phải chịu: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi như một hòn đá hay mẩu thủy tinh, đầu mẩu gỗ tôi quyết vồ lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”.

Trong những điều cay đắng mà bé Hồng phải chịu không chỉ có nỗi đau, nó còn là niềm căm hờn cái xấu, cái ác đang chà đạp lên tình mẫu tử thiêng liêng của con người.Tình yêu mẹ mãnh liệt của chú bé Hồng bỗng trào dâng trong giây phút được gặp lại mẹ.

Hình ảnh người mẹ hiện lên qua đôi mắt ngày đêm mong nhớ của chú vẫn đẹp đẽ và thân thương lạ lùng: “gương mặt vẫn tươi sáng, đôi mắt trong và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má. Hơi quần áo mẹ tôi và hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường”.

Khao khát gặp lại mẹ còn thể hiện ở tiếng gọi bối rối: “Mợ ơi, mợ ơi” và bước chạy “ríu cả chân lại”. Và khi biết đó là mẹ mình thật thì cậu khóc nức nở bởi sung sướng và hạnh phúc. Giây phút được ở trong lòng mẹ có lẽ đã khỏa lấp biết bao những tủi hờn, thua thiệt của bé Hồng bấy lâu nay, cậu cảm thấy “ấm áp, mơn man khắp da thịt”, “không nhớ mẹ đã hỏi gì mình đã đáp gì”.

Đó là cảm giác choáng ngợp trong hạnh phúc vô biên mà chỉ những ai phải trải qua những ngày thiếu vắng mẹ mới cảm nhận được. Ở trong lòng mẹ, được mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm và gãi rôm ở sống lưng cho, Hồng lại trở về làm một chú bé con ngây thơ, trong trắng, luôn chờ mong tình yêu thương từ mẹ. Thời khắc ấy, Hồng đã quên đi tất cả những cay đắng , tủi cực, những lời xúc phạm của bà cô.

Bé Hồng đã được sống những giờ phút thần tiên hiếm hoi nhất, giản dị, mơ mộng mà cũng vô cùng đẹp đẽ, thiêng liêng. Chúng ta, những người may mắn có mẹ ở bên yêu thương, che chở càng phải cảm thông nhiều hơn với những số phận bất hạnh, kém may mắn như bé Hồng.

Qua tâm trạng của chú bé Hồng và niềm khao khát tình thương của cậu, ta phần nào thấu hiểu về những mảnh đời bé nhỏ đang phải gánh chịu nỗi đau mất mẹ, xa mẹ. Dù có được xã hội, mọi người quan tâm đến đâu, những em bé ấy cũng không thể nào khỏa lấp nỗi cô đơn và sự thiếu vắng tình thương của mẹ. Nỗi đau thiếu mẹ sẽ trở thành vết sẹo khó lành trong lòng họ, họ thèm làm sao một cử chỉ âu yếm vuốt ve, một ánh mắt trìu mến yêu thương, những lời hỏi han ân cần, dịu dàng của mẹ.

Vì vậy, khi chúng ta nghiễm nhiên được hưởng những điều ấy, hãy trân trọng từng giờ phút được ở bên mẹ, yêu thương và kính trọng mẹ nhiều hơn.Tình cảm giữa bé Hồng và mẹ đã làm nên một bức tranh tuyệt đẹp về tình mẫu tử. Bằng chính cuộc đời thực của mình, tình yêu thương và lòng nhân ái, Nguyên Hồng đã đánh thức tình yêu mẹ sâu sắc vẫn luôn cuộn trào mãnh liệt trong lòng mỗi người.

Nhắc đến Nguyên Hồng, chúng ta không thể bỏ qua tập hồi kí “Những ngày thơ ấu”, một tác phẩm trở thành để đời của ông. Trong tác phẩm ấy, hình ảnh bé Hồng hiện ra như chính ngày thơ ấu của tác giả, với những nỗi đau, niềm hạnh phúc mà nhà văn đã từng trải qua. Chính vì vậy, nhân vật ấy hiện lên một cách chân thật, sinh động, vừa đáng thương mà cũng vừa đáng quý.

“Những ngày thơ ấu” được đăng báo lần đầu năm 1938, như một khúc tự truyện của chính nhà văn. Trong tập hồi kí ấy, chương IV mang tên “Trong lòng mẹ” có lẽ là khúc kết ngọt ngào nhất, trong trẻo nhất mà tác giả tưới vào lòng người. Nguyên Hồng xây dựng được hệ thống các nhân vật như người thầy, người cô, người mẹ, và tâm điểm là bé Hồng. Chú bé ấy, đáng thương vì sống trong hoàn cảnh nhiều đắng cay tủi nhục, mà đáng quý vì tấm lòng trẻ thơ vẫn trong sạch, vẫn ấm áp tình yêu thương.

Trước hết, phải nhận ra rằng Hồng là một chú bé phải sống trong hoàn cảnh đầy đau thương. Hồng thiếu thốn tình yêu thương của cả cha lẫn mẹ, đó đã là một nỗi đau lớn. Cha mất, mẹ đi biệt xứ, một mình Hồng sống với gia đình bên nội, những tưởng sẽ được bù đắp tình thương. Nhưng không, bà cô ấy cay nghiệt quá. Bà ta luôn gieo vào tâm hồn kia những lời miệt thị của mẹ em. Bà để em phải ghét mẹ, phải coi thường và tránh xa mẹ. Chính vì vậy mà trong câu nói của bà cô ấy luôn có hàm ý mỉa mai coi thường. Hai chữ “em bé” mà bà ta ngân dài ra, thật ngọt, thật cay độc, như để hạ gục mẹ của Hồng xuống đáy cùng. Hồng liên tục phải nghe những lời ấy, có lẽ nào trái tim của em không tổn thương? Một trái tim luôn yêu thương mẹ sâu sắc, nay lại chịu những vết cứa như thế, khó có thể không nhói lên. Bởi vậy mà có nhiều chi tiết, ta bắt gặp Hồng khóc. Có khi chỉ là cay cay nơi khoé mắt, rồi lại có khi nước mắt đã ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ. Khi tâm hồn non nớt bị tổn thương, nó không thôi rỉ máu như vậy.

Nhưng trên tất cả, ta vẫn phải nhận ra rằng, tâm hồn em vẫn tràn ngập tình yêu thương, nó làm lành lại những vết thương của em, chính là tình yêu thương mẹ. Vì tình yêu thương ấy quá sâu sắc, mà một bà cô cay nghiệt kia phải năm lần bảy lượt dùng nhiều chiêu trò phá hoại nó. Khi nghe bà cô hỏi có muốn vào thăm mẹ ở Thanh Hoá không, những bâng khuâng dậy lên trong lòng Hồng. Em muốn vào thăm mẹ lắm chứ, em muốn được sà vào lòng mẹ để được ôm ấp vuốt ve. Dường như nỗi nhớ mẹ luôn thường trực ở đó, có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Nhưng cũng chính tình yêu mẹ ngăn em lại. Em hiểu rằng, bà cô ấy chỉ đang muốn cay nghiệt, làm hại đến danh dự mẹ em. Em nhất quyết không nói, mặc cho khoé mắt đã cay nồng, mặc cho nước mắt chan chứa. Tượng đài về mẹ trong lòng em chưa bao giờ là sụp đổ. Có những chi tiết ấn tượng về cảm xúc của Hồng. Em thương mẹ đến căm ghét những hủ tục, định kiến mà mọi người đặt điều, “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ lấy ngay mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi.”. Những suy nghĩ như thế, nếu không có tình yêu thương, sao có thể bật ra được? Ngay cả khi nghe chuyện mẹ có em bé, em cũng không giận mẹ, mà thương mẹ vì phải đẻ chui lủi ở nơi xứ người, không được hưởng hạnh phúc. Như vậy, qua cuộc nói chuyện với người cô, ta thấy được tình yêu thương mẹ hiện lên thật kiên quyết, qua chính những lời nói và suy nghĩ của Hồng.

Và khi ở trong lòng mẹ, tình thương ấy lại được dịp bùng phát, chảy ra như dòng suối mát. Đi trên đường gặp mẹ, em cứ nghĩ đó là ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc. Dường như mẹ là động lực để em vượt qua những tháng ngày đầy tủi nhục này. Hình ảnh so sánh cho thấy tầm quan trọng của mẹ trong cuộc sống của em. Khi đã được sà vào lòng mẹ, những cảm xúc nguyên thuỷ nhất, trong trẻo nhất ùa về. Em oà lên khóc nức nở, khóc cho những nhớ nhung, tủi nhục mà bấy lâu nay em hứng chịu khi xa mạ. Và có lẽ, em khóc vì niềm hạnh phúc. Em hít hà trên cơ thể mẹ, em nhớ lại những ngày thơ bé được áp mặt vào bầu sữa nóng, được mẹ gãi rôm,… đó có lẽ là những giây phút hạnh phúc nhất trong cuộc đời của em. Lúc này, ta thấy bình yên đến lạ lùng, vì con chim tìm thấy tổ, Hồng đã tìm được chốn yêu thương cho chính mình. Qua đoạn trích này, ta mới thấy được tình yêu thương mà Hồng dành cho mẹ ấm áp, cháy bỏng và dạt dào đến nhường nào!

Cảnh ngộ của bé Hồng chợt làm tôi phải sững lại. Hình như trong cuộc sống, vẫn còn vô số những bé Hồng như thế. Hồng hạnh phúc hơn họ, vì ít nhất đã có thể gặp lại người mẹ của mình. Còn trong cuộc sống hiện nay, có những em bé đã thực sự mồ côi cha mẹ, bị cha mẹ bỏ rơi ngay từ khi mới chào đời. Chưa một lần gặp meh, được uống dòng sữa mát lành, được ôm ấp vỗ về, họ thật đáng thương biết nhường nào. Họ đã không được quyền hưởng hạnh phúc trọn vẹn nhất, vì tạo hoá đã cướp đi một phần của họ. Nhưng có điều, tôi tin rằng, những em bé ấy đang nhận được sự giúp đỡ lớn từ xã hội, từ những nhà hảo tâm, để các em có cơ hội được hoàn thiện bản thân. Các em vẫn sẽ là những mầm non của đất nước, đang được tưới táp để khôn lớn và trưởng thành!

Dù hôm nay hay mai sau, bé Hồng vẫn để lại trong trái tim mỗi người một dấu ấn đặc biệt, để nhắc nhở mỗi chúng ta về tình yêu thương mà có thể ta đang dần quên lãng.

Đoạn trích Trong lòng mẹ trích trong tập Những ngày thơ ấu, một cuốn hồi kí nổi tiếng của nhà văn Nguyên Hồng. Đoạn trích phơi bày chân thực cuộc sống khốn khổ và tình yêu thương mẹ sâu sắc của bé Hồng khi mẹ Hồng đi làm ăn xa.

Đối diện với người cô, Hồng khá già dặn trong suy nghĩ về hoàn cảnh éo le của mẹ. Cậu kiên quyết chống lại những lời nói xấu mẹ của bà cô độc ác, hòng làm Hồng khinh ghét mẹ. Thế nhưng, người cô có thể làm em đau lòng nhưng không thể làm em xa mẹ. Hồng không để những rắp tâm tanh bẩn của người cô xâm phạm đến tình yêu thương mà cậu đã dành cho mẹ.

Từ tình yêu thương mãnh liệt, Hồng quyết bảo vệ mẹ, giữ trọn tình cảm em dành cho mẹ, không oán trách, luôn tin rằng mẹ sẽ về. Hồng không dám cãi lời cô hay có những lời nói khó nghe, cậu đã hết sức giữ được bình tĩnh trước những lời bịa đặt tàn ác của người cô. Tình yêu thương và kính trọng mẹ cậu giữ kín ở trong lòng.

Những giọt nước mắt đau đớn và tủi hổ lăn dài trên má Hồng. Cậu bất lực trước ý đồ của người cô nhưng không thua cuộc .lòng yêu thương và kính trọng mẹ trong lòng cậu vẫn vẹn nguyên, thậm chí là lớn lao hơn.

Hồng luôn khao khát được gặp mẹ, nên vừa mới nhìn thấy một hình dung giống mẹ, cậu đã chạy theo với gọi gấp gáp.

Khi được nằm trong lòng mẹ, cậu bé ngây ngất trong cảm giác hạnh phúc vô biên. Tất cả mọi thứ xung quanh cậu dường như tan biến đâu hết chỉ còn cậu và mẹ. Hạnh phúc được ở bên mẹ khiến cậu bé quên hết mọi đắng cay, tủi hờn trong những ngày phải xa mẹ.

Cậu bé Hồng là tuổi thơ của chính nhà văn, một tuổi thơ cay đắng, nhưng trong gian khổ vẫn giữ một tình cảm thiêng liêng trong sáng: tình mẫu tử. không có một lí do hay sức mạnh nào có thể làm thay đổi tình yêu thương mà Hồng đã dành cho mẹ.

Cách biểu hiện của nhà văn vô cùng chân thực, nhân vật có cá tính rõ nét, miêu tả tâm lí sắc sảo, nhất là tâm lí trẻ em thật tinh tế “với những rung động đến cực điểm” (Thạch Lam). Tuy những suy nghĩ của bé Hồng có phần “người lớn” nhưng nó phản ánh rõ những xung đột khốc liệt, nỗi đau quằn quại trong nhân vật, có sức truyền cảm mạnh mẽ.

Nhân vật Hồng là một nhân vật nhỏ tuổi có cá tính, ghi được dấu ấn trong bạn đọc. Lòng yêu thương mẹ của Hồng gây được xúc động không chỉ với bạn đọc nhỏ tuổi mà còn cả với những ai giàu lòng thương cảm đối với số phận bất hạnh của kiếp người.

Văn Mẫu Lớp 8: Ý Nghĩa Nhan Đề Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ (4 Mẫu) Những Bài Văn Mẫu Lớp 8

Ý nghĩa nhan đề đoạn trích Trong lòng mẹ – Mẫu 1

Tên văn bản trước hết có ý nghĩa tả thực, gắn với một sự việc cụ thể: Hồng được gặp mẹ, được ngồi trong lòng mẹ, được mẹ yêu thương, âu yếm. Nhan đề văn bản còn mang ý nghĩa tượng trưng: “trong lòng mẹ” là được sống trong tình thương của mẹ, là những khoảnh khắc bình yên, hạnh phúc của cậu bé khi được mẹ chở che, vỗ về. Từ nhan đề văn bản, người đọc đã phần nào hiểu được tình yêu thương mẹ tha thiết, sự khao khát được sống trong tình mẹ của chú bé Hồng, một chú bé có tuổi thơ đầy cay đắng và phải sống giữa những cay nghiệt của người đời.

Advertisement

Ý nghĩa nhan đề đoạn trích Trong lòng mẹ – Mẫu 2

“Những ngày thơ ấu” là một tập hồi ký kể lại tuổi thơ đầy cay đắng của tác giả. Tác phẩm này gồm 9 chương và được in thành sách năm 1940. Đoạn trích “Trong lòng mẹ” thuộc chương IV của tác phẩm kể lại sự việc nhân vật Hồng được gặp lại mẹ sau nhiều tháng ngày xa cách. Hình ảnh “lòng mẹ” chắc hẳn luôn gợi cho mỗi người một cảm giác an toàn, ấm áp. Và với cậu bé Hồng cũng vậy. Suốt ngày tháng sống cùng người cô – những lời lẽ cay nghiệt của cô đã khiến Hồng cảm thấy đau khổ và tủi nhục. Khoảnh khắc được gặp lại mẹ, được mẹ ôm vào lòng có lẽ là khoảnh khắc hạnh phúc nhất với cậu. Khi nép vào lòng mẹ, được mẹ âu yếm bỗng nhiên mọi tủi nhục ấy đều tan biến. Như vậy, nhan đề trên chứa đựng một ý nghĩa thật sâu sắc. “Trong lòng mẹ” chính là hình ảnh của tình mẫu tử đầy ấm áp mà không có thứ tình cảm nào có thể thay thế.

Ý nghĩa nhan đề đoạn trích Trong lòng mẹ – Mẫu 3

Đoạn trích “Trong lòng mẹ” thuộc chương IV của cuốn hồi kí “Những ngày thơ ấu”. Khi đọc đến chương truyện này, có lẽ điều đầu tiên mà người đọc cảm thấy ấn tượng sẽ là nhan đề. Nó gợi cho chúng ta một cảm giác ấm áp về tình mẹ. Trước hết, nhan đề này mang ý nghĩa tả thực. Đó là hình ảnh cậu bé Hồng khi gặp lại mẹ. Cậu được ngồi trong lòng mẹ, đầu ngả vào cánh tay mẹ và được cảm nhận hơi ấm quen thuộc của mẹ. Cảm giác ấy dường như đã xóa tan mọi nỗi tủi hờn mà cậu phải chịu đựng trong suốt khoảng thời gian ở nhà người cô. Trong giây phút ấy cậu đã ước mình bé lại để có thể áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, được vuốt ve khuôn mặt mẹ… cho thỏa nỗi nhớ mong. Có lẽ, chỉ có tình mẫu tử mới khiến con người ta bỗng trở nên bé bỏng như vậy. Cũng chỉ có tình mẫu thử mới đủ để khỏa lấp đi những sự cô độc, trống vắng trong tâm hồn con người. Một nhan đề ngắn gọn thôi nhưng đã bao chứa trong đó ý nghĩa thật lớn lao. Tình cảm mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất trong cuộc sống của con người.

Ý nghĩa nhan đề đoạn trích Trong lòng mẹ – Mẫu 4

“Trong lòng mẹ” là chương IV trong cuốn hồi kí “Những ngày thơ ấu” của nhà văn Nguyên Hồng. Nhan đề của đoạn trích trước hết miêu tả một hình ảnh thực tế diễn ra trong câu chuyện. Cậu bé Hồng được gặp lại mẹ sau bao nhiêu ngày xa cách và được ngồi trong lòng mẹ, được mẹ âu yếm và hỏi han đầy yêu thương. Ngoài ra, nhan đề ấy còn mang ý nghĩa biểu tượng, hình ảnh “trong lòng mẹ” tượng trưng cho sự yêu thương của người mẹ. Đó là nơi đã bảo vệ chúng ta khi còn non nớt. Đó cũng là nơi mang lại cảm giác bình yên và ấm áp nhất cho con người. Mỗi khi trải qua khó khăn trong cuộc đời, con người đều muốn tìm về “trong lòng mẹ” để có được cảm giác an toàn. Từ nhan đề của văn bản, người đọc đã thấy được tình cảm mẫu tử thiêng liêng sâu nặng. Cùng với đó là lòng khao khát được sống trong tình cảm ấy của cậu bé Hồng hay cũng chính là tác giả.

Phân Tích Trong Lòng Mẹ ❤️️ 16 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Phân Tích Trong Lòng Mẹ ❤️️ 16 Bài Văn Mẫu Hay Nhất ✅ Tuyển Tập Bài Viết Nghị Luận Văn Học Về Tác Phẩm Nổi Tiếng Của Nhà Văn Nguyên Hồng.

1.Mở bài phân tích Trong lòng mẹ:

Giới thiệu tác giả Nguyên Hồng, Tập truyện Những ngày thơ ấu.

Giới thiệu nội dung cần phân tích – đoạn trích Trong lòng mẹ.

2.Thân bài phân tích Trong lòng mẹ:

a. Tuổi thơ cơ cực của Hồng:

Là đứa con sinh ra trong một gia đình không có tình yêu

Bố vì nghiện thuốc phiện mà chết sớm

Mẹ phải bỏ đi tha hương cầu thực

Bé Hồng sống cùng với người cô cay nghiệt, không hề được yêu thương.

b. Cuộc đối thoại của Hồng và bà cô:

-Nhân vật bà cô:

-Nhân vật bé Hồng:

c. Cuộc gặp gỡ của Hồng và mẹ:

Trong lòng em luôn khao khát mẹ về và được gặp mẹ, khi thấy người ngồi trong xe kéo giống mẹ đã gọi và chạy theo, q mẹ luôn hiện hữu trong lòng em.

Cảm giác xấu hổ với đám bạn nếu đó không phải mẹ mình nhưng trên hết là sự tủi thân vì luôn mong ngóng mẹ.

Khi biết người ngồi trên xe là mẹ mình: chạy đến, òa khóc nức nở, vỡ òa cảm xúc.

Thu mình trong lòng mẹ để cảm nhận tình yêu thương, hơi ấm. Em nhận ra mẹ không tiều tụy như lời người cô kể mà vẫn tươi đẹp như thuở sung túc.

Lời người cô văng vẳng bên tai nhưng nhanh chóng tan biến chỉ còn lại tình yêu thương và cảm xúc hạnh phúc.

Tình mẫu tử thiêng liêng là động lực giúp Hồng vượt qua tất cả những nỗi đau.

d. Phân tích đặc sắc nghệ thuật trong đoạn trích Trong lòng mẹ:

Đoạn hồi kí thấm đẫm chất trữ tình. Kết hợp giữa tự sự – miêu tả – biểu cảm.

Tình huống truyện đơn giản nhưng hấp dẫn.

Các hình ảnh so sánh độc đáo , phép tương phản.

3.Kết bài phân tích Trong lòng mẹ:

Khẳng định lại giá trị của tác phẩm.

Nêu cảm nhận của bản thân.

Cùng với văn mẫu phân tích tác phẩm, chia sẻ 🌼 Tóm Tắt Trong Lòng Mẹ 🌼 15 Bài Mẫu Tóm Tắt Ngắn Hay

Một trong những nhà văn để lại cho tôi ấn tượng nhất có lẽ là Nguyên Hồng. Bởi trong những trang văn của ông chất chứa dạt dào một thứ tình cảm bình yên đến lạ lùng, tâm hồn ta sẽ được trở về với những ngày thơ ấu hồn nhiên, được bình yên sau cuộc sống bộn bề, được chìm đắm trong tình yêu thiết tha của tình mẹ.

Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, Nguyên Hồng nổi lên như một hiện tượng đặc biệt với ngòi bút nhân đạo cao cả, được mệnh danh là nhà văn của phụ nữ, trẻ em và những người cùng khổ. Trong trang văn của mình, đều có phần nào đó bóng dáng của Nguyên Hồng, bởi chính tuổi thơ cay đắng, tăm tối của mình luôn là niềm động lực để ông cầm bút sáng tác.

Một trong những tác phẩm nổi tiếng đã đưa ông lên đỉnh cao của sự nghiệp văn học là tiểu thuyết Những ngày thơ ấu. Đoạn trích Trong lòng mẹ được xem là đoạn trích tiêu biểu của tác phẩm ấy viết về những năm tháng tuổi thơ đầy khổ cực, đắng cay của chính tác giả

Mời bạn đón đọc 🌜 Phân Tích Nhân Vật Bé Hồng 🌜 12 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

.

Bằng lối viết nhẹ nhàng, sâu lắng, cách diễn tả tâm lí sâu sắc và hơn hết bằng tình yêu thương vô bờ bến của tác giả đã khiến người đọc “ôm tim mình” mà khóc. “Trong lòng mẹ” luôn in đậm trong người đọc một tình cảm thiêng liêng, chân thành nhất.

Đoạn trích Trong lòng mẹ khép lại nhưng đã gợi lên cho người đọc biết bao điều suy nghĩ: chúng ta sẽ làm gì để những tâm hồn non nớt, ngây thơ luôn được sống trong niềm yêu thương, hạnh phúc, chở che? Chúng ta làm gì để những giọt nước mắt đau đớn, tủi cực không còn lăn dài trên khuôn mặt thánh thiện của các em? Đó sẽ mãi là câu hỏi nhức nhối mà nhà văn gửi đến mỗi chúng ta.

Tác giả Nguyên Hồng cùng với những tác phẩm của mình sẽ còn mãi trong tâm trí của người đọc. Đoạn trích Trong lòng mẹ nói riêng hay những tác phẩm của nhà văn nói chung luôn là những viên ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Sơ Đồ Tư Duy Phân Tích Bố Cục Trong Lòng Mẹ

Tiếp theo xem nhiều hơn 🌹 Sơ Đồ Tư Duy Trong Lòng Mẹ Nguyên Hồng 🌹 10 Mẫu Phân Tích Ngắn Gọn

Trong lòng mẹ trích từ tập hồi ký Những ngày thơ ấu của nhà văn Nguyên Hồng, kể lại những kỷ niệm cay đắng, tủi khổ thuở ấu thơ của nhà văn và người mẹ bất hạnh. Đong đầy trong đó là tình mẫu tử thiêng liêng sâu sắc, qua giọng văn cảm động, chân thực của tác giả.

Nguyên Hồng (1918-1982), tên khai sinh là Nguyễn Nguyên Hồng, quê Nam Định, ông lớn lên ở thành phố cảng Hải Phòng, trong một xóm lao động nghèo. Ông có một tuổi thơ cơ cực, đầy cay đắng, thiếu thốn tình cảm của cha lẫn mẹ, sống bơ vơ sự ghẻ lạnh của gia đình họ hàng.

Nhưng cũng chính điều này lại là vốn sống tạo nên một nhà văn Nguyên Hồng bản lĩnh, chan chứa tình cảm, luôn luôn muốn thấu hiểu mọi lẽ đời, cái phong cách sống ấy gói gọn trong hai chữ “gia đình”. Nguyên Hồng được mệnh danh là “nhà văn của những người cùng khổ”, “nhà văn của phụ nữa và trẻ em”, rất đa tài, sáng tác được nhiều thể loại nhưng thành công nhất là văn xuôi. Văn của ông luôn chân thực, dạt dào cảm xúc và thấm đượm tình yêu thương.

Những ngày thơ ấu (1938), là tập hồi ký chân thực, có chiều sâu cảm xúc, gồm 9 chương viết về những kỷ niệm đau buồn cay đắng trong suốt thời thơ ấu của tác giả, mà theo như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh: “Đó là những kỷ niệm đau xót, buồn tủi của một đứa trẻ sinh ra trong một gia đình phá sản, phải sống bơ vơ, đói rách, bị họ hàng giàu có và cái xã hội đồng tiền ấy hắt hủi”. Hồi ký là tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyên Hồng. Đoạn trích Trong lòng mẹ nằm ở nửa đầu chương 4 của tập hồi ký.

Đoạn trích mở ra là cuộc đối thoại của cậu bé Hồng với người cô ruột. Hồng là kết quả của cuộc hôn nhân không tình yêu, người cha nghiện ngập vừa mất chưa đầy năm, người mẹ vì không chịu nổi cái sự o ép bên nhà chồng mà phải đi tha hương cầu thực. Sắp đến ngày giỗ đầu của người cha, cô ruột đã lân la tìm đến nói chuyện, những tưởng sẽ chăm sóc vun vén cho cậu bé, nhưng những lời của người cô lại như dao cắt vào lòng cậu bé Hồng, lời lẽ đầy mỉa mai, giễu cợt, ghét bỏ.

Đọc bài ta có thể tưởng tượng ra cái bộ dáng, đon đả đầy nham hiểm của người cô khi cười hỏi: “Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa với mẹ mày không?”, nhưng bằng lòng cảnh giác, suy nghĩ già dặn trước tuổi Hồng chỉ lặng lặng cúi đầu đáp lời: “Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về”.

Thực chất Hồng đã nhìn ra được cái tâm tư của người cô, chẳng phải là muốn gắn kết tình yêu thương giữa Hồng và mẹ, mà đang muốn xoáy sâu vào nỗi đau trong lòng Hồng, cậu bé đã rất tỉnh táo trả lời không, mặc dù “toan” nói có, và tin tưởng chắc chắn rằng mẹ sẽ quay về.

Nhưng không dừng lại ở đó, người cô “giọng vẫn ngọt”, ngọt một cách “kịch” vô cùng: “Sao lại không vào? Mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu!”, câu hỏi với cái giọng nhấn nhá cao vút, đậm chất mỉa mai. Hồng “im lặng cúi đầu”, “lòng càng thắt lại”, mắt “cay cay”, im lặng ở đây không phải là sự trầm ngâm suy nghĩ một cách đơn giản mà là Hồng đã cảm nhận thấy sự buồn tủi đang bắt đầu len lỏi vào trong lòng mình, sinh sôi nảy nở, bén rễ như thứ cỏ dại mọc hoang.

Sự giả dối nham hiểm của người cô càng trở nên rõ ràng khi thấy người cháu của mình đang buồn tủi mà vẫn đon đả “vỗ vai”, “cười” nói rằng: “Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ”. Giọng điệu giễu nhại cười cợt trên nỗi đau của cháu mình và nỗi khổ của mẹ Hồng.

Tâm trạng của Hồng không dừng lại ở sự buồn tủi nữa mà được bộc lộ ra ngoài bằng những chi tiết rất chân thực, nước mắt Hồng “ròng ròng rớt xuống”, “chan hòa đầm đìa”, và cậu “cười dài trong tiếng khóc” hỏi rằng: “Sao cô biết mợ con có con?”, từng câu từng chữ như vặn xoắn tâm can cả Hồng và người đọc, tiếng cười ấy đầy chua chát đau khổ, Hồng chỉ biết đáp lại người cô bằng câu hỏi đầy bẽn lẽn, nghi hoặc.

Chẳng thể tưởng được người cô ruột khi thấy cháu mình đau đớn, mà lại vẫn “tươi cười kể các chuyện”, với giọng điệu giễu cợt, lấy Hồng và mẹ Hồng ra làm thú vui cho cái trò đùa dai quái ác của mình, để chứng kiến cái cảnh Hồng “nghẹn ứ khóc không ra tiếng”, thì mới hả dạ. Rồi lại làm bộ làm tịch đổi giọng, “nghiêm nghị”, căn dặn Hồng hỏi địa chỉ của mẹ từ chỗ người đàn bà họ nội xa, xúi Hồng viết thư gọi mẹ về. Hồng không khóc nữa, chỉ lặng lẽ im lặng, bỏ ngoài tai những lời mà người cô xấu bụng đang gieo rắc bên tai.

Xuyên suốt cả cuộc đối thoại là một cuộc chiến không cân sức, một bên tấn công bằng đòn ác hiểm, một bên tìm cách chống đỡ, tuy quyết liệt nhưng lộ rõ vẻ đáng thương, tội nghiệp khi phải hứng chịu “đòn roi tinh thần” từ người cô. Mặc dù Hồng hoàn toàn lép vế trong cuộc đối thoại, nhưng tình cảm của Hồng chưa bao giờ bị tác động, Hồng chỉ tin và yêu mẹ, ngoài ra không ai có thể thay thế.

Tình yêu ấy lớn đến nỗi Hồng tưởng “Giá những thứ cổ tục đã đày đoạn mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Lời độc thoại nội tâm của cậu đã bộc lộ rõ tình cảm thắm thiết, keo sơn mà cậu dành cho người mẹ số khổ, Hồng chẳng mảy may để ý mẹ có con ngoài giá thú với người khác, Hồng chỉ thương mẹ và “căm tức” sao mẹ lại sợ những thành kiến xã hội mà xa rời anh em Hồng.

Để thấy được rằng dù mới chỉ 13 tuổi, nhưng Hồng đã có những suy nghĩ rất sâu sắc, đặc biệt là tấm lòng rộng mở, chan hòa yêu thương, lòng bao dung cho người mẹ “non một năm ròng” không có một lá thư, một đồng quà. Tình cảm ấy không được phép “bị những những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…”, và có lẽ người Hồng đang cực kỳ căm ghét phải là người cô độc ác kia mới đúng.

Vào ngày giỗ đầu cha Hồng, cuối cùng mẹ Hồng cũng xuất hiện, trong mắt Hồng mẹ vừa gần gũi vừa thân quen, vừa mới lạ như thiên thần trong truyện cổ tích, “không còm cõi xơ xác quá” như lời cô, “gương mặt mẹ tươi sáng, với đôi mắt trong và nước da mịn”, “khuôn miệng xinh xắn”, “thơm tho lạ thường”.

Hẳn là vì xa cách quá lâu, nỗi nhớ cùng tình yêu thương trong lòng Hồng khiến cậu cảm thấy mẹ mình xinh đẹp đến lạ thường, thấy được sự ấm áp của tình thân tình mẫu tử, thiêng liêng. Lúc này đây Hồng “không mảy may nghĩ ngợi gì hết”, tình mẫu tử đã chiến thắng tất cả, gạt đi mọi lời nói chua cay, thâm độc của người cô, làm Hồng có thêm tự tin, phấn khích bởi ý niệm được gặp mẹ đã trở thành hiện thực.

Về nghệ thuật, đoạn trích với tình huống truyện độc đáo, cao trào cảm xúc. Ở phần đầu nhân vật Hồng bị đẩy vào nỗi ấm ức, buồn tủi đến nghẹn lòng, thì đến phần thứ hai nhân vật lại vỡ òa trong cảm xúc hạnh phúc vì nỗi ấm ức nay đã được giải tỏa. Tình huống truyện độc đáo này đã góp phần làm nổi bật nên tình yêu thương mẹ sâu sắc của nhân vật.

Một đặc điểm nghệ thuật nữa là nhân vật được thể hiện sinh động qua ngôn ngữ và cử chỉ, người cô thì thâm hiểm, xảo trá, lời nói rất “kịch”, còn cậu bé Hồng thì nhạy cảm, thận trọng mà sâu sắc. Ngôn ngữ kể chuyện giàu cảm xúc chân thực, đặc điểm của thể loại hồi ký, cảm xúc là cả quá trình trải nghiệm mới có được.

Tác phẩm đã mang lại những giá trị nhân văn thấm đượm tình cảm gia đình, đặc biệt là tình mẫu tử thiêng liêng sâu sắc giữa cậu bé Hồng và người mẹ bất hạnh. Đoạn trích Trong lòng mẹ cũng giúp chúng ta một bài học về bản lĩnh sống kiên cường, mạnh mẽ, lòng kiên định, suy nghĩ sâu sắc, phân biệt được phải trái, tốt xấu thông qua nhân vật Hồng trong tác phẩm.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Phân Tích Tức Nước Vỡ Bờ 🍀 13 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Nhẹ nhàng mà sâu lắng, văn Nguyên Hồng từ từ rót vào trái tim người đọc như dòng nước sống mát lành. Nguyên Hồng là thế, tự kể về cuộc đời của mình, để từ đó cảm xúc được đẩy lên một cách chân thực nhất. Ta sẽ tìm được dấu ấn ấy trong đoạn trích “Trong lòng mẹ” Tập hồi kí “Những ngày thơ ấu” được viết năm 1938, và xuất bản năm 1940. Đó là câu chuyện về cậu bé Hồng, hay cũng của chính nhà văn.

Hồng là cậu bé phải chịu cảnh éo le, đáng thương: là kết quả của một cuộc hôn nhân tan vỡ, bố mất, mẹ bỏ đi nơi xứ người, Hồng sống trong cảnh lạnh lùng của gia đình bên nội. Em bị tiêm vào đầu những hủ tục, định kiến về chính người mẹ của em, để em đạp đổ đi tình yêu thương của mình. Ở chương IV- “Trong lòng mẹ”, ta có thể thấy sự cay nghiệt ấy qua lời nói của bà cô. Hoàn cảnh ấy làm em vừa đáng thương lại vừa đáng quý, vì em vẫn giữ vẹn nguyên tình thương dành cho mẹ.

Ở đoạn trích “Trong lòng mẹ”, ta nhận ra được nhiều điều: sự cay nghiệt của những định kiến một thời, sự tội nghiệp của những em bé, của những người phụ nữ sống trong thời đó. Trên hết, là một tình yêu thương của tâm hồn trẻ thơ trong trẻo. Một đoạn trích thật giàu giá trị biết chừng nào!Trước hết, ta tìm hiểu về cuộc nói chuyện giữa Hồng và người cô ruột. Không khó để ta nhận ra rằng, bà cô ấy luôn là người giữ thế chủ động, để liên tục tiêm nhiễm vào đầu đứa cháu những định kiến về mẹ nó.

Mở đầu bằng câu nói: – Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mợ mày không? Tưởng như là ý tốt đấy, nhưng trong câu nói lại chứa đầy giọng nham hiểm, và trên khuôn mặt là nụ cười rất kịch. Người cô ấy như muốn đào sâu thêm vào nỗi đau còn đang hở vết của Hồng, để đứa cháu phải đau khổ, phải dằn vặt.

Nguyên Hồng gọi đó là “những rắp tâm tanh bẩn” của xã hội phong kiến một thời. Bà cô ấy luôn cố tình nhắc đến những chứ như “phát tài”, “em bé” để Hồng căm ghét mẹ nó, thấy mẹ nó là kẻ đáng khinh. Miệng lưỡi ấy, thật thâm độc, thật đáng khinh biết nhường nào. Bà cô chính là đại diện cho một xã hội phong kiến cổ hũ, bóp nghẹt lấy thứ hạnh phúc ít ỏi của con người ta mà Nguyên Hồng viết về tuổi thơ của mình, cũng là để lên án một chế độ.

Nhưng trong cuộc nói chuyện ấy, ta vẫn thấy một bé Hồng luôn giữ trọn một tín ngưỡng về người mẹ trong tâm hồn mình. Hồng nhanh chóng nhận ra ý định thâm độc của người cô, nên chỉ cúi đầu không đáp. Em căm ghét cái xã hội, cái hủ túc ấy đến nỗi: “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ lấy ngay mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi.” Vì yêu thương mẹ, vì tủi hờn mà trong tâm hồn em đã nuôi sẵn sự căm túc, hận thù về xã hội đã thối nát này.

Những giọt nước mắt của Hồng rơi, khiến ta cũng không khỏi rơi lệ trước nỗi đau của em. Nghe những từ “em bé”, “phát tài”, hay về hoàn cảnh thực tại của mẹ, em không hề mảy may ý định trách mẹ. Em thương mẹ vì phải chạy trốn, vì phải xa con, xa quê hương để sống một cuộc đời khác.

Tình yêu ấy thật lớn quá, nó giúp em đứng vững trước những định kiến cay nghiệt của người cô. Ở phần thứ hai của đoạn trích, là cảnh Hồng gặp lại mẹ, ta mới chợt nhận ra tình mẫu tử thiêng liêng đến chừng nào. Thoáng thấy bóng mẹ, em vội vã đuổi theo, như một người bộ hành trên sa mạc gặp được nguồn nước. Hình ảnh so sánh đã cho thấy rằng, người mẹ quan trọng với em đến nhường nào.

Khi đã được sà vào lòng mẹ, những cảm xúc nguyên thuỷ nhất, trong trẻo nhất nổi dậy giữa hai mẹ con. Nước mắt em rơi lã chã, là nước mắt của tủi nhục, của nhớ nhung, và của cả niềm hạnh phúc. Em dịu đầu vào lòng mẹ, để mẹ xoa tóc xoa đầu, âu yếm vuốt ve. Em nhớ về những ngày xưa được áp mặt vào bầu sữa nóng, được mẹ đưa tay gãi rôm,…

Người mẹ khi ấy cũng không khỏi xúc động, sụt sùi nước mắt, lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho em. Người đàn bà dám chạy trốn định kiến để tìm hạnh phúc cho riêng mình, dẫu phải chịu những khó khăn tủi nhục cũng không quay về chốn ấy. Nay gặp lại con, người mẹ vẫn xúc động không nói nên lời. Giữa mẹ và con giờ đây, không còn những lời nói của người cô, những định kiến cay nghiệt, chỉ còn tình mẫu tử trọn vẹn thiêng liêng.Qua đoạn trích ấy, ta hiểu thêm được nỗi lòng của Nguyên Hồng.

Một con người với tuổi thơ đầy bất hạnh khổ đau, đã gửi gắm nỗi đau ấy vào trong trang viết. Bởi vậy mà đoạn trích hiện lên thật chân thực, làm rơi nước mắt của độc giả. Để làm được điều ấy, còn phụ thuộc vào tài năng của nhà văn. Ông phân tích được tâm lí nhân vật một cách sắc sảo, nhân vật hiện lên sống động như con người thực. Chính điều ấy làm cho tác phẩm sống mãi đến ngày hôm nay.

“Trong lòng mẹ” nói riêng và “Những ngày thơ ấu” nói chung, sẽ mãi còn ngân lên với đời những khúc thánh ca về tình yêu thương, tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt như vậy!

Đón đọc tuyển tập 🌟 Phân Tích Nhân Vật Chị Dậu 🌟 14 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Mỗi lần ngồi lật dở và đọc từng trang “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng tôi không đọc bằng mắt nữa mà để cho trái tim tự đọc, tự cảm nhận và tự rung động. Văn của ông rất sâu, rất sắc bởi nó cứa vào lòng người niềm thương cảm chân thành nhất. Đoạn “Trong lòng mẹ” trích trong “Những ngày thơ ấu” có lẽ là trích đoạn có sức lay động và ám ảnh người đọc nhất về tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt. Bằng ngòi bút tinh tế và tình cảm sâu đậm Nguyên Hồng đã dẫn người đọc khám phá văn chương của mình bằng trái tim.

Nguyên Hồng không thêu dệt một câu chuyện bi lụy ở đâu đó quanh chúng ta mà ông trải lòng lên trang giấy bằng chính cuộc đời, bằng chính tuổi thơ cùng cực, cay đắng và nước mắt của mình. “Trong lòng mẹ” nằm ở chương IV của “Những ngày thơ ấu” kể về cuộc sống cơ cực, thiếu thốn tình yêu thương của bé Hồng. Hằng ngày Hồng chịu sự ghẻ lạnh, đay nghiến và mỉa mai của người cô bên nhà “thầy”. Bên cạnh đó còn là hình ảnh người mẹ nghèo tiều tụy với một tình yêu thương con vô bờ bến.

Bé Hồng sinh ra là kết quả của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Bố là một kẻ nghiện ngập, chết mòn trên bàn thuốc phiện để lại cho mẹ con Hồng một cuộc sống tù túng cực độ cùng những cay nghiệt bên nhà nội, cuối cùng mẹ Hồng phải tha hương cầu thực, bỏ lại Hồng một mình sống với bà cô.

Nguyên Hồng mở đầu bằng cách kể nhẹ nhàng, nhiều chua xót “Tôi đã bỏ cái khăn tang bằng vải màn ở trên đầu đi rồi. Không phải đoạn tang thầy tôi mà vì tôi mới mua được cái mũ trắng và quấn băng đen. Gần đến ngày giỗ đầu thầy tôi, mẹ tôi ở Thanh Hóa vẫn chưa về”.

Một chuỗi tuổi thơ cay đắng mở đầu bằng “chiếc khăn tang” trắng, gợi lên trong lòng người đọc nhiều chua xót. Bé Hồng vẫn luôn mong ngóng người mẹ phương xa trở về trong ngày dỗ đầu của thầy. Tác giả được biết mẹ đang “bán bóng đèn và bán vàng hương ở chợ”, mẹ làm tất cả để mưu sinh để kiếm sống và để trở về.

Bé Hồng sống với bà cô cay nghiệt, ghẻ lạnh, luôn dùng những lời độc địa nhất để kể về mẹ của bé, để bôi thêm muối vào tâm hồn đứa trẻ thơ đang quá thiếu thốn tình mẫu tử. Bà cô là hiện thân của một xã hội phong kiến độc ác, nhiều hủ tục, nhiều cay đắng và bé hồng là hiện thân của những người ở dưới đáy cùng xã hội, chịu đựng sự chà đạp và bất công nhất.

Trong một lần bà cô ấy gọi Hồng đến và nói “Mày có muốn vào Thanh hóa thăm mẹ mày không”, một câu hỏi chứa đầy hàm ý xấu khiến trái tim đứa bé ấy toan run rẩy và toan gật đầu đồng ý.

Người đọc nhận ra một sự đấu tranh nội tâm đầy mâu thuẫn và kiềm chế đến tột cùng “tưởng đến vẻ mặt rầu rầu và sự hiền từ của mẹ tôi, và nghĩ đến cảnh thiếu thốn một tình thương yêu ấp ủ từng phen làm tôi rơi nước mắt, tôi toan trả lời có. Nhưng, nhận ra những ý nghĩ cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch của cô tôi kia, tôi cúi đầu không đáp.

Vì tôi biết rõ, nhắc đến mẹ tôi, cô tôi chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi, một người đàn bà đã bị cái tội là góa chồng, nợ nần cùng túng quá, phải bỏ con cái đi tha hương cầu thực”. Lời lẽ ấy của bé Hồng như một mũi dao đâm thẳng vào tim người đọc, bởi suy nghĩ của một đứa bé sống trong cảnh bị đọa đầy lại có thể sâu sắc như vậy. Bé Hồng đã phải trải qua một cuộc sống nhiều đắng cay nên buộc phải lớn, buộc phải trưởng thành.

Tâm lý của bé Hồng trong đoạn hội thoại này chất chứa yêu thương đối với người mẹ nghèo đáng thương. Nỗi khổ của mẹ, những hủ tục phong kiến ấy đã đè bẹp một người phụ nữ góa chồng, đẩy bà ấy đến bước đường cùng. Bé càng thương mẹ nhiều hơn, chỉ mong được gặp mẹ là đủ. Bằng cách xây dựng tâm lý cực kỳ tinh tế, Nguyên Hồng đã khiến người đọc không kìm được cảm xúc.

Bởi vậy khi nghĩ về mẹ “tôi chỉ im lặng, cúi đầu, khóa mắt cay cay”, nén cảm xúc vào bên trong, không để nó bật ra trước mắt bà cô độc ác này, vì thể nào nếu khóc bà cô sẽ càng mỉa mai và châm biếm hơn.

Khi bà cô nhắc đến từ “em bé”, cô bảo rằng mẹ đã phải lén lút sinh em bé sau khi chưa đoạn tang chồng, cô bảo rằng mẹ là người đàn bà xấu xa. Nhưng bé Hồng bỏ mặc ngoài tai những lời nói cay nghiệt đó, vẫn yêu và thương mẹ vô cùng.

Hình ảnh người mẹ qua lời kể bà cô khiến bé hồng nghẹn đắng, chua chát “Mẹ tôi ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng, người gầy rạc đi, thấy thế bà ta thương tình gọi hỏi xem sao thì mẹ tôi vội quay đi, lấy nón che”. Đặc biệt ở suy nghĩ tiếp theo, tác giả đã diễn tả cực kỳ thành công tâm lý của nhân vật “giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẫu gỗ, tôi quyết vồ lấy ngay mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi”.

Sự kìm nén cảm xúc bấy lâu nay khiến cho một đứa bé không thể chịu đựng được, đành phải để nó thoát ra bằng suy nghĩ đanh thép và cứng rắn như vậy. Ngôn ngữ gần gũi, đơn giản nhưng có góc cạnh sắc nhọn đã lột tả hết tâm lý của một đứa trẻ bị kìm kẹp.

Có thể nói đoạn trích này tác giả đã diễn tả cực kỳ thành công tâm lý nhân vật bé Hồng bằng hàng loạt động từ mạnh, ngôn ngữ sắc cạnh, phép đối lập đắc địa nhất. Đến phần thứ hai, giọng văn trở nên dịu nhẹ đi vì nó tái hiện lại cảnh gặp gỡ đầy cảm động giữ mẹ và bé Hồng sau bao nhiêu xa cách. Đây chính là mạch cảm xúc chính, là cao trào thắt nút tình cảm được mở bung ra để yêu thương ùa về.

Chỉ một tiếng gọi “Mợ! Mợ! Mợ ơi” khi thấy một người đàn bà giống mẹ mà tình yêu trong bé Hồng đã chực trào ra. Yêu thương từ lâu được kìm nén giờ đây có dịp được bật ra thành tiếng. Tiếng gọi của bé Hồng lúc ấy khiến người đọc đứt từng khúc ruột, đứt từng mạch cảm xúc.

Sự liên tưởng của bé Hồng khi tưởng tượng ra viễn cảnh nếu đó không phải là mẹ thật hay, thật thú vị “cái lầm đó không những làm tôi thẹn mà còn tủi cực nữa, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc. Xe chạy chậm chậm”. Phải thật sâu, thật tinh tế thì tác giả mới có thể liên tưởng phong phú và đúng đắn như vậy. Có lẽ vì đợi chờ yêu thương quá lâu, quá nhiều nên cái lầm lẫn phút chốc có thể khiến cho người ta rơi vào tuyệt vọng.

Khoảnh khắc bé Hồng được ôm vào lòng mẹ thật cảm động. Tác giả đã dùng những lời lẽ đẹp nhất, ngọt ngào nhất để diễn tả lại khoảnh khắc hiếm hoi, cảm động đó “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người miệng, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trên trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Câu văn này đã khiến không ít người run rẩy vì thương yêu vô bờ bến của tình mẫu tử.

Cuộc gặp gỡ định mệnh, và tình cảm cũng trở nên sâu và nặng hơn. Có thể nói người đọc đến đây đã thở phào nhẹ nhõm vì tình mẫu tử cuối cùng cũng được đền đáp. Không có sức mạnh nào hơn sức mạnh của tình mẫu tử, không có ai ngăn cản được mẹ và con đoàn tụ.

Bằng cách viết nhẹ nhàng và sâu lắng, cách diễn tả tâm lý cực kỳ sâu sắc và hơn hết bằng tình yêu thương vô bờ bến Nguyên Hồng đã khiến người đọc “ôm tim mình” mà khóc. “Trong lòng mẹ” luôn để lại trong lòng người những rung động ngọt ngào và chân thành nhất.

Tiếp tục tham khảo 💧 Phân Tích Nhân Vật Cai Lệ Trong Tức Nước Vỡ Bờ 💧 9 Mẫu Đặc Sắc

Nguyên Hồng sinh năm 1918, mất năm 1982, quê gốc ở thành phố Nam Định. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ông sống chủ yếu ở Hải Phòng, trong một xóm lao động nhỏ nên được tận mắt chứng kiến những cảnh đời cơ cực. Nguyên Hồng là nhà văn của lớp người “dưới đáy” xã hội.

Viết về thế giới nhân vật ấy, ông thường bày tỏ niềm yêu thương sâu sắc và thái độ trân trọng những nét đáng quý trong phẩm chất của họ. Văn xuôi Nguyên Hồng giàu chất trữ tình. Đó là tiếng nói chân thành của một trái tim nhạy cảm trước nỗi đau và niềm hạnh phúc bình dị của con người.

Những ngày thơ ấu là tập hổi kí viết về tuổi thơ bất hạnh của chính nhà văn. Tác phẩm gồm 9 chương, lần lượt đăng trên báo từ năm 1938 và được in thành sách năm 1940. Trong lòng mẹ là chương 4. Bằng lời văn chân thực và giàu cảm xúc, tác giả đã kể lại nỗi cay đắng tủi cực về tình yêu thương cháy bỏng đối với mẹ của đứa con sớm mồ côi cha.

Thông qua cảnh ngộ éo le và tâm sự đau khổ của chú bé Hồng, tác giả còn cho ta thấy bộ mặt vô cảm lạnh lùng của loại người nhỏ nhen, đố kị đến mức độc ác trong xã hội phong kiến tư sản chỉ trọng đồng tiền. Những thành kiến cổ hủ của đám thị dân tiểu tư sản… đã cố tình cắt đứt tình mẫu tử thiêng liêng.

Đoạn trích này có thể chia làm hai phần. Phần 1 là cuộc đối thoại giữa bà cô cay độc và chú bé Hồng. Ý nghĩ, cảm xúc của chú bé về người mẹ đáng thương. Phần 2 là cuộc gặp gỡ bất ngờ với mẹ và cảm giác vui sướng cực điểm của chú bé Hồng khi được ngồi trong lòng mẹ.

Chú bé Hồng là kết quả của một cuộc hôn nhân gượng ép, không có tình yêu. Người cha lớn tuổi và ốm yếu quanh năm lặng lẽ u uất bên bàn đèn thuốc phiện. Người mẹ trẻ trung, xinh đẹp luôn khao khát yêu thương song đành phải chôn vùi tuổi xuân bên ông chồng nghiện ngập. Gia đình bé Hồng lúc đầu sung túc, đầy đủ về vật chất nhưng lạnh lẽo, thiếu vắng tiếng nói, tiếng cười.

Rồi người cha chết vì bệnh. Người mẹ không chịu nổi sự o ép khắc nghiệt của nhà chồng nên đành bỏ lại con thơ, dứt áo ra đi. Để Hồng phải sống với bà cô nghiệt ngã, thâm hiểm. Như mọi đứa trẻ khác, bé yêu mẹ, thèm được ở bên mẹ nhưng cố giấu kín điều đó trong lòng, chỉ thỉnh thoảng mới hé lộ ra. Vì thế, lòng thương yêu mẹ của bé Hồng lại càng da diết.

Mở đầu đoạn trích, qua giọng kể mộc mạc, tự nhiên, tác giả giúp người đọc hình dung ra cảnh ngộ thương tâm của bé Hồng: Tôi đã bỏ cái khăn tang bằng vải màn ở trên đầu đi rồi. Không phải đoạn tang thầy tồi mà vì tồi mới mua được cái mũ trắng và quấn băng đen. Tiếp theo, nhà văn kể về thời gian xảy ra câu chuyện và hoàn cảnh sống của người mẹ tội nghiệp:

Gần đến ngày giỗ đầu thầy tôi, mẹ tôi ở Thanh Hóa vẫn chưa về. Trong đó nghe đâu mẹ tôi đi bán bóng đèn và những phiên chợ chỉnh còn bán cả vàng hương nữa. Tôi nói “nghe đâu” vì tôi thấy người ta bắn tin rằng mẹ và em tôi xoay ra sống bằng cách đó.

Câu chuyện đã được khơi nguồn. Nhân vật bà cô xuất hiện và tâm địa độc ác của bà ta càng về sau càng lộ rõ. Bà ta cố tình nói cho bé Hồng biết cảnh ngộ thảm thương của mẹ cậu để rồi cười cợt, nhạo báng, thoả mãn trên nỗi đau của người khác:

Một hôm, cô tôi gọi tôi đến bên cười hỏi:

-Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không?

Nụ cười giả tạo của bà cô chứa đựng ác ý rõ ràng. Nó như một mũi dao nhọn cố tình xoáy vào trái tim non nớt đang rớm máu của đứa cháu vừa mới mồ côi cha, lại phải chịu cảnh xa lìa mẹ. Lẽ ra, bé Hồng sẽ trả lời rằng muốn vì bé đang thiếu thốn tình mẫu tử, nhưng vốn nhạy cảm, bé lập tức nhận ra những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch của người cô. Vì thế, bé cúi đầu không đáp.

Không thể để tình thương yêu và lòng kính mến mẹ của mình bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến, bé Hồng đã trả lời: Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào mẹ cháu cũng về. Cuộc đối thoại tưởng chừng sẽ chấm dứt sau lời đáp có vẻ bất cần mà thực ra đầy suy nghĩ của đứa cháu nhỏ, nhưng bà cô thâm hiểm nào đã chịu buông tha.

Bà ta hỏi dồn, giọng vẫn ngọt nhạt: Sao lại không vào? Mẹ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu. Cùng với giọng nói cố tình làm ra vẻ tử tế nhưng đầy mỉa mai, châm chọc là hai con mắt long lanh nhìn chằm chặp vào đứa cháu mồ côi. Rõ ràng, bà ta muốn lôi kéo cậu bé Hồng vào một trò chơi độc ác đã toan tính sẵn. Mặc dù chú bé phản ứng bằng cách im lặng cúi đầu và khóe mắt đã cay cay, nhưng bà cô vẫn tiếp tục tấn công.

Từ vẻ mặt đến lời nói, hành động của bà ta đểu toát ra vẻ giả dối và độc ác: Cô tôi liền vỗ vai tôi cười mà nói rằng: Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mẹ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ. Đến đây, bà ta không cần che đậy ác ý nữa mà còn tỏ rõ thái độ giễu cợt và nhục mạ.

Quả là đau đớn khi vết thương lòng của đứa cháu lại bị chính cô ruột của mình săm soi, hành hạ: Hai tiếng “em bé” mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm can tôi như ý cô tôi muốn. Nhân vật bà cô tàn nhẫn đến mức lạnh lùng, vô nhân đạo đối với đứa cháu đáng thương.

Cho đến khi bé Hồng phẫn uất, oà lên khóc nức nở, bà cô vẫn cố tình hành hạ bằng những câu chuyện bịa đặt về hoàn cảnh bi đát của người mẹ nơi đất khách quê người. Đối lập với tâm trạng đau đớn, xót xa như bị gai cào, muối xát của đứa cháu là sự vô cảm đáng sợ của người cô: Cô tôi vẫn cứ tươi cười kể các câu chuyện cho tôi nghe. Tình cảnh túng quẫn, hình dáng gầy guộc, rách rưới của mẹ bé Hồng được bà cô thêu dệt, miêu tả tỉ mỉ với vẻ thích thú rõ ràng.

Cử chỉ vỗ vai, nhìn vào mặt đứa cháu rồi đổi giọng làm ra vẻ nghiêm nghị của bà cô chỉ là sự thay đổi cách thức tấn công. Bà ta tung ra miếng đòn hiểm cuối cùng. Khi thấy đứa cháu tức tưởi, phẫn uất đến cực độ thì bà ta lại giả vờ hạ giọng, tỏ vẻ ngậm ngùi, thương xót người anh đã mất. Đến đây, bản chất độc ác, giả dối, thâm hiểm và trơ trẽn của nhân vật bà cô đã được phơi bày toàn bộ. Tác giả muốn thông qua hình ảnh ấy để tố cáo hạng người tàn nhẫn, coi nhẹ tình máu mủ ruột rà trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ.

Đối lập với ác cảm ghê gớm của bà cô là tình yêu thương mãnh liệt của chú bé Hồng dành cho người mẹ đáng thương. Nhận ra lòng dạ thâm độc của bà cô, bé Hồng càng thêm yêu quý mẹ. Diễn biến tâm trạng bé Hồng được nhà văn miêu tả theo diễn biến câu chuyện giữa hai cô cháu.

Nghe bà cô hỏi, trong kí ức bé Hồng vụt hiện lên vẻ mặt rầu rầu và hiền từ của mẹ. Tất cả họ hàng bên nội có thể ruồng rẫy mẹ, kết tội mẹ, thóa mạ mẹ… nhưng với bé Hồng, mẹ vẫn là người mẹ yêu quý mà bé Hồng ra sức bênh vực và bảo vệ.

Bé Hồng còn nhỏ lắm nên trước những lời kết tội mẹ mình, bé chỉ phản ứng bằng cử chỉ im lặng, cúi đầu mà lòng thắt lại, khóe mắt cay cay. Bé nhận ra ngay những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt của bà cô. Bé không muốn tình thương yêu và lòng kính mến mẹ của mình bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến.

Đến khi mục đích mỉa mai, nhục mạ của bà cô đã phơi bày trắng trợn thì bé không nén nổi uất ức và oà lên khóc: Nước mắt tôi đã ròng ròng rớt xuống hai bên mép rối chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ. Bé khóc vì những lời cạnh khóe độc ác mà bà cô cứ cố ý nhắc đi nhắc lại. Bé khóc vì căm tức những thành kiến bất công của người đời đối với người mẹ tội nghiệp. Bé khóc vì thương xót người mẹ khốn khổ sợ dư luận chê cười nên phải lìa con, tha phương cầu thực và trốn tránh tìm nơi sinh nở.

Hình ảnh cậu bé cười dài trong tiếng khóc thể hiện tâm trạng đau đớn cực điểm:

Nhưng không phải vì thấy mẹ tôi chưa đoạn tang thầy tôi mà đã chửa đẻ với người khác mà tôi có những cảm giác đau đớn ấy. Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở một cách giấu giếm…

Những hình ảnh và động từ trong đoạn văn trên có sức gợi tả, gợi cảm rất lớn. Lúc này, tình thương mẹ của bé Hồng trỗi dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Tình thương ấy đã biến thành sự phản kháng quyết liệt: Cô tồi chưa dứt câu, cổ họng tồi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng. Giá những cổ tục đã đày đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi.

Trong tâm khảm bé Hồng lúc nào cũng in sâu hình bóng mẹ. Một buổi chiều, lúc tan trường, thoáng thấy người ngồi trên xe kéo giống mẹ mình, bé Hồng liền đuổi theo, bối rối gọi. Đó là tiếng gọi bật ra từ trái tỉm thương nhớ mẹ không nguôi của chú bé tội nghiệp.

Tác giả đã miêu tả hàng loạt cử chỉ thể hiện niềm vui sướng của bé Hồng khi gặp mẹ. Vì chạy đuổi theo mẹ mà bé thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi. Đến khi trèo được lên xe với mẹ thì mừng đến nỗi ríu cả chân lại. Mẹ vừa kéo tay, xoa đầu hỏi chuyện thì bé đã òa lên khóc rồi cứ thế nức nở. Tiếng khóc trút bỏ bao nỗi, tủi cực, uất ức trong những ngày xa mẹ. Tiếng khóc sung sướng được gặp lại người mẹ thương yêu. Tiếng khóc của niềm khát khao tột độ tình mẫu tử.

Nước mắt của bé Hồng lúc này khác hẳn nước mắt uất ức, căm giận khi trả lởi bà cô độc ác. Đây là những giọt nước mắt dỗi hờn mà hạnh phúc, tức tưởi mà mãn nguyện.

Cảnh hai mẹ con bé Hồng gặp nhau được tả bằng ngòi bút trữ tình đẫm nước mắt. Nhà văn đã vẽ nên bức tranh bằng ngôn ngữ về một thế giới của tình thương yêu đang bừng nở, hổi sình, tràn đầy những kỉ niệm dịu dàng và ấm áp tình mẫu tử… Cậu bé Hồng như bồng bềnh trôi trong cảm giác vui sướng, rạo rực. Những lời nói cay độc của bà cô, những tủi cực chất chồng trong thời gian xa mẹ đã bị nhấn chìm giữa niềm hạnh phúc đang dâng tràn.

Cảm giác sung sướng cực điểm của đứa con khi được ôm ấp trong lòng mẹ đã được Nguyên Hồng diễn tả bằng cảm hứng say mê cùng những rung động tinh tế lạ thường.

Trong lòng mẹ, bé Hồng nhận ra rằng cảm giác ấm áp thiếu vắng bao lâu nay giờ đây lại mơn man khắp cả da thịt. Đó là những phút giây không thể nào quên của bé Hồng. Bé nhận ra hơi quần áo của mẹ, hơi thở của mẹ lúc đó thơm tho lạ thường. Bé nhận ra gương mặt mẹ vẫn tươi sáng, mắt trong, da mịn, má hồng, vẫn đẹp như thuở nào. Bé cũng nhận ra người mẹ có một êm dịu vô cùng… Tất cả những cảm giác đó, những ý nghĩ đó chỉ có được khi đứa con hết lòng yêu thương mẹ.

Được gặp mẹ là niềm hạnh phúc lớn lao, là niềm vui khôn xiết. Được sà vào lòng mẹ, bé Hồng mừng đến nỗi quên hết mọi thứ trên đời. Những lời thăm hỏi giữa hai mẹ con chỉ còn là một chuỗi âm thanh hạnh phúc, bé Hồng không thể nhớ đó là những câu gì, chuyện gì. Bao trùm tâm trí bé là nỗi vui sướng khôn xiết. Phải thương nhớ mẹ, yêu quý mẹ, thèm khát được gần mẹ đến chừng nào thì bé Hồng mới cảm thấy sung sướng tột đỉnh khi được ôm ấp trong vòng tay dịu hiền của mẹ sau bao ngày xa cách.

Tình thương yêu mẹ là nét nổi bật trong tâm hồn bé Hồng. Tình thương mẹ đã giúp bé Hồng có cách nhìn xác thực về con người và cuộc đời. Cho dù cảnh ngộ có éo le đốn mấy thì tình mẫu tử thiêng liêng vẫn không thể phai mờ. Chúng ta càng thêm thông cảm và quý mến bé Hồng, từ đó càng trân trọng tình mẫu tử.

Trong lòng mẹ là một đoạn văn có tính chất hồi kí mà âm hưởng trữ tình thấm đẫm toàn bộ nội dung câu chuyện. Đặc biệt, đoạn cuối cùng là bài ca cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt. Dòng cảm xúc chân thành như tuôn chảy dưới ngòi bút tài hoa của Nguyên Hồng.

Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn với khả năng miêu tả tâm lí nhân vật tỉnh tế của ông gây ấn tượng mạnh, làm rung động lòng người. Thấm thìa nỗi khổ của những đứa con xa mẹ, chúng ta mới nhận ra rằng hạnh phúc thay những đứa con được sống trong vòng tay yêu thương, bảo bọc của mẹ hiền.

SCR.VN chia sẻ 💕 Cảm Nhận Về Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ 💕 15 Bài Văn Hay

Nguyên Hồng là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam. Ông để lại số lượng tác phẩm tương đối phong phú và giàu giá trị. Ông là nhà văn của những người cùng khổ, đồng cảm và có tình yêu thương tha thiết với họ, bênh vực và bảo vệ những phẩm chất tốt đẹp trong họ. Những ngày thơ ấu là tập hồi kí tiêu biểu cho phong cách Nguyên Hồng: giản dị, chân thành, đậm chất trữ tình.

“Trong lòng mẹ” là chương IV trong cuốn hồi kí “Những ngày thơ ấu” của nhà văn Nguyên Hồng. Nhan đề của đoạn trích trước hết miêu tả một hình ảnh thực tế diễn ra trong câu chuyện. Cậu bé Hồng được gặp lại mẹ sau bao nhiêu ngày xa cách và được ngồi trong lòng mẹ, được mẹ âu yếm và hỏi han đầy yêu thương. Ngoài ra, nhan đề ấy còn mang ý nghĩa biểu tượng, hình ảnh “trong lòng mẹ” tượng trưng cho sự yêu thương của người mẹ.

Đó là nơi đã bảo vệ chúng ta khi còn non nớt. Đó cũng là nơi mang lại cảm giác bình yên và ấm áp nhất cho con người. Mỗi khi trải qua khó khăn trong cuộc đời, con người đều muốn tìm về “trong lòng mẹ” để có được cảm giác an toàn. Từ nhan đề của văn bản, người đọc đã thấy được tình cảm mẫu tử thiêng liêng sâu nặng. Cùng với đó là lòng khao khát được sống trong tình cảm ấy của cậu bé Hồng hay cũng chính là tác giả.

Bé Hồng là kết quả của cuộc hôn nhân không hạnh phúc, cha mất sớm, mẹ vì cùng túng phải đi tha phương cầu thực. Hồng sống trong sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của bà cô. Dù xa mẹ nhưng cậu luôn nhớ và yêu thương mẹ, khao khát có ngày được gặp lại mẹ. Tình yêu thương đó được thể hiện trong cuộc đối thoại với bà cô và khi bất ngờ được gặp lại mẹ. Trong tác phẩm gồm hai nhân vật: bà cô, bé Hồng. Qua ngôn ngữ, cử chỉ và tâm trạng của mỗi nhân vật ta thấy được những nét tính cách tiêu biểu, cảm xúc của các nhân vật.

Trước hết bà cô là một người thâm hiểm, độc ác. Trước tình cảnh của Hồng, bà ta “Cười hỏi: Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không?”. Là cười hỏi chứ không phải vì lo lắng, quan tâm mà hỏi, bà ta là kẻ bên ngoài ngọt ngào, yêu thương mà bên trong thực chất là kẻ độc ác, thâm hiểm. Không chỉ vậy từng hành động, lời nói của bà ta còn mang ý xúc phạm đến mẹ bé Hồng, đặc biệt hai chữ “em bé” kéo dài thể hiện rõ sự độc ác, tính toán của bà ta.

Trước sự kháng cự yếu ớt của bé Hồng, bà cô tiếp tục cười rồi kể chuyện mẹ Hồng gầy gò, ốm yếu, chật vật với cuộc sống ra sao. Những lời lẽ thâm độc này nhằm làm bé Hồng tổn thương, khiến Hồng oán hận mẹ. Bé Hồng càng đau đớn bao nhiêu thì bà cô càng sung sướng thỏa mãn bấy nhiêu. Bà ta là kẻ độc ác, tàn nhẫn, thích thú khi nhìn người khác đau khổ. Với hình thức đối thoại theo trình tự tăng tiến, người đọc ngày càng thấy rõ sự độc ác của bà cô.

Khi nỗi đau của bé Hồng bị đẩy lên cùng cực, bà cô mới “ngậm ngùi”: “Mấy lại rằm tháng tám này là giỗ đầu cậu mày, mợ mày về dù sao cũng đỡ tủi cho cậu mày, và mày cũng còn phải có họ, có hàng, người ta hỏi đến chứ”, sự ngậm ngùi lại càng cho thấy rõ hơn bản chất trơ trẽn, xảo trá của mụ. Bà cô là kẻ độc ác, thâm hiểm, đại diện cho những định kiến hẹp hòi, tàn nhẫn với người phụ nữ trong xã hội cũ.

Bé Hồng là nhân vật chính của đoạn trích, thể hiện tình yêu thương mẹ mãnh liệt. Trước hết là trong cuộc đối thoại với bà cô. Khi nghe bà cô hỏi, là một đứa bé nhạy cảm Hồng nhận ra ngay ý cay độc sau giọng nói và nét mặt “rất kịch” của bà cô. Cậu thầm nghĩ về mẹ và không đáp lại lời bà cô, trong lòng cậu vẫn có một niềm tin mãnh liệt chắc chắn thế nào mẹ cũng về, cậu trả lời bà cô mà lòng thắt lại, khóe mắt đã bắt đầu cay cay.

Rồi liên tiếp bị những lời lẽ bà cô dồn ép, nước mắt cậu chảy ròng ròng, vì thương mẹ, cũng vì đau đớn khi mẹ đã giấu mình sinh em bé. Hai chữ “em bé” như bóp nghẹt trái tim nhỏ bé, non nớt của cậu. Bé Hồng cười dài trong tiếng khóc. Giận dữ vì những hủ tục đã đầy đọa mẹ mình và ước chúng là những vật hữu hình như đầu mẩu gỗ, hay cục thủy tinh mà nhai, mà cắn cho nát vụn mới thôi.

Cậu bé đau đớn, xót xa trước những lời gièm pha, xúc xiểm với người mẹ bất hạnh của bà cô. Hồng là một người mang trái tim nhân hậu, có niềm tin và tình yêu thương mẹ sâu sắc.

Tình yêu đó được thể hiện rõ hơn khi Hồng bất ngờ gặp lại mẹ. Bỗng thấy bóng dáng quen thuộc, cậu vội vàng chạy theo: gọi bối rối, thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi, ríu cả chân lại. Hàng loạt động từ đã cho thấy khao khát gặp mẹ mãnh liệt của Hồng. Khi biết đó chính là mẹ, cậu bé òa khóc nức nở.

Đây là những giọt nước mắt bị dồn nén bấy lâu nay, là những giọt nước mắt hạnh phúc chứ không phải những giọt nước mắt phẫn uất, đau đớn tủi hổ: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi, thì tôi òa lên khóc rồi cứ thế nức nở”. Cậu nằm trong lòng mẹ và cảm nhận hơi ấm từ mẹ sang mình.

Hình ảnh mẹ trong cảm nhận của Hồng thật gần gũi, thân quen lại vừa có gì đó mới mẻ, lạ lẫm: “vạt áo nâu”, “gương mặt tươi sáng với đôi mắt trong” vẫn thật ấm áp, quen thuộc. Nhưng từ hơi quần áo đến hơi thở của mẹ đều “thơm tho lạ thường”.

Những cảm giác của tình mẫu tử bao lâu nay mất đi thì bỗng lại mơn man khắp da thịt: “để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Lúc này chỉ còn tình mẹ con, tình mẫu tử thiêng liêng tồn tại còn bao nhiêu lời nói, ý nghĩ cay độc của bà cô đều tan biến hết thảy.

Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tài tình qua việc xây dựng tình huống, ngôn ngữ và cử chỉ của nhân vật. Nghệ thuật tăng tiến độc đáo, sự độc ác của bà cô ngày càng tăng lên thì cùng với đó tình yêu thương, sự bảo vệ của bé Hồng với mẹ cũng ngày một nhiều hơn. Những hình ảnh so sánh độc đáo, thể hiện được cung bậc cảm xúc, tình yêu thương mẹ mãnh liệt của bé Hồng. Câu chuyện đậm chất trữ tình được thể hiện rõ qua tình huống, nội dung và ngôn ngữ kể chuyện giàu cảm xúc, đầy chất thơ.

Chỉ với một phần trích ngắn ngủi nhưng cũng đủ để người đọc cảm nhận được tình cảm mẫu tử thiêng liêng, sâu sắc mà bé Hồng dành cho mẹ. Không chỉ vậy tác phẩm còn thể hiện niềm cảm thông, lên án những hủ tục phong kiến đã đẩy người phụ nữ vào con đường bất hạnh, cùng cực.

Khám phá thêm 💕 Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Chị Dậu Qua Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ 💕 15 Mẫu Hay

Được mệnh danh là nhà văn của những người cùng khổ, Nguyên Hồng luôn hướng ngòi bút của mình tới cuộc sống của những người cùng khổ mà ông nhất mực yêu thương, quý mến. Đoạn trích “Trong lòng mẹ” trích từ tập hồi kí “Những ngày ấu thơ” kể về những năm tháng tuổi thơ cơ cực, cay đắng của chính tác giả là một trong số những tác phẩm như thế. Một trong số yếu tố góp phần vào thành công của đoạn trích “Trong lòng mẹ” chính là việc sử dụng những phép so sánh độc đáo, đặc sắc, giàu giá trị.

Trước hết, so sánh độc đáo được sử dụng trong đoạn trích chính là phép so sánh “Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Có thể dễ dàng nhận thấy phép so sánh là một câu văn dài, bao gồm nhiều vế, kết hợp với việc sử dụng hàng loạt các động từ mạnh được sử dụng theo mức độ tăng tiến “cắn”, “nhai”, “nghiến” đã diễn tả một cách sâu sắc sự căm phẫn đến tột cùng của bé Hồng.

Thêm vào đó, phép so sánh với cấu trúc hai vế, một vế là một vật trừu tượng, vô hình với một bên là những vật hữu hình, cụ thể có thể cầm, nắm và cảm nhận. Với những nét độc đáo đó, biện pháp so sánh này không chỉ diễn tả tâm trạng căm phẫn, tức giận của bé Hồng mà ẩn sau đó chính là tình yêu thương mẹ sâu sắc của bé Hồng.

Thêm vào đó, một phép so sánh để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc đó chính là “Nếu người quay lại là người khác, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc”. Đây là một phép so sánh mang ý nghĩa giả định, đầy mới lạ nhưng có giá trị to lớn trong việc thể hiện tâm trạng của nhân vật bé Hồng từ sự hi vọng đến sự tuyệt vọng đến đỉnh điểm.

Bóng dáng, hình ảnh của người mẹ khi xuất hiện trước cặp mắt và nỗi niềm chờ mong trông đợi, mỏi mòn của đứa con cũng giống như dòng suối trong suốt chảy dưới bóng râm đang dần xuất hiện trước con mắt gần rạn nứt, tuyệt vọng của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc khô hạn và nóng nực.

Và để rồi, với việc sử dụng phép so sánh này tác giả đã diễn tả một cách chân thực và rõ nét nỗi khao khát, chờ mong được gặp mẹ, khao khát tình mẹ đến tột cùng trong nỗi lòng của đứa trẻ mồ côi, đã suốt một thời gian dài không được gặp mẹ, không được sà vào vòng tay yêu thương, ấm áp của mẹ. Nỗi khao khát ấy lớn đến mức nếu như người phụ nữ kia không phải là mẹ thì đứa bé tội nghiệp ấy sẽ thất vọng biết bao nhiêu, rồi nó sẽ ngã quỵ xuống như những “người bộ hành ngã gục giữa sa mạc khô hạn và nóng nực”.

Tóm lại, đoạn trích “Trong lòng mẹ” đã sử dụng nhiều biện pháp so sánh độc đáo, góp phần thể hiện rõ những nét tâm trạng của nhân vật bé Hồng trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau. Đồng thời qua đó cũng giúp người đọc thấy được tài năng của nhà văn Nguyên Hồng.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Phân Tích Tôi Đi Học ☀️ 15 Bài Văn Mẫu Ngắn Hay Nhất

Tình cảm gia đình, đặc biệt là tình mẫu tử lại có ý nghĩa thiêng liêng, cao cả hơn bao giờ hết. Nói đến tình mẹ, con người ta thường nhắc đến một thứ tình cảm rất đỗi dung dị mà lớn lao vô cùng. Mẹ, là nguồn sống soi sáng cho con đêm tối. Xuất phát từ điều này, đã có rất nhiều tác giả có những tác phẩm vô cùng ý nghĩa về tình mẫu tử. Một trong số đó là Nguyên Hồng với tác phẩm “Trong lòng mẹ”, đọc đoạn trích ấy, người đọc không thể không xót xa, xúc động trước tình cảm cao cả, thiêng liêng vô cùng của chú bé Hồng với mẹ.

Chú bé Hồng có hoàn cảnh sống vô cùng khổ cực. Ngay từ khi còn nhỏ, cậu đã phải sống trong sự ghẻ lạnh của mọi người xung quanh. Cha mất sớm, mẹ cậu vì thế bỏ đi tha hương cầu thực. Họ hàng đều quay lưng lại với cậu bé khốn khổ ấy. Những thiếu thốn về tình cảm, tinh thần khiến cậu bé Hồng không có một tuổi thơ ý nghĩa và trọn vẹn như những bè bạn cùng trang lứa. Điều đau đớn hơn khi cậu phải lắng nghe những lời bàn tán không hay về mẹ của mình.

Trong tâm hồn của một cậu bé, hình ảnh mẹ luôn là một hình ảnh vô cùng đẹp, với tất cả những hình dung đẹp đẽ nhất dành cho người mẹ của mình, cậu bé Hồng luôn tin mẹ mình là một người mẹ tốt, một người mẹ luôn yêu thương cậu. Cậu không muốn ai nghĩ xấu về mẹ của mình “…đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến…”Chính vì thế, bé Hồng quyết tâm bảo vệ mẹ đến cùng trước những lời lẽ cay nghiệt của bà cô.

Sự độc ác, cay nghiệt của bà cô còn thể hiện rõ khi rắp tâm lừa gạt đứa cháu bé bỏng về việc vào thăm mẹ. Hồng cứ ngỡ những lời người cô nói là thật, Hồng mơ ước mong muốn được gặp mẹ biết bao nhiêu, nhưng đắng cay thay, đằng sau lời nói ấy là sự lừa dối tráo trở nhằm làm trò mua vui cho bà cô. Trong thâm tâm Hồng luôn giữ hình bóng mẹ, một người mẹ hiền từ, nhân hậu và luôn có một niềm tin mãnh liệt vào mẹ. Cậu tin rằng chỉ vì hoàn cảnh bắt buộc mà mẹ cậu mới phải bỏ đi.

Còn nhỏ nhưng cậu hiểu rằng chính những hủ tục thời phong kiến đã khiến mẹ cậu phải chịu cảnh tha hương. Tình cảm ấy cứ ngày một lớn dần, lớn dần lên. Cậu vẫn ao ước và luôn hi vọng, tin tưởng vào một ngày sẽ được gặp lại mẹ của mình. Điều này được thể hiện rõ khi thấy bóng dáng một người rất giống với mẹ cậu, cậu liền chạy đuổi theo và gọi to: “Mợ ơi!Mợ ơi!Mợ…ơi!”. Tiếng gọi trong thổn thức, tiếng gọi với sự chất chứa, đong đầy tình yêu thương được dồn nén từ bấy lâu nay.

Tất cả sự giải tỏa trong em đã được thực hiện, em sà vào lòng mẹ khi gặp lại. Đôi bàn tay mẹ xoa đầu em dịu hiền. Cậu bé Hồng òa khóc nức nở. Tất cả những tủi hờn, những thiếu thốn, những lời cay nghiệt của bà cô, của họ hàng với cậu giờ đây không còn nghĩa lí gì nữa. Cậu bé đã được thực hiện ước mơ từ lâu của mình, được ở trong lòng mẹ. Đó không chỉ là mong muốn của riêng Hồng mà chắc chắn còn là mong muốn chung của rất rất nhiều những trẻ nhỏ khác khi không may mắn được sống trong vòng tay của mẹ.

Tình mẫu tử trong đoạn trích Trong lòng mẹ quả thật vô cùng thiêng liêng, cao đẹp. Chính điều này đã làm nên giá trị nhân đạo vô cùng lớn lao của tác phẩm. Qua câu chuyện, chúng ta càng cảm nhận chân thực hơn về tình cảm mẫu tử, đặc biệt là tình cảm của những đứa con thơ dành cho mẹ. Đối với mỗi người con, mẹ luôn là điều tuyệt vời nhất.

Trong tâm trí của những đứa trẻ ấy, mẹ hiện lên như một vì sao sáng trên bầu trời. Đó cũng chính là lời khẳng định về tình mẫu tử không bao giờ có thể dập tắt trong lòng mỗi con người. Nguyên Hồng đã rất thành công khi truyền tải được thông điệp đầy ý nghĩa về tình mẫu tử đến với mọi người.

Đừng bỏ qua 🔥 Sơ Đồ Tư Duy Tôi Đi Học 🔥 11 Mẫu Vẽ Tóm Tắt Ngắn Hay

Có định nghĩa cho rằng nghệ thuật chân chính phải là thứ nghệ thuật vị nhân sinh – phải gắn với cuộc đời của con người. Và một người làm nghệ thuật xuất sắc phải thông qua các nhân vật, thông qua từng câu văn con chữ cất lên những tiếng nói đắng cay đang rên rỉ trong lòng xã hội còn lắm bất công.

Nguyên Hồng – người dành cả đời cầm bút để viết cho những người khốn khổ có một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Mỗi tác phẩm của ông đều thấm đượm một tình cảm nhân đạo tha thiết đối với quần chúng ta động nghèo khổ, đặc biệt là những người phụ nữ và trẻ em. Ông hiểu họ, đồng cảm với họ, cùng họ đau một nỗi đau.

Nguyên Hồng nổi tiếng và thành công nhất với thể loại kí, có người đã nhận xét rằng “Hồi kí của Nguyên Hồng không phải là những trang ghi chép một cách giản đơn, khô khan những sự việc đã qua. Ông viết hồi kí theo cách thức của một nhà văn với một rung động mãnh liệt của trái tim người nghệ sĩ”. Điều này được thể hiện rất rõ qua đoạn trích “Trong lòng mẹ” – chương 4 tác phẩm “Những ngày thơ ấu”.

Tuy chỉ là một chương hồi kí trong nhưng “Trong lòng mẹ” đủ để lột tả hết cái chất trữ tình đầy ngọt ngào, xuất phát từ trái tim một người nghệ sĩ giàu lòng nhân hậu như Nguyên Hồng. Cả chương sách, mỗi câu văn, con chữ đều dạt dào cảm xúc đến nghẹn ngào. Đầu tiên nói về nhân vật chú bé Hồng – một đứa trẻ bất hạnh, mồ côi cha, dòng đời xô đẩy bắt buộc mẹ chú phải đi tha hương cầu thực nơi xứ người. Hồng chỉ là một đứa trẻ nhưng lại phải chịu đựng cảnh sống thiếu thốn tình cảm gia đình, mất đi vòng tay che chở của cha mẹ.

Nhưng đáng thương thêm, chú phải sống với một bà cô cay nghiệt, nhỏ nhen, ích kỉ, giả dối, độc ác. Một con người luôn muốn đem đến đau thương cho đứa trẻ bất hạnh bằng cách gièm pha, nói xấu người mẹ, tìm mọi cách để rót vào tai Hồng những lời nói vu oan, mong muốn nó phải khinh miệt, ruồng rẫy chính mẹ đẻ của mình.

Ở đoạn đối thoại giữa chú bé và bà cô thâm độc, người đọc có thể thấy cảm xúc của Hồng đã cố nén, cố gằn lại, sâu bên trong là cái nỗi căm ghét đến tận xương hủ tục, căm ghét cả bà cô thâm độc đang làm tổn thương tình yêu mẹ của chú bé. Nhưng khi nỗi đau đã vượt qua ngưỡng chịu đựng của một đứa trẻ còn ngây thơ, chú bé đã khóc rất nhiều, “nước mắt ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa, đầm đìa ở cằm và ở cổ”.

Chẳng dừng lại ở đó, người cô ruột lại còn biểu lộ cái nét mặt “tươi cười” khoét sâu vào nỗi đau đang rỉ máu của một đứa trẻ nghe tình cảnh túng quẫn, hình ảnh gầy guộc, rách rưới của người mẹ khiến bé Hồng nghẹn họng mà “khóc không ra tiếng”.

Có thể thấy qua ngòi bút của Nguyên Hồng, nhân vật bà cô được thể hiện một cách sắc sảo, sinh động. Bà ta đại diện cho cái nhìn thành kiến cổ hủ, cho sự phi nhân đạo của cả một xã hội mà người phụ nữ phải gánh chịu. Giữa cái cổ hủ và nhân đạo đó, có một chú bé Hồng vẫn luôn dành tình yêu thiêng liêng cao đẹp nhất dành cho người đã sinh thành ra mình. Tình yêu ấy không gì có thể dẫm đạp lên, không gì có thể dập tắt, nó bất diệt mạnh mẽ hơn tất cả mọi thứ thị phi trên đời này.

Đến đoạn tả cảnh bé Hồng gặp mẹ, nhào vào lòng mẹ, thực sự ngòi bút tác giả đã chạm đến trái tim cảm xúc người đọc. Những xéo xắt của sự hủ tục, khinh miệt, vô nhận đạo nhường chỗ cho tư tưởng xã hội tươi sáng và tình cảm mẫu tử thiêng liêng.

Nguyên Hồng không xây dựng cốt truyện mà là kể lại những kỉ niệm thơ ấu chính bản thân mình đã trải qua. Mỗi câu văn đều như rưng rức dòng nước mắt tươi rói vào cái ngày Hồng được sà vào vòng tay mẹ. Tình yêu thương dâng trào thành cảm xúc mãnh liệt khao khát của một đứa trẻ đã thèm hơi ấm của mẹ quá lâu.

Chú bé cảm thấy ngây ngất hạnh phúc, sung sướng khi tìm lại được thứ cảm giác mà bấy lâu nay đã mất đi: “Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt”. Chú đắm đuối nhìn ngắm gương mặt mẹ để thấy mẹ vẫn đẹp như thuở nào “vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má”.

Thậm chí, đến những điều nhỏ nhặt nhất như hơi thở của mẹ cũng được ghi lại chân thực “Hơi quần áo của mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường”. Và tình yêu mẹ dâng lên đầy cảm xúc khi cậu bé Hồng nghẹn ngào “Phải bé lạị và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”.

Hạnh phúc ấy lớn lao đến nỗi bé Hồng như quên hết những lời buồn tủi, cay độc trước kia: “Bên tai tôi ù đi, lời bà cô chìm xuống, tôi không mảy may nghĩ ngợi gì nữa…” Mẹ về và được ở trong lòng mẹ chính là liều thuốc tốt nhất để chữa lành mọi tổn thương trong tâm hồn chú bé tội nghiệp.

Trong lòng mẹ là hồi kí, lời của nhân vật cũng xuất phát từ chính tâm hồn tác giả nên mỗi cảm xúc trong chú bé Hồng dạt dào sống động như chính chúng ta đang chứng kiến một câu chuyện về tình mẫu tử thiêng liêng diễn ra. Trong khi nhân vật đang thổn thức kể lại câu chuyện của mình, nhà văn còn khéo léo đan xen những lời bình đây xúc động, ngọt ngào, dịu êm.

Dưới cái tài năng của ngòi bút viết hồi kí, với một trái tim đa cảm tràn đầy yêu thương, Nguyên Hồng nắm bắt và miêu tả tỉ mỉ đến chính xác từng chuyển động tinh tế nhất của nội tâm nhân vật. Mỗi cảm xúc giống như một cơn sóng trào lên từng đợt, không lần nào giống lần nào. Từ sự kìm nén đau thương đến nức nở đột ngột. Tất cả mang đến sức hấp dẫn và lay động lòng người đến kì lạ.

Không đi theo sự sắp đặt của lí trí tỉnh táo, mạch văn trong đoạn trích Trong lòng mẹ xuất phát từ chính trái tim đang tuôn chảy dòng máu nóng, chan chứa yêu thương của tác giả Nguyên Hồng. Mỗi dòng chữ, mỗi câu văn đều đang tràn đầy nhựa sống mang lại một sức hút đặc biệt cho người đọc. Và hơn cả, ta cảm nhận được tấm lòng nhân đạo, niềm tin khao khát về những điều tốt đẹp trong cuộc sống mà Nguyên Hồng muốn truyền tải.

Gợi ý 🌳 Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em Về Dòng Cảm Xúc Của Nhân Vật Tôi Trong Truyện Ngắn Tôi Đi Học 🌳 15 Bài Hay

Được mệnh danh là nhà văn của phụ nữ và trẻ em, nhà văn Nguyên Hồng đã có những trang văn giá trị mà cũng quá đỗi xúc động về hình ảnh người mẹ, người phụ nữ tần tảo, những đứa trẻ hồn nhiên nhưng có tuổi thơ bất hạnh. Thành công nhất có thể kể đến tập hồi kí “Những ngày thơ ấu”, đây được coi là những ghi chép chân thực, xúc động nhất về những tháng ngày tuổi thơ đầy cay đắng của tác giả, trong đó đoạn trích “Trong lòng mẹ” đã thể hiện sâu sắc tình yêu của cậu bé Hồng dành cho mẹ.

Đoạn trích “Trong lòng mẹ” thuộc chương IV của cuốn hồi kí “Những ngày thơ ấu”, đoạn trích tập trung miêu tả tình cảnh đáng thương của cậu bé Hồng: Bố mất sớm, mẹ bỏ đi vì sự hà khắc của gia đình nhà chồng.

Bé sống nhờ họ hàng bên nội, thế nhưng cuộc sống ấy cũng chẳng mấy dễ chịu khi bà cô – người có quan hệ thân thiết lại nhẫn tâm buông những lời cay nghiệt để thỏa mãn sự ích kỉ, đố kị của bản thân, chia rẽ tình cảm giữa bé Hồng và mẹ. Đây cũng là một trong những đoạn trích cảm động nhất trong tập hồi kí khi làm nổi bật được tình mẫu tử thiêng liêng, tình yêu mẹ vô bờ bến của cậu bé Hồng.

Qua cuộc đối thoại giữa bà cô bé Hồng và bé Hồng, nhà văn Nguyên Hồng không chỉ cho người đọc thấy được hoàn cảnh đáng thương, tình yêu vô bờ bến của bé Hồng dành cho mẹ mà còn khắc họa đầy chân thực nét gian xảo, tàn nhẫn, lạnh lùng của bà cô bé Hồng.

Bà cô bé Hồng vốn là người thân ruột thịt của bé Hồng, đứng trên quan hệ huyết thống hay tình cảm thì lẽ ra bà cô phải là người cưu mang, chăm sóc cho bé Hồng. Thế nhưng sự hà khắc của bà ta cùng gia đình bên nội không chỉ bức ép khiến mẹ bé Hồng phải bỏ đi mà bà ta còn không ngừng reo rắc vào đầu người cháu những lời miệt thị, đặt điều đầy cay độc về người mẹ của mình.

Trong cuộc trò chuyện với bé Hồng, bà ta đã hỏi Hồng “Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không?”, nghe qua tưởng chừng đây là lời hỏi thăm, sự quan tâm của người cô dành cho cháu. Thế nhưng, chỉ cần nghe ngữ điệu châm chọc, giả tạo cùng bộ mặt “rất kịch” của bà ta thì có thể thấy đây là một người độc ác, thâm hiểm.

Người bà cô đâu vì quan tâm mà hỏi, mục đích chính của bà ta không chỉ khơi sâu sự tổn thương của bé Hồng mà còn mang ý xúc phạm đến mẹ của bé. Bà ta kể lại chuyện có người nhìn thấy mẹ bé ở Thanh Hóa, trên tay là đứa trẻ mới sinh, dường như mục đích của bà ta là gợi ra sự tủi thân, cảm giác bị bỏ rơi và hơn hết là muốn bé Hồng oán hận mẹ. Trước sự im lặng cùng nét mặt khổ sở của người cháu, bà ta không những không động lòng thương cảm mà tỏ ra vui sướng, thoải mãn, càng buông lời cay độc, tàn nhẫn.

Khi đã thành công trong việc khơi dậy nỗi đau đớn, xót xa nơi người cháu, bà ta còn cố tình tỏ ra cảm thông, nói bằng giọng ngậm ngùi thương cảm nhưng lại mang đầy hàm ý của sự độc ác, nhẫn tâm: “Mấy lại rằm tháng tám này là giỗ đầu của cậu mày, mợ mày về dù sao cũng đỡ tủi cho cậu mày, và mày cũng còn phải có họ, có hàng, người ta hỏi đến chứ”.

Từ những lời nói xảo trá, cay độc, thái độ giả tạo, trơ trẽn, bà cô đã tự phơi bày bản chất xấu xa, thâm hiểm của mình. Thái độ, lời nói của bà cô cũng chính là đại diện cho những định kiến khắc nghiệt, tàn nhẫn của xã hội xưa đối với người phụ nữ xưa.

Những lời nói cay độc, tàn nhẫn của bà cô không những không làm cho bé Hồng oán ghét mẹ mà ngược lại khiến bé Hồng càng thêm thương và yêu mẹ hơn. Trước câu hỏi đầy hàm ý của bà cô, bé Hồng đã nhận ra được sự cay độc trong lời nói, thấy được vẻ mặt cố tỏ ra thương cảm nhưng rất kịch của bà cô. Dù không đáp lại lời bà cô nhưng khóe mắt đã bắt đầu cay, trong lòng bé hiểu rằng mẹ nhất định sẽ quay lại, mẹ không bỏ rơi mà chỉ vì hoàn cảnh nên tạm để bé ở lại.

Khi nghe bà cô nói rằng mẹ bé đã đi bước nữa với người đàn ông khác, thậm chí đã sinh em bé, Hồng đã khóc, khóc không phải vì giận mẹ mà vì thương mẹ, bé căm giận những hủ tục đã đầy đọa mẹ bé, Hồng ước chúng là những vật hữu hình như mẩu gỗ, cục thủy tinh để có thể nhai, căn đến nát vụn mới thôi. Hồng là một cậu bé nhạy cảm, giàu tình thương, đứng trước những lời rèm pha ác ý, em vẫn luôn tin tưởng, yêu thương mẹ.

Chi tiết bé Hồng gặp lại mẹ trong phần cuối của đoạn trích khiến cho bao độc giả vỡ òa trong sự xúc động. Và có lẽ trong đoạn trích này, khung cảnh, phân đoạn lấy đi nhiều nước mắt nhất chính là đoạn hai mẹ con bé Hồng được gặp nhau, chính là nút thắt cao trào tình cảm được bung ra để yêu thương ùa về.

Chỉ một tiếng gọi “Mợ! Mợ! Mợ ơi” khi thấy một người đàn bà giống mẹ thì tình yêu trong bé chực trào ra. Yêu thương lâu nay bị kìm nén giờ đây có dịp bật ra thành tiếng. Tiếng gọi ấy khiến người đọc đứt từng khúc ruột, cay đến sống mũi. Khoảnh khắc cậu được ôm vào lòng mẹ thật cảm động.

Tác giả dùng những từ ngữ tươi đẹp nhất để diễn tả lại “phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Câu văn khiến không ít người run rẩy vì độ chân thực cũng như tình thương vô bờ bến của tình mẫu tử.

Cuộc gặp gỡ định mệnh và tình cảm trở nên sâu nặng hơn. Có thể nói người đọc đến đây thở phào nhẹ nhõm vì cuối cùng cậu bé cũng được đền đáp tình yêu thương. Không có sức mạnh nào có thể ngăn được tình cảm thiêng liêng ấy.

Đoạn trích “Trong lòng mẹ” đã mang đến cho người đọc những cảm nhận chân thực, đẹp đẽ nhất về tình mẫu tử. Ta không chỉ cảm động trước tình yêu của bé Hồng dành cho mẹ mà còn bất bình thay đối với những con người lòng dạ hiểm độc, những hủ tục phong kiến đã đẩy người phụ nữ xưa vào con đường bất hạnh.

Tiếp tục tham khảo 🌹 Cảm Nhận Về Cô Bé Bán Diêm 🌹 15 Bài Văn Cảm Nghĩ Hay

Nguyên Hồng là nhà văn của những người cùng khổ. Ông thường viết về những lớp người “dưới đáy” với tình cảm yêu thương sâu sắc, chân thành. Những ngày thơ ấu là một tập hồi kí giàu chất trữ tình, trung thực và cảm động về tuổi thơ cay đắng của Nguyên Hồng thời thơ ấu.Đây là tác phẩm có giá trị của Nguyên Hồng và cũng là một tác phẩm có giá trị của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.

Trong lòng mẹ là chương IV của tập hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng với tấm lòng yêu thương mẹ thật tha thiết, hồn nhiên, mãnh liệt trong đoạn trích. Đoạn 1 của trích đoạn Trong lòng mẹ đã miêu tả một cách sinh động “những rung dộng cực điểm của một tâm hồn trẻ dại” (Thạch Lam) đối với người mẹ, đã bộc lộ sâu sắc lòng yêu thương mẹ của bé Hồng. Hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến, bị trói buộc trong những hủ tục khắt khe từ đó mà đau khổ, bắt hạnh triền miên được thể hiện rõ.

Qua tác phẩm, bà mẹ của bé Hồng là người phụ nữ bất hạnh, không hề có hạnh phúc! Bà bị ép gả chồng mà không hề được tự ý lựa chọn theo mơ ước của mình. Càng đau khổ hơn khi chồng bà là người nghiện ngập, bệnh hoạn. Gia đình bên chồng tuy khá giả nhưng ích kỉ, nhiều thành kiến và cổ hủ nên đã ghét bỏ bà. Họa vô đơn chí! Bà góa chồng, gia đình tan nát lại nghèo khó, đành gửi con lại cho gia đình bên chồng để lưu lại kiếm sống.

Người mẹ tái giá. Gia đình chồng coi đó là hành động tội lỗi nhục nhã vì bà có thai khi chưa hết tang chồng. Bà luôn bị gièm pha, oán trách, mỉa mai. Đến ngày giỗ chồng, cũng như lúc ra đi, bà mạnh dạn trở về để gặp con, để hai mẹ con lại có những phút giâ ngọt ngào êm dịu hiếm hoi.

Như vậy, trước hết ta thấy bà mẹ bé Hồng điển hình cho người phụ nữ xưa, ngoan ngoãn theo thói tục cũ: lấy chồng theo sự lựa chọn của cha mẹ. Xuất giá tòng phu, bà vẫn sống trong khuôn khổ cũ. Khi chồng mất, bà túng quẫn, bà lại “bước đi bước nữa”, đã tự cởi trói cho mình để tìm hạnh phúc cho cuộc đời còn lại của mình. Bà đã thể hiện cá tính mạnh mẽ vượt lên thói tục thông thường để tìm hạnh phúc mới.

Người mẹ phải xa đứa con yêu dấu của mình nhưng lúc nào bà cũng thương nhớ con, đau nhói trong tim khi nghĩ đến cảnh con bà bơ vơ, lạc lõng, bị hắt hủi bên gia đình chồng cũ. Yêu con, bà đã chấp nhận mọi lời dị nghị và cách đối xử ghẻ lạnh đề về thăm con trong ngày giỗ đầu chồng cũ.

Ta có thể hiểu vì sao bà bặt tăm, không thư từ thăm hỏi, không quà bánh cho con đến gần một năm trời. Bà không muốn con bà phải nghe những lời đay nghiến, mỉa mai. Gặp lại con, bà xúc động, ôm con vào lòng với biết bao yêu thương và nước mắt. Đó là tình mẫu tử vô biên của một người đàn bà bất hạnh, đắng cay.

Thật xót xa khi cảnh đời thật của người mẹ trong hồi ký của nhà văn lại là cảnh đời tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam thời xưa. Lễ giáo phong kiến, hủ tục khắt khe chỉ tạo thêm những dòng lệ thảm cho cuộc đời vốn bất hạnh của người phụ nữ. Mẹ bé Hồng là người dám thoát ra để vươn tới một hạnh phúc, một cuộc sống hợp lí tốt đẹp hơn.

Qua hồi kí về tuổi thơ nhiều cay đắng của Nguyên Hồng; ta hiểu về phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam trong thời đại với những hoàn cảnh thương tâm và ước mơ chân chính, với lòng thương con đậm đà, tha thiết.

Nội dung cơ bản của đoạn trích cũng toát lên từ Chương hồi kí này là nỗi cay đắng uất ghẹn và tình thương yêu vô bờ bến của bé Hồng đối với người mẹ nhân từ, tần tảo mà cuộc đời chịu nhiều bất hạnh. Có hai sự kiện đã hóa thành kỉ niệm không thể phai mờ được nhà văn kể lại. Thứ nhất là cuộc trò chuyện của bé Hồng với bà cô; thứ hai là mẹ bé Hồng trở về, cuộc gặp gỡ đầy nước mắt, đầy niềm vui và hạnh phúc.

Nhớ lại cuộc trò chuyện với bà cô tức là nhà văn nhớ lại cảnh côi cút của một đứa bé và cảnh ngộ thương tâm của người mẹ hiền từ. Cha bé Hồng mất chưa đầy một năm. Mẹ bé Hồng trở thành người đàn bà bị cái tội bước đi bước nữa, nên bị gia đình chồng ruồng rẫy.

Vì “cùng túng quá” trong cái xã hội đầy thành kiến và hủ tục độc ác, người mẹ khốn khổ ấy phải bỏ con đi tha phương cầu thực. Thế là bé Hồng mất cha, lại xa mẹ phải sống nhờ họ hàng, bị hắt hủi tàn nhẫn. Đã một năm, bé Hồng không nhận được thư, không lời hỏi hay một đồng quà của mẹ, bé Hồng thương mẹ, nhiều khi rơi nước mắt.

Cuộc trò chuyện với bà cô là kỉ niệm không thể quên về một nỗi uất ghẹn mà tuổi thơ Nguyên Hồng đã trải qua. Nỗi đau sâu xa của bé Hồng không chỉ là xa vắng mẹ mà còn là nỗi đau xé lòng khi đang nhớ thương mẹ, lại phải nghe những lời nói xấu cay nghiệt về mẹ. Ác ý của người cô bộc lộ rất rõ. Giọng của bà cô lúc ngọt lúc nghiêm nghị tỏ ra ngậm ngùi thương xót. Nhưng thực ra, lời nói của bà như khoét sâu vào nỗi đau của đứa bé tội nghiệp. Bé Hồng nhận rõ nét mặt khi cười rất kịch của bà cô.

Rắp tâm của bà là gieo rắc vào đầu óc đứa cháu những hoài nghi để nó khinh miệt và ruồng rẫy mẹ nó nhưng bé đinh ninh đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị rắp tâm tanh bẩn xâm phạm ngay đến. Tuy còn bé, rơi vào hoàn cảnh éo le như thế, Hồng đã sớm khôn ngoan, cố gắng giấu kín ý nghĩ và tình cảm của mình đối với bà cô. Nhưng cũng giấu kín nên nỗi đau và uất ghẹn ấy càng bùng nổ dữ dội.

Nỗi đau khổ sâu xa của chú bé không chỉ là thiếu tình thương mà còn ở chỗ chú thường bị người khác xúc phạm một cách độc ác về mẹ chú. Một người đàn bà bị cái tội là góa chồng, nợ nần cùng túng quá, phải đi tha phương cầu thực, xa cả đứa con yêu dấu.

Bằng cử chỉ cùng giọng nói thân tình tự nhiên nhất, bà cô bảo chú bé hãy đi thăm mẹ và “thăm em bé” (con sau của người mẹ). Đấy là những lời đầy dụng ý: hai tiếng “em bé” mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm có thể tôi như ý cô tôi muốn. Chú bé Hồng từ chỗ im lặng cúi đầu đến nước mắt ròng ròng…

Cái cười dài trong tiếng khóc đó cho ta thấy nỗi đau đớn tủi cực và cả nỗi căm giận buộc phải nén lại của chú bé sâu sắc biết chừng nào! Không phải là giọt nước mắt xấu hổ, tủi thân mà là giọt nước mắt của tình thương qua ý nghĩ thương mẹ tại sao phải sinh em bé một cách giấu diếm, trốn tránh.

Dường như chưa cho thế là đủ, bà cô còn tươi cười kể cho chú bé nghe rằng mẹ chú ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng ngồi cho con bú ở chợ. Chưa nghe hết câu chú bé đã nghẹn họng khóc không ra tiếng. Chú đau đớn và vô cùng căm giận những cổ tục đã đầy đọa người mẹ hiền từ đáng thương của mình. Tình thương mẹ là nét nổi bật trong tâm hồn bé Hồng. Nó mở ra trước mắt ta cả thế giới tâm hồn phong phú của bé. Thế giới ấy lấp lánh ánh sáng nhân đọa, luôn luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên.

Tình thương mẹ đã cho bé Hồng một cái nhìn sắc bén đối với con người và sự việc ngoài đời. Tình thương ấy không gì có thể cản ngăn, chia cắt được và ngày càng trở nên thắm thiết nồng nàn. Qua đó, ta càng hiểu và yêu mến bé Hồng, hiểu sâu hơn tình mẫu tử thiêng liêng. Hồi kí Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng trở thành một áng văn nghệ thuật, vừa có tầm vóc tư tưởng lớn lao, vừa thể hiện chân thật : rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”

Chia sẻ 🌼 Viết Đoạn Văn Khoảng 5 Đến 7 Câu Với Nhan Đề Gửi Tác Giả Truyện Cô Bé Bán Diêm 🌼 15 Mẫu Hay

“Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng là tập hồi kí viết về những tháng ngày tuổi thơ cay đắng và khắc nghiệt của chính tác giả – một tuổi thơ mồ côi, chịu bao nhiêu tủi cực, thiếu thốn. Và có lẽ, trong tác phẩm, làm cho người đọc cảm động nhất chính là đoạn trích “Trong lòng mẹ”. Đoạn trích đã cho ta hiểu được tình cảnh đáng thương cùng nỗi đau tinh thần bấy lâu của bé Hồng đồng thời là khát khao tình mẫu tử của bé.

Đoạn đầu của đoạn trích khi nhân vật “tôi” kể về chuyện chiếc khăn tang và tin tức về mẹ của mình ta hiểu phần nào về hoàn cảnh của bé Hồng khi ấy. Cha mất, mẹ đi tha hương cầu thực, bé phải sống với họ hàng trong sự ghẻ lạnh. Bà cô bé Hồng, vốn không phải là một người cô hiền lành, một hôm gọi bé Hồng đến gợi chuyện về mẹ bé hỏi bé có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ hay không.

Vốn là một đứa trẻ nhạy cảm, Hồng như nhận ra ngay ác ý trong lời nói và nụ cười giả dối rất “kịch” của bà cô. Gia đình họ nội của bé Hồng vốn không ưa gì mẹ bé Hồng, luôn tìm cách để nói xấu mẹ bé Hồng để khiến cho bé ghét mẹ của mình.

Có điều, dù họ có tiêm nhiễm vào đầu bé Hồng bao nhiêu điều xấu về mẹ đi nữa thì trong tâm trí bé Hồng, hình ảnh của mẹ bé Hồng liên hiện lên với “vẻ mặt rầu rầu và sự hiền từ”. Là một cậu bé vô cùng yêu mẹ và thông minh, Hồng tự nhủ với lòng mình “đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến….”.

Nên bé Hồng đã trả lời là không muốn vào đồng thời bé đưa ra niềm tin về chuyện mẹ nhất định sẽ về. Chỉ một câu nói, ta hiểu rằng bé Hồng không chỉ là một cậu bé thông minh, can đảm mà còn rất yêu mẹ, ra sức bảo vệ mẹ trước những cay nghiệt của nhà nội.

Khi bà cô nói mẹ bé Hồng có “em bé”, những lời nói của bà cô mà bé Hồng đau đớn “Nước mắt tôi đã ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ” và khi bà cô kể cho bé nghe về chuyện có người nhìn thấy mẹ bé Hồng “ngồi cho con bú ở một bên rổ bóng đèn”, “ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng, người gầy rạc đi”, nỗi đau của bé lại càng như thắt lại: “Cô tôi chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng.

Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ lấy ngay mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi”. Cách so sánh liên tưởng độc đáo đã làm nổi bật sự căm tức ghê gớm của bé Hồng đối với những cổ tục đã đày đọa mẹ bé, bé chỉ muốn làm sao bóp nát nó để những đau khổ mà mẹ bé phải chịu sẽ mãi mãi biến mất.

Người đọc còn xúc động hơn nữa khi thấy tình cảm hai mẹ con bé Hồng gặp nhau. Khi mới thấy thoáng bóng ai giống mẹ, bé Hồng đã không kìm được lòng mà chạy gọi theo dù biết nếu đó là nhầm lẫn sẽ là một trò cười xấu hổ nhưng tình yêu thương mẹ của bé khi dậy đã lôi bé đi, không sao kìm lại được.

Vậy là hai mẹ con bé Hồng gặp nhau trong niềm hạnh phúc. Khi này bé Hồng thấy mẹ mình không hề xơ xác như những gì bà cô tả mà “Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong, và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má”, người mẹ ấy trông tươi đẹp như vậy có lẽ là vì: “Sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc”. Được nhìn thấy con, ôm con trong vòng tay, người mẹ như quên hết mọi cực nhọc, đau khổ và cả khuôn mặt đều ánh lên hạnh phúc.

Trong lúc nằm trong lòng mẹ, Hồng thấy “Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường” đồng thời có sự liên tưởng kì lạ “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trên trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Đó chính là tình mẫu tử thiêng liêng, cao quý vô ngần!

Đọc đoạn trích “Trong lòng mẹ” ta thấy xót xa cho tình cảnh đáng thương của bé Hồng và đồng thời cũng đọc xúc động biết bao trước tình mẫu tử thiêng liêng cao quý

Gợi ý cho bạn 🌳 Phân Tích Bài Nhớ Rừng 🌳 Top 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Khi lớn khôn, chúng ta được đặt chân đến nhiều vùng đất mới lạ nhưng chỉ có duy nhất một nơi để trở về sau mỗi lần thất bại hay vấp ngã đó chính là gia đình. Gia đình là nơi xoa dịu những trái tim đầy vết xước bởi nó đặc biệt hơn cả khi có sự hiện diện của những đấng đấng sinh thành.

Có lẽ niềm vui lớn nhất trong cuộc đời đó chính là được sinh ra và lớn lên trong vòng tay mẹ. Thế nhưng không phải bất kì ai cũng có được niềm may mắn đó và chú bé Hồng trong đoạn trích “Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng chính là một trong những em bé kém may mắn hơn cả. Hình ảnh chú bé Hồng trong đoạn trích được gợi lên với tuổi thơ nhiều cơ cực và luôn dành cho mẹ một tình yêu thắm thiết.

Nguyên Hồng (1918 – 1982) là nhà văn nổi tiếng đã từng “Trải qua nhiều đau thương nên thương cảm nhiều hơn”. Ông đã từng trải qua một tuổi thơ đầy cay đắng nên ông luôn động lòng trước những mảnh đời bất hạnh và hướng ngòi bút của mình về những người cùng khổ. Đoạn trích “Trong lòng mẹ” thuộc chương IV của tác phẩm “Những ngày thơ ấu” được in thành sách lần đầu năm 1940. Đây cũng chính là đoạn hồi tưởng về bé Hồng với tuổi thơ chịu nhiều nhọc nhằn, đắng cay.

Hồng là một cậu bé có tuổi thơ phải chịu nhiều cơ cực, bất hạnh. Nạn nhân của những cuộc hôn nhân đổ vỡ đó chính là những đứa trẻ. Hồng là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng, không có tình yêu. Từ nhỏ cậu đã phải chứng kiến cảnh bố nghiện ngập rồi mất chưa được bao lâu thì mẹ cũng vì túng quẫn quá nên bỏ đi xa. Hồng sống trong sự ghẻ lạnh của anh em họ hàng, chịu sự đay nghiến cay nghiệt của bà cô độc ác.

Từ khi xa mẹ, Hồng chưa một ngày nào thôi nhớ về mẹ, cậu “tưởng đến vẻ mặt hiền từ và rầu rầu của mẹ”, “nghĩ đến cảnh thiếu thốn một tình thương ấp ủ” khiến cậu rớt nước mắt. Trong một cuộc nói chuyện với bà cô, bà luôn tìm cách gieo rắc vào đầu cậu bé những suy nghĩ không tốt về mẹ đã khiến cho cậu vô cùng đau đớn.

Cậu đã nhận ra tâm địa độc ác của bà cô và càng thương mẹ nhiều hơn khi được bà cô hỏi có muốn vào Thanh Hóa thăm mẹ không. Vì cậu biết khi nhắc đến mẹ, bà cô chỉ muốn gieo vào đầu cậu những “hoài nghi” để cậu “khinh miệt và ruỗng rẫy” mẹ bởi trong cái xã hội “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” thì không có chỗ cho những người phụ nữ góa chồng, bỏ con đi “tha hương cầu thực” như mẹ cậu dung thân.

Thế nhưng tình mẫu tử là một thứ tình cảm gì đó vô cùng thiêng liêng và cao cả, cậu nhất định không thể để “những rắp tâm tanh bẩn” xâm phạm đến tình yêu mà cậu dành cho mẹ. Cậu đã toan trả lời có khi được hỏi có muốn thăm mẹ không nhưng rồi cậu chỉ cười nhẹ và đáp lại rằng: “Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về”. Cậu vẫn nuôi niềm hi vọng rằng nhất định mẹ cậu sẽ về dù niềm hi vọng ấy nó mong manh như sợi chỉ khi cả gần năm nay mẹ cậu không có liên lạc gì với cậu.

Nắm được điểm yếu của cậu, bà cô lại càng xoáy sâu vào nỗi buồn của cậu hơn khiến cho cậu bé “cúi đầu xuống đất”, “lòng thắt lại” như bị thứ gì đó bóp nghẹt, “khóe mắt đã cay cay”. Hồng cảm thấy xót xa, đau đớn, tủi nhục khi nghe thấy bà cô bóng gió nói rằng mẹ đã có em bé. Những lời nói mỉa mai của bà cô những vết dao sắc cứa sâu vào trái tim cậu khiến cho nước mắt cậu đã “ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ”.

Cậu cảm thấy đau khổ vì mẹ phải chịu những lời mỉa mai, nhục mạ của bà cô đến mức khóc không ra tiếng. Cậu căm ghét cái xã hội đầy hủ tục, bất công dồn mẹ cậu vào bước đường cùng khiến cho mẹ cậu phải xa lìa anh em cậu.

Tuy cậu còn nhỏ nhưng cậu đã căm ghét cái xã hội ấy đến mức chỉ mong những cổ tục đã đày đọa người mẹ đáng thương của cậu là “hòn đá”, “cục thủy tinh” hay “đầu mẩu gỗ” để cậu “vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”. Có thể thấy, Hồng là một cậu bé yêu mẹ nồng nàn, thắm thiết. Dù có bị đay nghiến đến mức nào thì cậu cũng nhất định không để tâm trí lung lay, bảo vệ mẹ đến cùng và không cho ai xâm phạm đến mẹ.

“Sau cơn mưa, trời lại sáng”, sau tất cả đau thương thì hạnh phúc cũng chịu mỉm cười với bé Hồng đáng thương của chúng ta. Hồng là một cậu bé giàu tình cảm, yêu mẹ tha thiết và khao khát được sống trong vòng tay của mẹ. Cậu luôn mong chờ mẹ về dù non một năm ròng mẹ không hề gửi cho cậu một lá thư hay một tấm quà đã cho thấy khao khát được sống trong vòng tay mẹ đến cháy bỏng của cậu bé. Đến ngày giỗ đầu của thầy cậu không viết thư gọi mẹ về vì cậu nghĩ chắc chắn mẹ sẽ về.

Cậu bé khao khát được gặp mẹ đến mức chợt thấy một dáng vẻ giống mẹ trên xe kéo mà cậu đã vội chạy theo để gọi và chỉ sợ rằng sẽ nhận nhầm thì chẳng khác gì “cái ảo ảnh”. Hồng cảm thấy sung sướng tột cùng khi người cậu đuổi theo đúng là mẹ, cậu òa khóc nức nở khi được mẹ “kéo tay”, “xoa đầu hỏi”. Có lẽ, đây chính là giây phút hạnh phúc nhất trong những tháng ngày tăm tối, tủi khổ của cậu bé. Mẹ xuất hiện giống như một tia sáng trong đường hầm đã giúp cậu tìm thấy lối thoát khỏi “những rắp tâm tanh bẩn”.

Cậu bé cảm nhận được sự ấm áp từ mẹ đã mất đi lâu nay bỗng “mơn man khắp da thịt”. Cậu chỉ mong mình bé lại để lúc nào cũng được lăn vào lòng mẹ, được “áp mặt vào bầu sữa nóng của của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho”. Giây phút thiêng liêng của cuộc đời đã khiến cho bé Hồng quên đi thực tại cay nghiệt đã hành hạ mẹ cậu, đã khiến cho mẹ con cậu phải xa lìa nhau.

Tình cảm cao cả, vĩ đại mà bé Hồng dành cho mẹ đã xóa tan đi muộn phiền, u sầu, tủi khổ mà cậu bé phải gánh chịu kể từ ngày mẹ cậu bỏ đi. Trong giây phút rạo rực khi được gặp mẹ ấy câu nói của người cô cay nghiệt lại thoáng qua trong đầu cậu nhưng cậu đã “không mảy may nghĩ ngợi gì nữa”.

Với Nguyên Hồng, giây phút được gặp lại mẹ chính là giây phút thần tiên nhất, hạnh phúc nhất của cuộc đời. Đoạn trích “Trong lòng mẹ” đã tái hiện một quá khứ đầy đau thương và tình yêu mẹ vô bờ bến của tác giả. Nhà văn đã sử dụng thành công các phương thức biểu đạt như tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm để làm nổi bật nhân vật bé Hồng.

Bé Hồng là một đứa trẻ luôn khát khao tình mẹ, yêu thương mẹ mãnh liệt và giàu lòng tự trọng. Đoạn trích “Trong lòng mẹ” đã đem đến cho chúng ta những bài học đắt giá về tình mẫu tử. Phải chăng, tình yêu thương chính là liều thuốc duy nhất để chữa lành mọi vết thương.

Gợi ý trọn bộ ☀️ Cảm Nhận Về Bài Thơ Quê Hương ☀️ 15 Bài Văn Hay Nhất

Gia đình là điểm tựa vững chắc, là cái nôi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ nhỏ. Thế nhưng không phải đứa trẻ nào có gia đình cũng lớn lên trong sự chở che và tràn ngập hạnh phúc, trong cuộc sống của chúng ta luôn tồn tại những thứ gọi là ngoại lệ, luôn có những sự thật bất biến mà khi nghe đến ai ai cũng phải thốt lên bàng hoàng.

Một trong những ngoại lệ đó là bé Hồng, một cậu bé đáng thương trong đoạn trích ” Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng, người mà người ngoài nhìn vào tưởng chừng như có cuộc sống rất sung túc và ấm cúng thế nhưng ẩn sâu trong đó là là những tủi nhục, ấm ức và tổn thương sâu nặng.

Bé Hồng được sinh ra trong một gia đình khá giả và giàu có, gia đình em có tất cả và chỉ thiếu duy nhất đó là hạnh phúc. Đúng vậy, đó là một cuộc giao dịch của gia đình hai bên không hơn không kém, không tình cảm, cuộc sống trở nên rẻ mạt và vô vị, không niềm vui, không tiếng cười hạnh phúc. Thế nhưng thời gian qua đi mối quan hệ ấy đã đâm hoa kết trái và gia đình ảm đạm ấy cuối cùng cũng đón chào đứa con đầu đời của mình. Đó chính là cậu bé Hồng.

Tưởng chừng khi đứa con đầu đời của họ chào đời thì gia đình ấy sẽ thêm gắn kết và mối quan hệ gượng ép kia sẽ được cải thiện, thế nhưng không, cuộc sống vốn đã mệt mỏi nay lại càng thêm mỏi mệt và xa cách. Được sinh ra trên đời đâu phải là cái tội vậy mà cậu bé Hồng lại đang phải chịu những tổn thương trực tiếp từ cha mẹ mình.

Làm gì có đứa con nào cảm thấy hạnh phúc nếu bố mẹ chúng không yêu thương nhau. Mối quan hệ hời hợt đến mức ngay cả một đứa nhỏ vài tuổi cũng nhận ra, cũng tự thấy đau đớn và tổn thương, Hồng nhận ra em chỉ là điều cuối cùng còn sót lại để níu giữ mối quan hệ của hai con người đã sinh ra mình. Sự thật phũ phàng như thế liệu có quá nhẫn tâm với một đứa bé vô tội.

Nhưng những tổn thương mà em phải gánh chịu đâu có như thế, bên trong thì gia đình lục đục không hạnh phúc, bên ngoài thì lại nhận những lời dèm pha về cha mẹ, những tin đồn thất thiệt về mẹ mà em chẳng biết đúng sai. Những thứ mà mọi người nói ngoài kia, những điều mà em nghe được về mẹ mình liệu có đúng, em không tin đó là sự thật, em đã đấu tranh suy nghĩ để giữ lại hình ảnh về người mẹ đẹp nhất trong tâm trí mình, gắng gượng sống tiếp mà bỏ ngoài tai những điều thị phi và tai tiếng về cha mẹ.

Trong phút chốc đứa nhỏ đáng thương trở thành tâm điểm của những mũi giáo chĩa về phía người thân của mình. Bi kịch chưa dừng lại ở đó, không hạnh phúc đã đành, thiếu thốn đã đành nhưng nay em lại chịu cảnh tan nát gia đình vì người bố nghiện ngập.

Bố là trụ cột gia đình, là tấm gương cho con cái noi theo vậy mà người cha vô dụng kia lại biến mình trở thành gánh nặng cho vợ con, trở thành nỗi tủi nhục lớn nhất đối với mẹ con cậu bé Hồng. Mẹ bé Hồng phải lao động cực nhọc để nuôi chồng, nuôi con, tấm thân gầy guộc ấy vừa phải chăm lo cho cuộc sống vừa phải trang trải nợ nần, bà sống mà chẳng phải là sống, sống mà lòng như đã chết.

Vì nghiện ngập mà không lâu sau đó người cha qua đời, nỗi đau này chưa dứt thì nỗi đau kia lại xảy ra, mẹ bé Hồng từ bỏ cuộc sống mỏi mệt đi tìm niềm vui mới bỏ lại một mình em sinh tồn nơi xã hội hiểm ác. Người ta thường nghĩ là giàu sang thì sẽ hạnh phúc thế nhưng không phải như vậy.

Dù được sống trong cảnh giàu sang ở nhà họ nội thế nhưng em lại phải chịu sự hắt hủi, khinh rẻ và vô cảm của lũ người ruột thịt. Họ cũng có cùng máu mủ với em, là những người mà đáng ra phải bảo vệ, an ủi và chở che em trong những lúc khó khăn nhất thì họ lại là người quay lưng để rồi nhẫn tâm tạt vào mặt em gáo nước lạnh giá buốt.

Gia đình em tan vỡ, người ngoài buông lời dèm pha đã đành thế nhưng ngay trong cái gia đình ấy lại có những kẻ máu lạnh cố gieo dắt vào đầu em những điều không hay, bà cô độc ác cố vấy bẩn suy nghĩ của em về mẹ, từng lời lẽ sắc bén như lưỡi dao khứa mạnh vào trái tim đang nhỏ máu của đứa bé bất hạnh. Bà cô như một con rắn độc mưu mô đang cố hãm hại đồng loại của mình, cố gây sát thương cho đứa cháu tội nghiệp bằng những lời giả dối mà vô cùng giả tạo.

Thế nhưng những điều xảy đến với cuộc đời mẹ lại vô hình, những điều bất hạnh cứ thể xảy đến với mẹ và để lại những vết thương hở lớn và dù có khâu vá chằng chịt cũng chẳng thể lành. Nỗi đau cùng những bất hạnh đã lấy đi hạnh phúc của mẹ em để rồi trong những giây phút suy nghĩ về mẹ em lại bật khóc, giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt bé nhỏ ấy mà không có một ai gần lại lau cho em những giọt đắng, giọt đau.

Và cuối cùng sau bao đau đớn và tổn thương mà em gánh chịu, sau bao ngày mong nhớ khát khao được gặp mẹ thì ước nguyện đó cũng đã thành hiện thực, ngày hôm đó em đã được gặp lại mẹ của mình, gặp lại người mẹ đáng thương mà em luôn cố bảo vệ và tôn thờ bấy lâu nay. Người ta thường nói người mình thương yêu thì dù họ có lẫn trong đám đông chúng ta vẫn có thể tìm ra được, và đúng là như vậy, cậu bé Hồng đã nhìn thấy mẹ của mình trên chiếc xe kéo.

Xúc động là thế nhưng em bỗng chốc khựng lại, trong lòng em trào dâng một thứ cảm xúc hỗn độn nào đó, bối rối và hoang mang đến lạ, em sợ mình nhận nhầm người, sợ niềm hy vọng mà mình ấp ủ bấy lâu nay không trở thành hiện thực, sợ người đó không phải là mẹ mình, sợ em ôm hy vọng rồi lại đổi lấy thất vọng.

Thế nhưng sau vài giây giằng co trong suy nghĩ em đã bất chấp tất cả cất lên tiếng gọi đầu tiên sau ngần ấy thời gian xa cách mẹ, giọng đứa bé run run bối rối: “Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!”. Và bao mong mỏi của em đã được đền đáp, đó không phải ai khác mà chính là mẹ của em, người mẹ hiền từ mà em mong mỏi được gặp bấy lâu.

Cuộc hội ngộ của hai mẹ con đã giúp tâm hồn em được an ủi, ít nhất trong những giây phút ngắn ngủi đó em không còn phải tự mình chống chọi với thế giới, không còn phải gồng mình mà tỏ ra mạnh mẽ, vậy là em đã khóc, những giọt nước mắt rơi xuống không biết là vì hạnh phúc hay vì những tủi nhục vỡ òa trong em. Ngày hôm ấy có hai tâm hồn sứt mẻ đã tìm về được với nhau, tìm thấy niềm hạnh phúc hiếm hoi trong cuộc đời của mình.

Bức tranh về tình mẫu tử ấm áp đã khép lại tác phẩm, đó là thứ tình cảm thiêng liêng và bất diệt. Dẫu có bị vùi dập nhưng nó vẫn luôn bùng cháy và mãi mãi rực sáng trong tim mỗi người. Tình mẫu tử ấy đã giúp cậu bé Hồng vượt qua tất cả, chống chọi với những khó khăn, thách thức khắc nghiệt để hướng đến những điều tốt đẹp.

Mời bạn tiếp tục đón đọc 🌳 Phân Tích Bài Thơ Khi Con Tu Hú 🌳 Những Bài Cảm Nhận Đặc Sắc

Sinh ra trên đời, ai cũng có một người mẹ để yêu thương. Người mẹ ấy không chỉ cho ta sự sống mà còn nuôi dưỡng, chở che, bao bọc cho ta. Dù trên đường đời có bao gian khó thì khi quay đầu lại, ta vẫn thấy bóng mẹ lặng thầm dõi theo, có lẽ đó chính là sự cao cả, thiêng liêng của tình mẫu tử.

Cũng vì lẽ đó mà tình mẫu tử đã trở thành một đề tài lớn, một nguồn cảm hứng bất tận của thơ văn. Thể hiện một cách xúc động về tình cảm dành cho người mẹ của mình, nhà văn Nguyên Hồng trong đoạn trích “Trong lòng mẹ” đã khiến người đọc xúc động về tình mẫu tử thiêng liêng.

Đoạn trích “Trong lòng mẹ” chủ yếu nói về tình cảm của cậu bé Hồng dành cho người mẹ của mình. Hình ảnh người mẹ chỉ xuất hiện thoáng qua trong câu chuyện của bé Hồng với bà cô lạnh lùng, vô tình. Và khi kết thúc đoạn trích cũng chỉ xuất hiện thoáng qua với vài nét mô tả của Nguyên Hồng song người đọc vẫn cảm nhận được con người cũng như tình cảm bao la của người mẹ ấy dành cho những đứa con của mình.

Trước hết, người mẹ ấy hiện lên với vẻ cam chịu, sống thầm lặng hi sinh vì con cái. Vì hoàn cảnh mà người mẹ trẻ của Nguyên Hồng phải chấp nhận lấy một người đàn ông lớn tuổi. Cuộc sống vợ chồng cũng không mấy thuận lợi, người mẹ trẻ này luôn phải sống nhẫn nhịn, chịu đựng vì người chồng hay rượu chè, cờ bạc.

Tuy nhiên, cuộc sống đầy bất hạnh bên người chồng vũ phu, “nhiều tật” ấy không được mọi người trong gia đình chồng thông cảm, sẻ chia, mà ngược lại, mẹ của bé Hồng thường xuyên bị đả kích bởi những lời bóng gió, những ghen ghét, đố kị của bà cô chồng.

Khi người chồng chết đi, người mẹ trẻ ấy đã đi bước nữa và bỏ con mà đi tha phương nơi đất khách. Bởi người mẹ ấy không thể chịu đựng được sự ghẻ lạnh, khinh miệt tàn nhẫn của nhà chồng. Ta cũng thấy được sự bất công trong đối xử với người mẹ ấy.

Cuộc sống hôn nhân với bố Hồng đã vô cùng đau khổ, nhưng ngay cả khi chồng chết, chị ta cũng không có cho mình cái quyền được mưu cầu hạnh phúc, ngược lại còn phải chịu những hắt hủi, những lời nói độc địa của nhà chồng. Vì quá sức chịu đựng, không còn cách nào khác mà phải đi đến con đường tha phương. Dứt ruột mà bỏ những đứa con thơ mà đi, trong lòng người mẹ ấy cũng rất đau đớn, chưa một phút giây nào thôi nhớ về những đứa con của mình.

Dù đã ra đi nhưng người mẹ trẻ ấy vẫn bị bủa vây bởi những lời nói độc địa mà bà cô chồng cố gieo rắc vào đầu bé Hồng- Những đứa con đáng thương của người mẹ ấy. Người cô chồng cũng chỉ là một đại diện cho những định kiến xã hội nghiệt ngã dành cho người mẹ ấy. Trong cái định kiến xã hội tàn nhẫn ấy, người mẹ này không có quyền được hạnh phúc, khi chồng chết, dù có bị nhà chồng đày đọa, ghẻ lạnh thế nào thì cũng không được quyền phản kháng mà phải ở vậy nuôi con.

Tuy nhiên, người mẹ ấy cũng rất mạnh mẽ, chị ta không mãi cam chịu cuộc sống “tù đầy” nơi nhà chồng đầy khắc nghiệt nữa, chị ta đã dũng cảm tìm hạnh phúc cho riêng mình, biết đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc ấy. Biết là phải đối mặt với những gian nan, với những định kiến nghiệt ngã nhưng người mẹ trẻ ấy vẫn quyết đối mặt, mù phải sống cuộc đời bươn chải, vất vả nhưng vẫn sẵn sàng đánh đổi để được tự do. Nghị lực ấy, sức sống ấy ở người mẹ trẻ khiến ta thật cảm phục.

Người mẹ trẻ ấy cũng có những người con thật tuyệt vời. Lòng thương mẹ của bé Hồng sâu nặng đến mức những lời nói độc ác, tàn nhẫn có chủ tâm của người cô không thể tác động, xâm phạm đến tình thương mà cậu bé dành cho mẹ. Người mẹ tuyệt vời này đã sinh ra những đứa con tuyệt vời. Tuy chỉ được miêu tả thoáng qua, hình ảnh người mẹ ở trong tác phẩm thật mờ nhạt bởi những nét phác thảo mơ hồ nhưng lại để lại dấu ấn vô cùng sâu đậm trong lòng người đọc.

Người mẹ ấy luôn nhớ về những đứa con của mình, ở nơi đất khách nhưng chưa phút giây nào nỗi nhớ ấy khuây khỏa trong lòng. Người mẹ ấy cũng là người có tình, có nghĩa. Dù sống bên bố của Hồng là một cuộc hôn nhân không có hạnh phúc nhưng khi đến ngày giỗ của ông ta, mẹ của bé Hồng vẫn quay về.

Hình ảnh người mẹ hiền dịu, ôm ấp bé Hồng trong lòng thật khiến cho người ta cảm động. Chỉ qua vài động tác vuốt ve đầu bé hồng, rồi gãi nhẹ ở sống lưng Hồng thôi ta cũng cảm nhận được bao tình cảm yêu thương từ người mẹ ấy. Vậy là, niềm tin của bé Hồng nơi mẹ không hề uổng công vô ích, bởi người mẹ ấy dù cho không thể ở bên những đứa con của tình thì tình cảm ấy không hề đổi thay.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Phân Tích Bến Quê 🌼 14 Bài Văn Mẫu Ngắn Gọn Hay Nhất

Nguyên Hồng là một trong số những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại với nhiều tác phẩm xuất sắc, có sức sống lâu bền trong lòng bạn đọc. Ngay từ những tác phẩm đầu tay của mình, ông đã hướng ngòi bút tới những người có số phận bất hạnh, cùng khổ mà ông dành tình yêu thương thắm thiết.

Và có thể nói, tập hồi kí “Những ngày thơ ấu” nói riêng, đoạn trích “Trong lòng mẹ” nói riêng đã thể hiện rõ điều đó. Đọc đoạn trích “Trong lòng mẹ”, người đọc không chỉ không thể nào quên được những tháng ngày tuổi thơ bất hạnh, tủi cực của cậu bé Hồng mà còn sẽ nhớ mãi hình ảnh của người mẹ – một hình ảnh phụ nữ bất hạnh nhưng tràn đầy lòng yêu thương con.

Trước hết, người mẹ trong đoạn trích Trong lòng mẹ hiện lên là một người phụ nữ bất hạnh, sống cuộc sống không có hạnh phúc và phải chịu những định kiến, gièm pha của xã hội.

Như chúng ta đã biết, mẹ bé Hồng là người phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp, có khát khao yêu thương và hạnh phúc mãnh liệt nhưng rồi đến cuối cùng, bà đã không có quyền được làm chủ cuộc sống, làm chủ tình yêu của mình, người phụ nữ với trái tim khao khát yêu thương ấy đã phải chôn vùi tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc của mình “bên người chồng nghiện ngập”, “trong một cuộc hôn nhân miễn cưỡng” không tình yêu.

Không dừng lại ở đó, bà còn phải sống trong sự ích kỉ, những hủ tục, định kiến của nhà chồng, đặc biệt là sau khi chồng bà chết. Người mẹ ấy vì nợ nần, vì quá túng quẫn mà phải gửi con đi tha hương cầu thực. Và đặc biệt, khi bà xuất giá lần nữa, cả nhà chồng coi đó là điều nhục nhã và rồi dành cho bà mọi lời cay nghiệt, thậm chí gieo rắc và bé Hồng những suy nghĩ không tốt về mẹ mình.

Như vậy, người mẹ trong tác phẩm xét đến cùng là người phụ nữ điển hình trong xã hội xưa: chấp nhận nghe theo lời của bố mẹ trong cuộc hôn nhân không tình yêu và sống theo những lề lối cũ. Tuy nhiên, ở người phụ nữ ấy ta cũng nhận thấy một cá tính mạnh mẽ, muốn vượt thoát, bước ra khỏi những định kiến, lề lối, hủ tục lạc hậu. Điều đó thể hiện rõ nét qua việc khi chồng mất, bà quyết định đi thêm bước nữa để tự cởi trói cho bản thân mình.

Thêm vào đó, người mẹ trong đoạn trích còn là người phụ nữ hết mực yêu thương, quan tâm và lo lắng cho con. Người mẹ ấy xa con, phải đi “tha hương cầu thực” nhưng tận sâu trong trái tim, trong nỗi lòng mình lúc nào bà cũng nghĩ về con, lo lắng con sống với gia đình nhà chồng sẽ bị bơ vơ, ghẻ lạnh, hắt hủi.

Và có lẽ, chính vì yêu con hơn tất thảy mọi thứ, bà đã bất chấp những lời dèm pha, những định kiến mọi người dành cho mình để về thăm con trong ngày giỗ đầu của chồng “Đến ngày giỗ đầu thầy tôi, tôi không viết thư gọi mẹ tôi cũng về. Mẹ tôi về một mình mang theo rất nhiều quà bánh cho tôi và em Quế tôi.”

Và có lẽ, tình yêu thương của mẹ được thể hiện một cách rõ nét và chân thực hơn cả qua cảm nhận của bé Hồng khi cậu sà mình vào vòng tay yêu thương ấm nồng của mẹ:

“Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường. Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người miệng, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trên trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng.”

Tóm lại, đọc đoạn trích Trong lòng mẹ, người đọc sẽ cảm nhận được sâu sắc về người mẹ và tình mẫu tử thiêng liêng giữa mẹ và bé Hồng. Đồng thời, qua đó cũng cho chúng ta thật nhiều suy nghĩ về mẹ và tình mẫu tử.

Mời bạn tham khảo 🌠 Phân Tích Mây Và Sóng 🌠 15 Bài Văn Mẫu Ngắn Hay Nhất

Nhắc đến nhà văn Nguyên Hồng là nhắc đến nững trang văn thấm đượm chất trữ tình, lời văn dạt dào, làm sống dậy bao cảm xúc mãnh liệt của lòng người, đặc biệt những trang văn viết về phụ nữ và trẻ thơ. Những tác phẩm của ông đâu chỉ hay thôi mà còn đẹp nữa, đẹp bởi tình cảm chân thành và tha thiết được bộc lộ rõ trong từng hơi thở, cử chỉ và lời nói của nhân vật.

Đó là những Bỉ vỏ, Khi đứa con ra đời, hay tập hồi kí Những ngày thơ ấu đều mang lại những sức hấp dẫn riêng. Đoạn trích Trong lòng mẹ của tập hồi kí này không chỉ gây xúc động bởi tình mẫu tử thiêng liêng cao đẹp, sự đồng cảm với một cậu bé Hồng chịu nhiều bất hạnh. Mà khi đọc tác phẩm, ta còn căm phẫn trước sự cay độc, tàn ác của bà cô ruột cậu bé – một hình ảnh đại diện cho những hủ tục của xã hội phong kiến xưa lạc hậu còn tồn tại.

Cậu bé Hồng ngay từ nhỏ đã chịu nhiều khổ đau, cậu thiếu thốn tình cảm của những người thân từ nhỏ. Sống xa mẹ, cậu phải chịu bao nhiêu cay đắng tủi nhục, đặc biệt là sự hắt hủi của người thân bên nội. Dù đã lâu không có tin tức của mẹ nhưng Hồng vẫn không trách mẹ nửa lời, em vẫn dành niềm tin tha thiết và tình yêu mãnh liệt cho mẹ của mình. Chắc hẳn là một người phụ nữ, một người mẹ, bà cô phải hiểu hơn ai hết những thiệt thòi mà em phải chấp nhận.

Bà cô tỏ ra rất quan tâm đến tình cảm mẹ con của Hồng nhưng sâu bên trong là âm mưu gieo rắc trong lòng cậu bé nỗi căm hờn mẹ, rồi hoài nghi mà tự bỏ người mẹ đang phải tha hương nơi xứ người kiếm sống. Bà cô cay nghiệt giết chết trái tim đứa trẻ bằng chính lời nói của mình.

Nhưng trái với suy tính của bà cô, bé Hồng đã cảm nhận được sự giả dối trong lời nói của mụ, nên cậu trả lời: “Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về”, mụ ta vẫn cái giọng ngọt ngào mà thâm hiểm ấy: “Sao lại không vào? Mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu!” và hai con mắt nhìn chằm chằm vào đứa bé tội nghiệp như đang dò tìm chút cảm xúc trong cậu.

Rồi mụ ta vừa cười vừa vỗ vai em, trong cái giọng thản nhiên và mỉa mai ấy phát ra từng lời nói như cứa nát vào tâm hồn đứa bé “Mày… cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ”. Bà cô cố tình cho em bé biết thông tin rằng mẹ mình đã có em bé khi chưa hết tang chồng, mục đích của mụ ta là chê cời, giễu cợt mẹ em.

Thật độc ác và ghê người, một người đàn bà tàn nhẫn máu lạnh khi bỏ qua cả tính máu mủ ruột rà để châm chọc, hành hạ đứa cháu đáng thương đến tội nghiệp. Mụ ta xem đó là một trò chơi và khi cậu bé Hồng càng đau đớn, tủi nhục thì mụ là càng hài lòng, tự mãn.

Tâm trạng đầy uất nghẹn của cậu bé: “Nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ. Hai tiếng “em bé” mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm can tôi như ý cô tôi muốn”.

Nhìn em như thế, đến người dưng còn không kìm được lòng mình, vậy mà bà cô vẫn không mảy may chút thương cảm, lạnh lùng, thích thú như vừa làm được điều gì thú vị lắm. Bà ta kể về những khó nhọc, tình cảnh túng quẫn thương tâm của người mẹ cho cậu bé trong niềm vui. Cho đến khi nỗi đau của em lên đến tột cùng, bà mới hạ giọng mình làm bộ vỗ về an ủi em.

Một bà cô tàn nhẫn, thâm hiểm, vô cảm, sắc lạnh. Một hành động tàn bạo, ý nghĩ đê tiện, thấp hèn, tanh bẩn xấu xa trong chính con người mụ. Khắc họa nhân vật bà cô, tác giả đã lên tiếng tố cáo, phê phán hiện thực xã hội phong kiến lúc bấy giờ, đồng thời lên án những kẻ có bản tính xấu xa, độc ác, có những lời nói và hành động mất hết tình người. Là tiếng nói thương cảm và cảnh tỉnh mỗi người hãy quý trọng tình thân trong cuộc sống.

Gợi ý cho bạn 🌳 Phân Tích Bài Thơ Nói Với Con 🌳 14 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Văn Mẫu Lớp 8: Phân Tích Nhân Vật Giôn

Qua truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O Hen-ri, cũng giúp chúng ta cảm nhận được sự hồi sinh thần kì ở một con người dường như đã buông bỏ, phó mặc sự sống của chính mình. Mời các em cùng theo dõi bài viết để ngày càng học tốt môn Văn 8:

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả O Hen-ri và tác phẩm Chiếc lá cuối cùng.

Giới thiệu nhân vật Giôn-xi.

2. Thân bài

a. Tóm tắt câu chuyện:

b. Phân tích nhân vật Giôn-xi:

– Là một cô gái tội nghiệp, bệnh nặng và nghèo khó đã bào mòn hết sự kiên trì níu giữ cuộc sống bên trong tâm hồn cô.

– Giôn-xi đã đặt hết niềm tin cũng như sự sống của mình vào cái dây thường xuân đang rụng lá trước cửa sổ.

– Chuẩn bị tâm thế sẵn sàng để thần chết tới mang mình đến bên kia thế giới mà không màng tới sự đau khổ, buồn rầu của người bạn, cũng như sự tức giận của cụ Bơ-men về cái suy nghĩ ngớ ngẩn của mình.

– Trong lần đầu tiên, Giôn-xi giục Xiu kéo mành lên:

Chuẩn bị sẵn sàng cho việc từ bỏ thế gian, giọng nói lạnh lùng lùng, cương quyết, mặc cho sự chần chừ sợ hãi của người bạn.

Khi phát hiện còn sót lại một chiếc lá sau đêm mưa cô vẫn lạnh lùng quả quyết rằng “hôm nay nó sẽ rụng thôi và lúc đó thì em sẽ chết”.

– Lần thứ hai kéo mành:

Giôn-xi vẫn tàn nhẫn quyết tâm bắt Xiu kéo tấm màn chắn lên, nhưng chiếc lá vẫn còn, và chỉ trong một khoảnh khắc đó, có cái gì đã vỡ ra trong tâm trí của cô gái trẻ.

Cô đã tỉnh ngộ nhận thức được mình đã tàn nhẫn với bản thân và mặc kệ sự đau đớn của người bên cạnh, thật ích kỷ biết bao nhiêu. Giôn-xi nhận thức được cái suy nghĩ tệ hại của bản thân “muốn chết là một tội”.

– Sự hồi sinh của Giôn-xi:

Cô muốn ăn cháo, uống sữa pha rượu vang đỏ sau bao ngày không thiết tha gì.

Khao khát làm đẹp dung nhan khi nhờ Xiu đưa cho chiếc gương, và lòng quan tâm đến cuộc sống khi nhờ Xiu xếp gối xung quanh để xem chị nấu nướng.

Tạo dựng lại cho mình tình yêu đối với nghệ thuật, thứ mà cô bỏ ngỏ kể từ khi bệnh tật, Giôn-xi mong muốn một ngày nào đó sẽ được vẽ vịnh Na-plơ.

→ Cuối cùng hai cô gái đã cùng nhau chiến thắng bệnh tật. Như vậy có thể nói rằng mạng sống của Giôn-xi đã được kéo lại nhờ tấm lòng nhân ái của cụ Bơ-men, sự chăm sóc của Xiu, sự kiên cường kỳ lạ của chiếc lá và cuối cùng chính là ý chí sống còn mạnh mẽ của chính bản thân cô.

3. Kết bài

Nêu cảm nhận của em về nhân vật

Chiếc lá cuối cùng là một truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn người Mỹ O. Henry được xuất bản lần đầu vào năm 1907 trong tập truyện The Trimmed Lamp and Other Stories. Giôn-xi, nhân vật yếu đuối, tuyệt vọng trước bi kịch số phận cuộc đời mình, nhưng rồi cô đã vượt qua tất cả, hồi sinh tấm lòng trân trọng cuộc sống nhờ niềm tin, sự hi sinh và tình cảm cao đẹp giữa con người với con người.

Truyện lấy bối cảnh ở khu Greenwich Village, Manhattan, thành phố New York, Hoa Kì khi Xiu và Giôn-xi là 2 nữ họa sĩ trẻ sống trong 1 khu nhà trọ. Cùng với cụ Bơ-men, là một họa sĩ già cũng sống ở đó, cả đời cụ khao khát vẽ được một kiệt tác nhưng chưa thực hiện được.

Mùa đông năm ấy, Giôn-xi bị bệnh sưng phổi rất nặng. Bệnh tật khiến cô tuyệt vọng và nghĩ rằng khi chiếc lá thường xuân cuối cùng rụng xuống là sẽ là lúc mình lìa đời. Xiu vô cùng lo lắng và hết lòng chạy chữa cho bạn nhưng vô ích, Giôn-xi vẫn bi quan như vậy. Cô gái tội nghiệp âm thầm đếm từng chiếc lá.

Biết được ý nghĩ điên rồ đó của Giôn-xi, cụ Bơ-men rất giận, la mắng Giônxi, nhưng cuối cùng cụ Bơ-men đã làm ra một việc thật sự vô cùng vĩ đại và cao cả. Cụ âm thầm thức suốt đêm mưa gió bão bùng để vẽ chiếc lá thường xuân. Chiếc lá cuối cùng giống như thật. Nó đã không rụng trong đêm bão lớn khiến Giôn-xi suy nghĩ lại, cô hi vọng và muốn được sống, được sáng tạo. Giôn-xi từ cõi chết trở về nhưng cụ Bơ-men lại chết vì bệnh sưng phổi sau đêm sáng tạo kiệt tác chiếc lá cuối cùng để cứu Giôn-xi. Xiu lặng lẽ đến bên Giôn-xi báo cho bạn về cái chết của cụ Bơ-men và bí mật của chiếc lá cuối cùng

Trước kia Giôn-xi cũng là một cô gái có nghị lực sống rất mạnh mẽ. Giôn-xi từng mơ ước sẽ vẽ một bức tranh về vịnh Na-plơ nhưng rồi ước mong bình dị ấy của cô lại không được thực hiện khi căn bệnh sưng phổi khiến cô nghèo nàn cả về vật chất lẫn tinh thần. Tâm lý cô bất ổn, cô rơi vào trạng thái tuyệt vọng vô cùng, mất hết nghị lực sống, chờ đón cái chết một cách bình thản. Hằng ngày cô ngồi trên giường bệnh đếm những chiếc lá của cây leo bám bên kia tường, nghĩ rằng mình sẽ như chúng, cũng sẽ không cưỡng lại được với mùa đông lạnh lẽo. Khắp con người Giôn-xi, chỉ còn đôi mắt có tia hy vọng của sự sống, nhưng đôi mắt ấy cứ trân trân nhìn cái đầu hồi nhà gạch bên cạnh. Cái nhìn trân trân, bất động khiến cho mọi hoạt động như ngừng lại, màu sắc của bức tranh cuộc sống của cô trông càng ảm đạm hơn.

Mất hết ý chí, nghị lực, Giôn-xi có những suy nghĩ lạ lùng, bi quan. Cô chắc mẩm rằng, sự sống đối với cô giờ đây là một điều xa xỉ. Hơn thế cô lại bị ám ảnh bởi suy nghĩ chiếc lá cuối cùng ngoài kia rơi xuống cũng là khi cô bắt buộc phải rời bỏ thế giới này khiến tâm bệnh của cô còn trầm trọng hơn thực bệnh Đối với Giôn-xi, chiếc lá là biểu tượng của thước đo thời gian, thước đo cuộc đời cô. Đó là một suy nghĩ điên rồ, bi quan nhưng với tình cảnh của Giôn-xi thì nó lại rất hợp lý. Giôn-xi là một họa sĩ có tâm hồn nhạy cảm. Cô bị giày vò bởi sự bất lực của bản thân, cô phải sống dựa dẫm vào người khác.

Và sự hy sinh của cụ Bơ- men đối với Giôn-xi là điều thực sự cao cả. Chiếc màn xanh mà hàng ngày Giôn-xi nắm giữ, để kéo lên, để trông chiếc lá, để xem sự phán quyết của chiếc lá đối với cuộc đời mình, chiếc màn xanh được kéo lên và chiếc lá vẫn còn đó. Có một cái gì đó làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đấy… rồi hi vọng một ngày nào đó sẽ được về vịnh Na – plơ lại trỗi dậy trong cô. Cùng với niềm hi vọng ấy, nhựa sống lại được lên men, nghị lực và mầm sống lại hồi sinh

Tác phẩm kiệt xuất của cụ Bơ-man mà cụ đã vẽ nó vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng. Vì tác phẩm kiệt xuất ấy, vì sự sống của Giôn-xi cụ Be-man đã không ngần ngại đổi nó bằng cuộc sống của chính mình. Nghệ thuật chân chính chất chứa tinh thần nhân đọa và sức mạnh hồi sinh. Nó đã thức dậy niềm tin vào cuộc sống cho Giôn-xi và cho cả tất cả người đọc.

“Chiếc lá cuối cùng” là kiệt tác đầu tiên và cũng là duy nhất trong đời cụ Bơ- men. Kiệt tác xuất phát từ tình yêu thương cao cả, tấm lòng đồng cảm sâu sắc của những con người nghèo khổ với nhau và sức sống mãnh liệt của chiếc lá đó đã gieo vào lòng Giôn- xi một tia sáng của niềm tin và hi vọng để Giôn- xi vượt qua cái chết. Sức mạnh của nó là vô cùng to lớn.

O Henry (1862-1910) là một nhà văn nổi tiếng của Mỹ, với gia tài các tác phẩm đồ sộ. Ông không được học hành nhiều, thế nhưng chính cuộc sống cơ cực, vất vả phải buôn ba nhiều đã trở thành tư liệu, trải nghiệm giúp ông sáng tạo ra các tác phẩm có giá trị. Đề tài chính của O Henry là những người Mỹ có cuộc sống chật vật, bất hạnh và khổ sở, với cách viết truyện đảo ngược tình huống đầy bất ngờ, hấp dẫn khiến độc giả ấn tượng và có cái nhìn khác biệt về giá trị của tác phẩm. Chiếc lá cuối cùng là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của O Henry, viết về giới họa sĩ nghèo khổ ở nước Mỹ lúc bấy giờ, với 3 nhân vật chính là cụ Bơ-men, hai nữ họa sĩ trẻ là Giôn- xi và Xiu. Dù sống trong cuộc sống bần hàn khó khăn, nhưng ở họ đều hiện lên những nét đẹp đáng quý, đáng trọng, bên cạnh sự nhân hậu, hy sinh của cụ Bơ-men hay tấm lòng, yêu thương bạn sâu sắc của Xiu. Thì nhân vật Giôn-xi hiện lên với những nét tâm trạng rất đời của một bệnh nhân đang tuyệt vọng và bước dần đến cái chết, cùng với sự hồi sinh và nghị lực sống thần kỳ của cô.

Câu chuyện được mở ra trong bối cảnh một khu nhà 3 tầng, cũ nát tồi tàn, tại thủ đô Oa-sinh-tơn, nước Mỹ, nơi đó có sự trú ngụ của một họa sĩ già là cụ Bơ-men, người vẫn luôn day dứt vì chưa vẽ được một tác phẩm nào để đời. Sống bên trên cụ là hai nữ họa sĩ Xiu và Giôn-xi họ đều là những cô gái, lương thiện, hiền lành và sống bình lặng. Nhưng thật không may rằng, Giôn-xi bất hạnh đã bị bệnh sưng phổi, phần vì bệnh nặng, phần vì túng thiếu không có tiền thuốc men, thế nên bệnh trạng của cô mãi không có tiến triển tốt. Sự đau đớn của bệnh tật, cộng với bế tắc trong cuộc sống, khiến Giôn-xi mất hết niềm tin vào sự sống, mặc cho có sự chăm sóc của người chị em tốt là Xiu bên cạnh. Cô phó thác số mạng của mình vào cái dây thường xuân đang rụng lá, ngày ngày đếm từng chiếc lá, và nghĩ rằng đến khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cũng là lúc cô lìa đời. Thực tế rằng tâm hồn nghệ sĩ không phải là xấu, nhưng đối với bệnh tình của Giôn-xi lại là một chuyện xấu vô cùng.

Giôn-xi thực là một cô gái tội nghiệp, bệnh nặng và nghèo khó đã bào mòn hết sự kiên trì níu giữ cuộc sống bên trong tâm hồn cô, người con gái trẻ tuổi ấy hoàn toàn tuyệt vọng và nghĩ rằng chỉ có cái chết mới có thể giải thoát tất cả. Sự suy sụp của cô đến một cách mạnh mẽ và nhanh chóng mà những con người như Xiu không tài nào cứu rỗi được bằng những lời quan tâm, hay sự chăm sóc ân cần. Bởi lẽ Giôn-xi đã đặt hết niềm tin cũng như sự sống của mình vào cái dây thường xuân đang rụng lá trước cửa sổ rồi. Buổi tối hôm trước trước khi kéo màn đi ngủ, Giôn-xi đã hướng đôi mắt ra ngoài và đếm thấy còn lại 4 chiếc lá, lá càng ít đi thì ý muốn sống sót của Giôn-xi càng tụt xuống không thể cứu vãn, và cô đã chuẩn bị tâm thế sẵn sàng để thần chết tới mang mình đến bên kia thế giới mà không màng tới sự đau khổ, buồn rầu của người bạn, cũng như sự tức giận của cụ Bơ-men về cái suy nghĩ ngớ ngẩn của mình (thực tế là cô không biết điều này và cũng không đủ tỉnh táo để nhận ra nó là một suy nghĩ xuẩn ngốc).

Trong lần đầu tiên, Giôn-xi giục Xiu kéo mành lên, rõ ràng cô đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc từ bỏ thế gian, giọng nói lạnh lùng lùng, cương quyết, mặc cho sự chần chừ sợ hãi của người bạn. Giôn-xi chỉ mong xem có còn lá không, chỉ mong tạo hóa sớm chấm dứt cuộc sống khốn khổ của mình bằng cách cho gió thổi bay hết 4 chiếc lá còn sót lại, nhưng thật may mắn vẫn còn một chiếc lá bám trụ trên dây thường xuân, kiên cường, trơ trọi. Không hiểu cô gái ấy đã có tâm trạng gì khi nhìn thấy chiếc lá cuối cùng ấy, một chút thất vọng, một chút vui mừng hoặc là một cái gì khác nữa. Nhưng chuyện còn sót lại một chiếc lá sau đêm mưa cũng chẳng khiến Giôn-xi thay đổi ý niệm về cuộc đời mình, cô vẫn lạnh lùng quả quyết rằng “hôm nay nó sẽ rụng thôi và lúc đó thì em sẽ chết”. Lại một đêm mưa bão dồn dập, cứ ngỡ rằng lá sẽ rụng, Giôn-xi vẫn tàn nhẫn quyết tâm bắt Xiu kéo tấm mành chắn lên, và chỉ trong một khoảnh khắc đó, có cái gì đã vỡ ra trong tâm trí của cô gái trẻ. Cô đã tỉnh ngộ, đã nhận thức được rằng chiếc lá yếu đuối kia, vàng vọt kia trải qua bao bão tố, bao nhiêu đêm mưa thế mà vẫn cứ kiên cường bám trụ lấy sự sống, quyết không chịu để gió bẻ gãy. Còn bản thân cô thì sao quyết lìa đời, từ bỏ sự sống, tàn nhẫn với bản thân và mặc kệ sự đau đớn của người bên cạnh, thực ích kỷ biết bao nhiêu. Giôn-xi nhận thức được cái suy nghĩ tệ hại của bản thân “muốn chết là một tội”, cô lập tức phấn chấn, niềm khao khát sống lại đầy ắp trong cô gái trẻ tuổi, cô muốn ăn cháo, uống sữa pha rượu vang đỏ sau bao ngày không thiết tha gì. Tâm hồn thiếu nữ sống dậy với khao khát làm đẹp dung nhan khi nhờ Xiu đưa cho chiếc gương, và lòng quan tâm đến cuộc sống khi nhờ Xiu xếp gối xung quanh để xem chị nấu nướng. Không chỉ hồi sinh ham muốn sống sót mà ở cô còn tạo dựng lại cho mình tình yêu đối với nghệ thuật, thứ mà cô bỏ ngỏ kể từ khi bệnh tật, Giôn-xi mong muốn một ngày nào đó sẽ được vẽ vịnh Na-plơ. Đây có thể xem là một điểm nhấn đắt giá mà OHenri đã tạo ra trong quá trình hồi sinh nhân vật này, “một ngày nào đó” tức là một mốc ước định của tương lai, còn vịnh Na-plơ lại là một vịnh nổi tiếng nằm ở nước Ý xa xôi. Như vậy nhân vật Giôn-xi muốn vẽ nó tức là trong lòng cô đã có những khao khát sống còn mãnh liệt, cô muốn khỏi bệnh, muốn được sống đến khi có điều kiện đi đến đất nước xinh đẹp kia bằng đôi chân của mình để thực hiện ước mơ nghệ thuật của mình. Còn có sự hồi sinh nào tuyệt vời đối với người nghệ sĩ hơn là sự hồi sinh của tình yêu nghệ thuật nữa? Cuối cùng hai cô gái đã cùng nhau chiến thắng bệnh tật, Giôn-xi hồi phục và hí hoáy đan một chiếc khăn màu xanh vô dụng. Cùng lúc đó cô gái cũng nhận được tin tức về cái chết nhanh chóng của cụ Bơ-men, mà qua lời kể của Xiu thì hẳn cô cũng đã nhận ra lý do của sự ra đi đột ngột này là vì bản thân cô. Như vậy có thể nói rằng mạng sống của Giôn-xi đã được kéo lại nhờ tấm lòng nhân ái của cụ Bơ-men, sự chăm sóc của Xiu, sự kiên cường kỳ lạ của chiếc lá và cuối cùng chính là ý chí sống còn mạnh mẽ của chính bản thân cô. Hẳn rằng sau khi biết chuyện cụ Bơ-men, Giôn-xi sẽ càng trân quý mạng sống của mình hơn và không bao giờ còn cái suy nghĩ phó thác ngu ngốc như trước đó nữa.

Với nhân vật Giôn-xi, ban đầu hẳn nhiều độc giả cũng vừa thương vừa bực tức với cái suy nghĩ xuẩn ngốc của cô gái trẻ như cụ Bơ-men, nhưng sau đó người ta lại càng khâm phục hơn cái nghị lực sống còn, tấm lòng yêu cuộc sống, yêu nghệ thuật được hồi sinh của cô gái trẻ. Câu chuyện của Giôn-xi chính là bài học đáng quý cho tất cả mọi người, đặc biệt là những ai đang chịu cảnh bế tắc, sinh tử mong manh rằng chỉ cần có nghị lực, có ý chí quyết tâm sống còn thì tạo hóa sẽ chẳng nỡ để chúng ta rời khỏi thế gian trong nuối tiếc, và hơn thế nữa xung quanh ta còn biết bao nhiêu con người nhân hậu, dũng cảm, sẵn lòng yêu thương chúng ta vô điều kiện chẳng hạn như cụ Bơ-men, chị Xiu.

Truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen ri là một truyện ngắn vô cùng thành công thể hiện tinh thần nhân văn cao của tác giả với những số phận nghèo khổ trong cuộc sống.

Nhân vật Giôn xi là một người gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống. Cô là một sinh viên trường mỹ thuật, hoàn cảnh vô cùng khó khăn, sống cùng với người bạn của mình là Xiu. Một lần Giôn xi không may bị mưa, nên vướng bệnh phong hàn.

Giôn xi thật ra chỉ là một người mắc bệnh viêm phổi, đáng lý ra sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như được chạy chữa thuốc thang. Nhưng do gia cảnh khó khăn, nên không có tiền chạy chữa thuốc men, bệnh tình ngày một nặng hơn.

Giôn xi tuyệt vọng thường ngồi bên chiếc giường gần cửa số đếm những chiếc lá rơi. Giôn xi thường nghĩ nếu một ngày chiếc lá cuối cùng rơi mất thì cô cũng chết. Sự tuyệt vọng của Giôn xi đã tới tận cùng nên cô mới tin vào một điều vô lý như vậy, nương tựa tinh thần của mình vào những chiếc lá.

Nhà văn O’ Henry đã gửi gắm tấm lòng nhân đạo của mình vào nhân vật Giôn xi. Trong tác phẩm Chiếc lá cuối cùng là một tác phẩm vô cùng xuất sắc.

Một xã hội với những người nghệ sĩ nghèo nhưng có tấm lòng vô cùng nhân đạo. Ông cụ già Bơ Men là một người yêu nghệ thuật ông thường mơ ước có thể sáng tác một tác phẩm để đời. Nhưng cuộc sống nghèo khổ đã khiến ông phải đi làm mẫu vẽ cho những nghệ sĩ mới vào nghề kiếm vào đồng tiền lẻ sống qua ngày.

Giôn xi và Xiu là người bạn cùng học một trường cùng thuê một phòng trọ. Từ này Giôn xi bị ốm Xiu đã chăm sóc bạn của mình vô cùng tốt. Nhưng Giôn xi đã mất đi tinh thần, mất hết đi tinh thần chống chọi lại với sự sống.

Nàng đã mất hết nghị lực chống chọi với cuộc sống, chỉ còn chờ đợi cái chết đến với mình, phó mặc sự sống của đời mình vào những chiếc lá, không gian trở nên vô cùng nhỏ bé, sự vật quá tĩnh lặng, trong đôi mắt, là sự tuyệt vọng, không có chút dấu hiệu nào của sự sống.

Chính thể trạng tinh thần, nghị lực yếu đuối, làm cho Giôn xi có những suy nghĩ lạ lùng, phó mặc thân mình cho những chiếc lá bi quan tuyệt vọng. Giôn xi luôn có cảm giác cái chết đang đến thật gần.

Bệnh của Giôn xi ngày càng nặng cô ít hy vọng sống lại được. Giôn xi bị ám ảnh bởi những chiếc lá đang lìa cành. Một ngày chỉ còn lại duy nhất một chiếc lá trên cành Giôn xi nghĩ rằng chỉ qua đêm nay thôi thì chiếc lá cuối cùng sẽ rụng mất và cô cũng như chiếc lá kia sẽ phải chết.

Nhưng hôm sau, qua một giấc ngủ dài mộng mị, Giôn xi đã tỉnh dậy và việc đầu tiên cô làm là mở cửa sổ, những chiếc lá kia vẫn còn trên cành, những ngày hôm sau chiếc lá vẫn vẹn nguyên. Việc chiếc lá cuối cùng dũng cảm chống chọi lại với cả một mùa đông lạnh giá mưa tuyết, khiến cho Giôn xi bắt đầu có tinh thần trở lại. Cô cũng bắt đầu hy vọng, mong mình sẽ khỏi bệnh, có thể đi khắp nơi và vẽ những bức tranh đẹp.

Advertisement

Nhưng chiếc kia vẫn tồn tại theo thời gian, rồi một ngày Giôn xi đã khỏi bệnh, chiếc lá tầm xuân vẫn còn đó. Theo thời gian Giôn xi đã khỏe lại. Một ngày cô có thể tới bên cạnh chiếc lá, cô nhìn chiếc lá dũng cảm đó một lần thật kỹ thì biết rằng đó chính là một bức tranh.

Sau khi, tìm hiểu Giôn xi biết được là bức tranh chiếc lá cuối cùng chính là do ông lão Bơ Men và ông ấy đã đứng suốt một đêm giữa mưa tuyết để vẽ bức tranh thành công, ngày hôm sau ông cụ Bơ Men khốn khổ đó đã qua đời.

Nhưng sự hy sinh đó của ông không hề uổng phí bởi tác phẩm là ông Bơ Men vẽ đã mang lại niềm tin, sự hồi sinh cho Giôn xi khiến cô có sức mạnh chiến thắng bệnh tật.

Nghệ thuật chân chính mang lại sự hồi sinh, cho con người đó chính là chân lý mà tác phẩm chiếc lá cuối cùng mang tới cho người đọc, thể hiện sự nhân văn nhân đạo của tác giả O Hen ri.

Trong truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng”, nhận vật Giôn-xi đang ở trong tình huống ngặt nghèo: cô bị viêm phổi, nằm liệt giường. Bác sĩ nói: “Bệnh tình của cô ấy có thể nói là mười phần chỉ còn hy vọng được một thôi”. Cô là một họa sĩ nghèo, không có tiền, chưa từng thành công trong sự nghiệp. Giôn-xi không có một sợi dây ràng buộc nào đáng kể với cuộc sống.

Cảnh ngộ ấy khiến Giôn-xi nhanh chóng rơi vào tuyệt vọng. Tất cả khát vọng, niềm tin và hi vọng của cô gần như đã tan biến hết. Thay vào đó là trạng thái buông xuôi, phó thác số phận cho thượng đế. Giôn-xi cảm thấy mình bất hạnh, bất lực trước bệnh tật, không tha thiết với cuộc sống, đó là tâm trạng chán nản của kẻ chờ đợi phút chia tay với cuộc đời.

Nhìn những chiếc lá thường xuân, Giôn-xi có những dự cảm mình sẽ chết. Đáng sợ hơn là Giôn-xi không cảm thấy luyến tiếc cuộc sống. Tâm hồn cô đã chuẩn bị sẵn sàng cho một chuyến đi xa, chỉ chờ cho chiếc lá thường xuân bé nhỏ đang quằn quại trong gió lạnh kia rụng xuống.

Sự sụp đổ về tinh thần của cô hoạ sĩ trẻ bất hạnh làm cho bệnh tình ngày thêm trầm trọng. Cuộc sống của Giôn-xi giờ đây được ví như chiếc lá nhỏ nhoi, yếu ớt, mảnh mai kia. Và cuộc đấu tranh để bảo vệ cái cuộc sống nhỏ nhoi, yêu ớt ấy là một cuộc đấu tranh với sự chiến thắng tuyệt vời của tình người.

Cô bệnh nhân ấy “yên trí là mình không thể khỏi được” đã bình thản lạnh lùng làm vái việc nhìn qua cửa sổ trong tư thế nằm trên giường bệnh đếm từng chiếc lá thường xuân đang rụng dần trong gió lạnh. Đối với Giôn-xi: chiếc lá là biểu tượng của thước đo thời gian, thước đo cuộc đời. Cuộc đời của cô, cô đã xây dựng cho mình một niềm tin bất hạnh: cô sẽ ra đi khi chiếc lá thường xuân cuối cùng rụng xuống. Một niềm tin định mệnh đớn đau. “Trong khắp thế gian, cái cô đơn nhất là một tâm hồn đã chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi xa xôi bí ẩn của mình. Những sợi dây ràng buộc cô với tình bạn, với thế gian này cứ lơi lỏng dần từng cái một thì ý nghĩ kì quặc kia hình như lại càng choán lấy tâm trí cô mạnh mẽ hơn”.

Sự so sánh cuộc đời con người với chiếc lá mong manh trước làn gió mạnh trong giá rét phũ phàng của mùa đông là một sự so sánh tuyệt vời sâu sắc. Đồng thời nó cũng nói lên sự đồng cảm xót xa của nhà văn trước đồng loại. Nghèo thường đi đôi với hèn, nhưng ở đây không phải là hèn trong phẩm cách mà là yếu đuối trong niềm tin, trong bản lĩnh. Trong cuộc sống tựa vai vào người khác như vậy, Giôn-xi tự cảm thấy mình là gánh nặng cho người khác, cô đau khổ tự giầy vò vì thấy người khác phải chăm sóc mình, phải bận tâm vì mình.

Niềm hi vọng ở đây duy nhất cô đặt cả vào chiếc lá thường xuân vàng úa, mỏng manh, nhỏ nhoi đang quằn quại trong gió lạnh. Cuộc đời của cô sẽ chấm dứt khi chiếc lá cuối cùng đó lìa cành. Đây quả là một sự so sánh tuyệt vời rất phù hợp với kiểu tư duy hình tượng Đông phương. Cuộc đời được ví với những cái mảnh mai yếu ớt, để đổ, dễ vỡ, là ngọn đèn cạn dầu leo lét trước gió. Và cuộc đấu tranh để bảo tồn cái nhỏ nhoi ấy, để bảo vệ cái yếu ớt ấy là phẩm chất tuyệt vời của tình người.

Văn Mẫu Lớp 8: Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ (24 Mẫu) Tóm Tắt Trong Lòng Mẹ Của Nguyên Hồng

Đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng gợi cho người đọc thật nhiều cảm xúc, thấy được sự thiêng liêng, cao cả của tình mẫu tử. Chi tiết mời các em cùng theo dõi 24 mẫu tóm tắt Trong lòng mẹ ngắn gọn, súc tích để ngày càng học tốt môn Văn 8.

Tóm tắt văn bản Trong lòng mẹ hay nhất

Tóm tắt Trong lòng mẹ siêu ngắn

Tóm tắt Trong lòng mẹ ngắn gọn (3 mẫu)

Tóm tắt Trong lòng mẹ chi tiết (20 mẫu)

Tóm tắt Trong lòng mẹ siêu ngắn

Đoạn trích là dòng hồi ức về mẹ trích từ tập hồi kí Những ngày thơ ấu. Trong đoạn trích là cuộc nói chuyện giữa cậu bé Hồng và bà cô cay nghiệt về mẹ của cậu. Ở cuối đoạn trích, Hồng đã được gặp mẹ mình sau bao nhiêu tủi cực.

Tóm tắt Trong lòng mẹ ngắn gọn Tóm tắt 1

Hồng là một cậu bé có cảnh ngộ đáng thương: bố mới mất, mẹ tha hương cầu thực, em phải sống trong sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của người cô. Người cô độc ác luôn reo rắc vào đầu em những điều xấu xa về mẹ để em khinh miệt, ruồng rẫy mẹ. Bà cô còn bảo em vào Thanh Hóa tìm mẹ và em bé. Nhưng dù thế nào đi nữa, em vẫn luôn yêu thương và tin tưởng mẹ. Chiều hôm đó, khi tan học, em chợt thấy thoáng một bóng người giống mẹ. Bé Hồng đã không kìm được lòng mà chạy theo gọi mẹ. Khi người mẹ quay đầu lại, em được mẹ ôm vào lòng, vuốt ve như ngày còn bé làm em thấy hạnh phúc và quên đi những lời độc ác của bà cô.

Tóm tắt 2

Hồng là một chú bé mồ côi cha, mẹ thì bỏ nhà đi tha hương cầu thực. Nên Hồng phải chịu sự giả dối của họ hàng nhất là bà cô của chú. Một hôm cô của chú mở lời kêu chú vào Thanh Hoá chơi với mẹ. Khi biết cô mình đang đóng kịch nên chú không đáp lại. Tưởng là đã xong ai ngờ bà cô lại đánh thêm một đòn tâm lý nữa là ngân dài chữ em bé làm cho chú nghẹn ứ cổ họng. Gần đến đoạn tang thầy thì từ trên trường chú đã thấy thấp thoáng hình ảnh của mẹ trên xe kéo thì chú gọi nhưng lại sợ là không phải là mợ mình. Khi biết đó là mợ mình thì chú đã nằm lên người mợ chú và quên đi những lời nói của bà cô.

Tóm tắt 3

Bé Hồng là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng, chú lớn lên trong không khí giả dối, lạnh lẽo của gia đình không hạnh phúc. Khi cha mất, người mẹ sau khi đã chôn vùi tuổi xuân bên người chồng nghiện ngập đã bỏ đi tha hương cầu thực. Hồng phải sống trong sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của họ hàng, đặc biệt của người cô độc ác luôn reo rắc vào đầu cậu những điều xấu xa về mẹ. Bằng tình yêu thương bé Hồng vẫn luôn tin mẹ đúng, và thương nhớ mẹ. Cuối cùng mẹ cũng trở về, Hồng được mẹ âu yếm, vỗ về.

Tóm tắt Trong lòng mẹ chi tiết Tóm tắt 1

Cha mất, mẹ bé Hồng bỏ đi vào Thanh Hóa tha hương cầu thực để lại em sống với bà cô cay nghiệt. Bà ta luôn gieo rắc vào đầu em những ý nghĩ xấu về mẹ của mình. Đỉnh điểm bà ta còn bị ra chuyện mẹ em có em bé, cuộc sống bần hàn, khổ sở. Tuy nhiên, Hồng vẫn tin tưởng tuyệt đối vào mẹ mình và căm phẫn sự cay nghiệt của người cô. Em luôn mong mẹ về. Đến gần ngày giỗ cha, em nhìn thấy một người ngồi trên xe kéo giống mẹ mình, em đánh liều gọi tên và chạy theo với niềm hi vọng nhỏ nhoi đó là mẹ của mình. Chiếc xe đi chậm và dừng lại, mẹ dang tay đón Hồng vào lòng, trong lòng mẹ, em trào dâng những giọt nước mắt.

Tóm tắt 2

Chú bé Hồng sinh ra là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng không tình yêu: Người bố nghiện ngập, người mẹ trẻ trung luôn khao khát tình yêu thương song đành chôn vùi tuổi xuân bên người chồng nghiện ngập. Cuối cùng người bố chết, người mẹ bỏ lại hai anh em Hồng để đi “tha hương cầu thực” trong sự ghẻ lạnh của họ hàng. Còn bà cô bên nội thì luôn gieo rắc vào đầu chú bé những rấp tâm tanh bẩn để chú cũng hoài nghi và ghét bỏ người mẹ của mình. Nhưng Hồng không những không ghét mẹ mà còn hiểu, thông cảm cho mẹ, lại còn càng ghét những cổ tục đã đày đọa mẹ. Chiều hôm ấy khi vừa tan học, thoáng thấy bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ, chú liền gọi theo với giọng bối rối. Khi người mẹ quay đầu lại, Hồng liền sà vào lòng mẹ rồi hai mẹ con cùng sụt sùi hỏi thăm nhau. Khi ở trong lòng mẹ, chú chẳng còn mảy may đến những lời nói thâm độc của bà cô nữa

Tóm tắt 3

Chú bé Hồng có một tuổi thơ đầy bất hạnh: Bố chết sớm vì nghiện ngập, mẹ vì cảnh cùng túng quá phải bỏ con đi tha hương cầu thực, chú sống với bà cô cay nghiệt. Một hôm, bà cô gọi Hồng đến và hỏi có muốn vào Thanh Hoá với mẹ không. Nhận ra vẻ mặt rất kịch và tâm địa độc ác của bà cô, Hồng nén lại niềm thương nhớ mẹ và trả lời không muốn vào. Nhưng bà cô vẫn cố tình kể chuyện mẹ Hồng khốn khổ, đã có con với người khác làm cho Hồng đau đớn, thương mẹ và căm phẫn những cổ tục đã đầy đọa mẹ mình. Gần đến ngày giỗ bố, trên đường đi học về, Hồng thấy bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ. Chú đã đuổi theo và khi nhận ra mẹ, Hồng đã oà khóc nức nở. Hồng cảm thấy sung sướng và hạnh phúc vô cùng khi được ở trong lòng mẹ. Hồng thấy mẹ vẫn đẹp như ngày nào. Chú đã quên hết mọi lời xúc xiểm của bà cô.

Tóm tắt 4

Sau khi bố mất, mẹ bé Hồng bỏ đi tha hương cầu thực, để bé sống trong sự lạnh lùng, cay nghiệt của họ hàng. Một hôm, người cô hỏi bé Hồng có muốn vào Thanh Hóa thăm mẹ không, bé toan trả lời có nhưng chợt nghĩ đến giọng nói rất kịch và nụ cười xảo trá nên đành im lặng. Chú bé Hồng biết rằng khi nhắc đến mẹ mình, bà cô chỉ muốn gieo rắc vào đầu chú những hoài nghi để “khinh ghét, ruồng rẫy” mẹ. Khi đứa bé khốn khổ sắp khóc, bà cô còn vỗ vai tươi cười: phát tài lắm, có như dạo trước đâu”. Những lời nói ấy không thể làm bé Hồng ghét mẹ, ngược lại chú càng hiểu và cảm thông cho mẹ hơn. Chú bé căm phẫn những cổ tục đọa đày mẹ và muốn “vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát mới thôi”. Đến ngày giỗ thầy, mẹ bé Hồng về đem nhiều quà bánh cho bé. Tan trường, khi thoáng thấy bóng một người ngồi trên xe kéo trong giống mẹ, chú bé đã chạy theo í ới gọi to. Người mẹ tươi cười ôm lấy con mình, cho chú ngồi vào lòng. Trên đường về nhà, trong hơi ấm của mẹ, chú chẳng mảy may đến những lời nói thâm độc của bà cô.

Tóm tắt 5

Sau đám tang thầy, bé Hồng đã đội mũ trắng, cuốn băng đen để tang thầy. Một hôm, cô bé Hồng gọi bé vào nói chuyện riêng. Bà cô vì muốn để cho bé Hồng ghét mẹ mình nên đã kể xấu mẹ Hồng với Hồng bằng giọng ngọt ngào giả tạo khiến cho bé Hồng vô cùng đau lòng, thậm chí bà cô còn bảo bé Hồng vào Thanh Hóa tìm mẹ và em bé. Tuy mẹ đã đi xa lâu lại không viết cho Hồng lấy một lá thư, bé Hồng vẫn kiên quyết bảo vệ và tin tưởng mẹ trước những lời ác ý của bà cô. Ngày hôm sau đi học, khi thoáng thấy bóng người giống mẹ, Hồng đã không kìm được lòng mà chạy đuổi theo gọi mẹ và đó đúng là mẹ Hồng về. Bé Hồng ngồi lên xe, được mẹ ôm vào lòng, vuốt ve như ngày còn bé, mọi đau đớn như tan biến và chỉ còn niềm hạnh phúc khi được nằm trong vòng tay ấm áp của mẹ.

Tóm tắt 6

Hồng cậu bé không được như những gia đình hạnh phúc khác khi từ nhỏ bố mất sớm, con em lại phải sống xa mẹ, còn Hồng cậu bé phải sống với bà cô độc ác và không có tình yêu thương. Một hôm, bà cô gọi Hồng đến và hỏi có muốn vào Thanh Hóa để được gặp mẹ mình hay không. Nhận ra vẻ mặt rất kịch và tâm địa độc ác của bà cô, Hồng cố nén lại niềm thương nhớ mẹ và trả lời không muốn vào. Nhưng bà cô vẫn cố tình kể chuyện mẹ Hồng khốn khổ, đã có con với người khác làm cho Hồng đau đớn, thương mẹ và căm phẫn. Một hôm nọ khi vừa tan học, Hồng thoáng thấy bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ, chú liền gọi theo với giọng bối rối. Khi người mẹ quay đầu lại, Hồng nhận ra đó là mẹ mình liền sà vào lòng mẹ, Hồng cảm thấy sung sướng và hạnh phúc vô cùng khi được ở cùng mẹ, cảm xúc lúc đó tuôn trào bởi vì hay mẹ con đã xa cách lâu ngày, tình mẫu tử như trỗi dậy. Hồng thấy mẹ vẫn đẹp như trước kia. Chú bé Hồng dường như đã quên hết mọi lời cay độc của bà cô của mình trước kia.

Tóm tắt 7

Hồng – cậu bé tội nghiệp sinh ra trong gia đình không hạnh phúc, bố chết sớm vì nghiện ngập, mẹ sau quãng thời gian sinh sống cùng em cũng đã để lại Hồng cho bà cô chăm sóc và tha phương khắp nơi. Sống cùng với bà cô nhưng lúc nào bà cô luôn gieo rắc vào đầu cậu bé về một người mẹ xấu, với mục đích khiến cho cậu bé nghĩ xấu về mẹ. Nào là mẹ sống rách rưới, nghèo khổ và xấu hổ với người khác. Càng nghe Hồng càng thương và thông cảm cho mẹ mình, đồng thời căm ghét người cô xấu xa. Một buổi chiều, sau khi tan học, Hồng thấy bóng dáng ai quen thuộc ngồi trên xe kéo, Hồng chạy theo gọi một cách bối rối, xe chạy chậm lại và người mẹ cầm nón vẫy với Hồng. Hai mẹ con gặp nhau xúc động, Hồng sà vào lòng mẹ và cảm nhận được tình cảm, sự yêu thương của mẹ. Trong giây phút đó mọi lời nói xấu của bà cô chẳng có nghĩa lý gì với cậu.

Tóm tắt 8

Sau đám tang thầy, chú bé Hồng đã đội mũ trắng, quấn băng đen để tang thầy. Một hôm, người cô gọi chú bé vào nói chuyện riêng. Bà cô vì muốn để cho bé Hồng ghét mẹ mình nên đã kể xấu mẹ Hồng với Hồng bằng giọng ngọt ngào giả tạo khiến cho bé Hồng vô cùng đau lòng, thậm chí bà cô còn bảo chú bé vào Thanh Hóa tìm mẹ và em bé. Tuy mẹ đã đi xa lâu lại không viết cho Hồng lấy một lá thư, bé Hồng vẫn kiên quyết bảo vệ và tin tưởng mẹ trước những lời ác ý của bà cô. Ngày hôm sau đi học, khi thoáng thấy bóng người giống mẹ, Hồng đã không kìm được lòng mà chạy đuổi theo gọi mẹ và đó đúng là mẹ Hồng về. Bé Hồng ngồi lên xe, được mẹ ôm vào lòng, vuốt ve như ngày còn bé, mọi đau đớn như tan biến và chỉ còn niềm hạnh phúc khi được nằm trong vòng tay ấm áp của mẹ.

Tóm tắt 9

Sau cuộc hôn nhân đổ vỡ với người chồng nghiệp ngập, mẹ của Hồng bỏ đi làm ăn khắp nơi, để lại cậu sống cùng với người cô độc ác, nham hiểm. Họ hàng dị nghị và cay nghiệt với người mẹ đã khiến người mẹ này không thể trở về bên con. Trong cuộc sống, Hồng luôn chịu thiệt thòi và tiêm nhiễm những điều xấu từ bà cô, bà cô lúc nào cũng nói xấu mẹ của Hồng như nghèo đói, xấu hổ không dám gặp ai…Tuy nhiên cậu không buồn mà càng thương mẹ và căm ghét những người họ hàng. Sau buổi học, cậu vô tình thấy ai như mẹ mình, Hồng chạy theo và nhận ra đó là mẹ, giây phút gặp gỡ giữa mẹ và Hồng vô cùng cảm động. Chính tình cảm mẫu tử đã giúp Hồng luôn yêu thương mẹ bất chấp người cô có nói gì đi chăng nữa.

Tóm tắt 10

Cậu bé Hồng ra đời là kết quả của tình yêu không trọn vẹn khi bố nghiện mất sớm, người mẹ dẫu khát khao hạnh phúc nhưng chôn vùi hạnh phúc bên chồng nghiện ngập. Sau khi chồng mất, người mẹ bỏ con lại mưu sinh khắp nơi. Hồng sống cùng với bà cô, tuy nhiên bà cô lúc nào cũng nói những lời cay nghiệt về mẹ của cậu, gieo rắc hoài nghi về một người mẹ xấu. Tuy nhiên Hồng luôn thương mẹ và căm ghét những người họ hàng kia. Vào một buổi chiều cậu bắt gặp hình dáng như mẹ của mình, Hồng chạy theo và nhận ra đó là mẹ của mình, cậu bối rối và xúc động liền sà vào mẹ, cậu cảm nhận được tình cảm thiêng liêng của gia đình. Ngay lúc đó những lời cay nghiệt của bà cô không còn giá trị gì với cậu.

Tóm tắt 11

Chú bé Hồng là một cậu bé mồ côi cha, mẹ thì bỏ nhà đi tha hương cầu thực. Nên Hồng phải chịu sự giả dối của họ hàng nhất là bà cô của chú. Một hôm cô của chú mở lời kêu chú vào Thanh Hoá chơi với mẹ. Khi biết cô mình đang đóng kịch nên chú không đáp lại. Tưởng là đã xong ai ngờ bà cô lại đánh thêm một đòn tâm lý nữa là ngân dài chữ em bé làm cho chú nghẹn ứ cổ họng. Gần đến đoạn tang thầy thì từ trên trường chú đã thấy thấp thoáng hình ảnh của mợ trên xe kéo thì chú gọi nhưng lại sợ là không phải là mợ mình. Khi biết đó là mợ mình thì chú đã nằm lên người mợ chú và quên đi những lời nói của bà cô.

Tóm tắt 12

Đã gần đến ngày giỗ đầu bố Hồng, cậu lại rất thương và nhớ mẹ mình thì một hôm, người cô gọi cậu đến và hỏi có muốn gặp mẹ, gặp “em bé” ko. Sau đó, bà ta làm cho Hồng đau lòng bằng cách nói về cuộc sống của mẹ Hồng (rách rưới, nghèo khổ đi bán hàng, thấy người quen ko dám chào). Bà ta càng nói Hồng càng im lặng và cậu bắt đầu khóc. Cậu càng thấy thương mẹ, càng căm ghét những hủ tục lạc hậu hơn là ghét mẹ trước những lời bôi nhọ mẹ mình của bà cô thâm hiểm, tàn nhẫn. Một hôm, trên đường đi học về, Hồng thoáng thấy một người ngồi trên xe kéo rất giống mẹ. Hồng liền đuổi theo và gọi to. Vài giây sau, Hồng đuổi kịp xe kéo. Và nhận ra đúng là mẹ mình. Hồng òa khóc nằm trong lòng mẹ. Cậu cảm nhận được tất cả vẻ đẹp, sự yêu thương và dịu dàng của mẹ. Cậu quên hết mọi lời nói độc ác của bà cô, chỉ còn niềm xúc động và tình yêu thương mẹ vô bờ.

Tóm tắt 13

Chú bé Hồng – nhân vật chính trong đoạn trích sinh ra là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng không tình yêu: Người bố nghiện ngập, người mẹ trẻ trung luôn khao khát tình yêu thương song đành chôn vùi tuổi xuân bên người chồng nghiện ngập. Cuối cùng người bố chết, người mẹ bỏ lại hai anh em Hồng để đi “tha hương cầu thực” trong sự ghẻ lạnh của họ hàng. Còn bà cô bên nội thì luôn gieo rắc vào đầu chú bé những rấp tâm tanh bẩn để chú cũng hoài nghi và ghét bỏ người mẹ của mình. Nhưng Hồng không những không ghét mẹ mà còn hiểu, thông cảm cho mẹ, lại còn càng ghét những cổ tục đã đày đọa mẹ. Chiều hôm ấy khi vừa tan học, thoáng thấy bóng người ngồi trên xe kéo giống mẹ, chú liền gọi theo với giọng bối rối. Khi người mẹ quay đầu lại, Hồng liền sà vào lòng mẹ rồi hai mẹ con cùng sụt sùi hỏi thăm nhau. Khi ở trong lòng mẹ, chú chẳng còn mảy may đến những lời nói thâm độc của bà cô nữa.

Tóm tắt 14

“Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng đã kể về cuộc đời của bé Hồng. Từ nhỏ, Hồng phải sống xa cha mẹ và chịu sự ruồng bỏ của họ hàng. Sau khi cha qua đời, mẹ Hồng đã bỏ quê mà đi mong kiếm cái ăn. Từ đó, Hồng luôn phải sống trong sự lạnh lẽo, cay nghiệt của gia đình họ hàng. Đặc biệt, người cô bé Hồng là người phụ nữ cay nghiệt, độc ác và luôn nói xấu về mẹ bé Hồng. Có một lần, cô bé Hồng gọi bé lại hỏi có muốn vào Thanh Hóa thăm mẹ không, bé Hồng đã muốn trả lời là có. Nhưng vì người cô này vốn rất xảo quyệt nên em đành im lặng. Bé hiểu rõ, người cô này chỉ muốn bé căm hận và ghét mẹ mình. Nhưng, dù người cô nói xấu thế nào, bé Hồng vẫn luôn yêu thương mẹ của mình. Bé Hồng thầm căm ghét những hủ tục khiến mẹ bé phải khổ. Đến ngày giỗ cha bé Hồng, mẹ bé trở về. Mẹ con gặp nhau, bé Hồng nằm trọn trong vòng tay mẹ, và không thèm để ý đến những lời nói trước kia của bà cô.

Tóm tắt 15

Sau khi cha mất, mẹ bé Hồng bỏ nhà ra đi. Sống xa cha mẹ từ nhỏ, bé Hồng đã phải chịu mọi sự ghẻ lạnh, cay nghiệt từ họ hàng. Đặc biệt, bé có một người cô rất tàn nhẫn và luôn muốn tiêm nhiễm những điều xấu về mẹ cho bé. Một lần, ả ta gọi bé đến và hỏi có muốn vào Thanh Hóa thăm mẹ và “em bé” không. Tiếp theo, bà ta lại khiến bé đau lòng khi nói một cách cay nghiệt về cuộc sống khó khăn của mẹ bé. Ả ta bằng mọi cách muốn tiêm vào đầu bé Hồng những ý nghĩ sai trái về mẹ. Tuy nhiên, Hồng vẫn một lòng yêu thương mẹ. Đồng thời, bé Hồng rất căm hận những hủ tục thời xưa đã khiến mẹ bé phải chịu nhiều đau khổ. Đến ngày giỗ thầy, mẹ bé Hồng trở về. Tan trường, bé về, thấy bóng dáng một người phụ nữ ngồi trên xe kéo rất giống mẹ, liền đuổi theo và gọi. Bé chạy theo kịp và phát hiện ra đúng là mẹ. Hồng liền ôm chầm lấy mẹ. Mọi sự nhớ nhung và niềm yêu thương của mẹ đã khiến Hồng òa khóc. Trong vòng tay ấm áp của mẹ. Hồng đã quên hết mọi việc trước kia, cả những lời nói cay độc của bà cô.

Tóm tắt 16

Hồng là một chú bé mồ côi cha, mẹ vì nghèo đói và tìm hạnh phúc mới nên phải rời quê tha hương cầu thực. Hồng sống cùng với bà cô độc ác chuyên soi mói và nói xấu mẹ của Hồng. Bà cô mở lời kêu chú vào Thanh Hoá chơi với mẹ, nói mẹ mình đang có em bé, rách rưới nghèo đói, Hồng nghe thấy nhưng không đáp lại. Cậu Thương mẹ, căm ghét hủ tục lạc hậu đẩy mẹ phải rời xa cậu và khiến mẹ phải tha phương cầu thực nơi xứ người. Một hôm, trên đường đi học về, Hồng từ xa nhìn thấy một người phụ nữ đang ngồi trên xe kéo giống mẹ. Hồng vội chạy theo ngay và gọi to. Hồng đuổi kịp xe kéo và cậu nhận ra người mẹ mình. Hồng nhớ thương mẹ và òa khóc, cậu sà vào lòng mẹ. Cậu cảm nhận ra được vẻ đẹp, yêu thương và tấm lòng của người mẹ. Cậu như quên đi mọi lời cay nghiệt của bà cô.

Advertisement

Tóm tắt 17

Tác phẩm “Trong lòng mẹ” của nhà văn Nguyên Hồng kể về chú bé Hồng bất hạnh. Cha mất sớm vì nghiện ngập, rượu chè, mẹ bỏ nhà đi tha hương cầu thực. Hồng từ nhỏ đã phải sống trong sự cay nghiệt, ghẻ lạnh của họ hàng, đặc biệt là cô bé Hồng. Người cô độc ác luôn buồn những lời cay độc, tàn nhẫn với bé. Ả ta tìm đủ mọi cách để nói xấu mẹ bé Hồng, và muốn bé Hồng trở nên căm ghét mẹ của mình. Một lần, ả ta đã cố gắng làm đau bé bằng cách hỏi bé có muốn vào Thanh Hóa thăm mẹ và “em bé” không. Sau đó, ả lại tiếp tục đả kích bé bằng cách kể về cuộc sống túng quẫn, nghèo khổ của mẹ bé. Tuy nhiên, với tấm lòng yêu thương mẹ mình, bé Hồng vẫn luôn tin tưởng và mong đợi mẹ. Một lần, tan trường, Hồng bỗng thấy có một dáng phụ nữ ngồi xe kéo giống mẹ. Bé Hồng đã chạy theo xe và gọi theo. Đuổi kịp và nhận ra đó là mẹ, Hồng òa khóc. Nằm trong vòng tay ấm áp và tràn đầy yêu thương của mẹ, bé Hồng hạnh phúc và quên hết thảy những lời nói độc ác của bà cô.

Tóm tắt 18

Chú bé Hồng được sinh ra bởi một cuộc hôn nhân miễn cưỡng không hạnh phúc. Cha Hồng vì nghiện ngập mà qua đời. Mẹ Hồng phải đi tha phương cầu thực, bỏ Hồng sống trong sự ghẻ lạnh, khinh bỉ của họ hàng. Gần đến ngày giỗ đầu của ba Hồng, người cô cố tình nói những lời cay độc nhằm khơi gợi nỗi đau trong lòng Hồng và khiến chú khinh miệt, ruồng rẫy mẹ mình. Nhưng những lời cay độc của bà cô không thể làm cho tình yêu thương, kính trọng mẹ trong Hồng lay động. Nước mắt Hồng đã chảy rất nhiều, thương cho những ngày cực khổ phương xa và khao khát được một lần gặp mẹ. Một buổi sớm, trên được đường đi học về, Hồng đã được gặp lại mẹ sau chuỗi ngày nhớ nhung. Nằm trong lòng mẹ, cảm nhận được hơi ấm, cái vuốt ve, cảm giác được mẹ che chở thiếu vắng suốt bấy lâu nay. Trong hạnh phúc vỡ òa, phút chói Hồng cũng quên đi lời mỉa mai của bà cô mà chìm đắm trong sự hạnh phúc tột cùng.

Tóm tắt 19

Gần đến ngày giỗ đầu bố Hồng, cậu lại rất thương và nhớ mẹ mình thì một hôm, người cô gọi cậu đến và hỏi có muốn gặp mẹ, gặp “em bé” ko. Sau đó, bà ta làm cho Hồng đau lòng bằng cách nói về cuộc sống của mẹ Hồng (rách rưới, nghèo khổ đi bán hàng, thấy người quen ko dám chào). Bà ta càng nói Hồng càng im lặng và cậu bắt đầu khóc. Cậu càng thấy thương mẹ, càng căm ghét những hủ tục lạc hậu hơn là ghét mẹ trước những lời bôi nhọ mẹ mình của bà cô thâm hiểm, tàn nhẫn. Một hôm, trên đường đi học về, Hồng thoáng thấy một người ngồi trên xe kéo rất giống mẹ. Hồng liền đuổi theo và gọi to. Vài giây sau, Hồng đuổi kịp xe kéo. Và nhận ra đúng là mẹ mình. Hồng òa khóc nằm trong lòng mẹ. Cậu cảm nhận được tất cả vẻ đẹp, sự yêu thương và dịu dàng của mẹ. Cậu quên hết mọi lời nói độc ác của bà cô, chỉ còn niềm xúc động và tình yêu thương mẹ vô bờ.

Tóm tắt 20

Đoạn trích “Trong lòng mẹ” xoay quanh nhân vật chú bé Hồng với những nghịch cảnh tâm lý trong cuộc sống. Hồng ra đời là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng không tình yêu, em lớn lên trong một không khí giả dối, lạnh lẽo của một gia đình không hạnh phúc. Bố chết, người mẹ cùng túng quá phải đi tha hương cầu thực bỏ lại Hồng sống bơ vơ giữa sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của họ hàng. Bà cô luôn cố tìm cách gieo rắc vào đầu Hồng những ý nghĩ xấu xa về mẹ của mình với mục đích chia rẽ tình cảm mẹ con. Nhưng vượt lên trên tất cả, bằng tình yêu thương, kính trọng mẹ Hồng đã nhận ra ngay những lời nói cay độc của bà cô và không nguôi nỗi nhớ mẹ. Ngày mẹ trở về, Hồng sung sướng, nghẹn ngào hạnh phúc trong vòng tay ấm êm của mẹ và quên hết những lời nói xấu xa mà bà cô từng nói về người mẹ của mình.

Văn Mẫu Lớp 12: Phân Tích Cái Tôi Của Nguyễn Tuân Trong Đoạn Trích Người Lái Đò Sông Đà 2 Dàn Ý & 7 Bài Văn Mẫu Lớp 12

Phân tích cái tôi của Nguyễn Tuân trong đoạn trích Người lái đò Sông Đà tuyển chọn 7 bài văn mẫu siêu hay gồm bài phân tích ngắn gọn, đầy đủ, bài làm của học sinh giỏi. Qua đó giúp cho các em học sinh lớp 12 có thể tự học để mở rộng, nâng cao kiến thức, rèn luyện kĩ năng luyện Văn ngày một tốt hơn.

1. Mở bài

Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân, in trong tập Sông Đà, là thiên tuỳ bút tiêu biểu của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Sức hấp dẫn của bài tuỳ bút này chính là ở “tính chủ quan, tính trữ tình rất đậm, nhân vật chính là cái tôi của nhà văn”.

2. Thân bài

Là nhà văn có.phong cách nghệ thuật đặc sắc, văn chương Nguyễn Tuân hấp dẫn người đọc bởi “cái tôi” độc đáo, sự tài hoa, uyên bác, giác quan sắc nhọn, tinh tế, nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện, giàu hình ảnh, cảm xúc. Sức hấp dẫn của ngòi bút Nguyễn Tuân trong bài tùy bút Người lái đò Sông Đà là ở sự độc đáo, sự giàu có về chữ nghĩa, sự công phu trong quan sát và lựa chọn ngôn từ. Tất cả đều mang đậm chất Nguyễn Tuân.

– “Cái tôi” tài hoa thể hiện ở những rung động, say mê của nhà văn trước vẻ đẹp hùng vĩ và mĩ lệ của thiên nhiên đất nước; ở sự phát hiện và ngợi ca phẩm chất tài hoa nghệ sĩ của những con người lao động; ở những trang văn đẹp như thơ, như nhạc, như hoạ. Nhà văn đã phát hiện và miêu tả sông Đà như một sinh thể sống, với tính cách hung bạo và trữ tình, để từ đó tấu lên một khúc tráng ca về con sông dũng mãnh trên chốn thượng nguồn; đồng thời ngân nga những thanh âm dịu dàng, trong trẻo, êm ái chốn hạ lưu. Từ đó, nhà văn đã tạc dựng hình ảnh người lái đò trong cuộc vượt thác đầy kịch tính và cũng thật ngoạn mục. Nguyễn Tuân tỏ ra hứng thú đặc biệt trong việc khám phá, thể hiện “chất vàng mười” trong tâm hồn con người Tây Bắc. Tất cả đã cho ta thấy ở Nguyễn Tuân một “cái tôi” tài hoa, tinh tế.

– “Cái tôi” uyên bác thể hiện ở cách nhìn và sự khám phá hiện thực có chiều sâu; ở sự vận dụng kiến thức sách vở và các tri thức của đời sống một cách đa dạng, phong phú;ở sự giàu có về chữ nghĩa. Các thuật ngữ chuyên môn của các ngành quân sự, điện ảnh, thể thao,… được huy động một cách hết sức linh hoạt nhằm diễn tả một cách chính xác và ấn tượng những cảm giác về đối tượng. Hình ảnh dòng sông Đà và người lái đò sông Đà đã được nhà văn miêu tả, tái hiện một cách ấn tượng từ nhiều góc nhìn, với những chi tiết điển hình, tiêu biểu; những liên tưởng, so sánh bất ngờ, thú vị. Tất cả đều cho thấy khả năng quan sát và sử dụng ngôn ngữ hết sức điêu luyện của Nguyễn Tuân.

– “Cái tôi” tài hoa và uyên bác chính là một cách thể hiện tình yêu quê hương đất nước, lòng yêu cái đẹp của người nghệ sĩ chân chính; đồng thời cũng cho thấy quan niệm của Nguyễn Tuân: viết văn là để khẳng định sự độc đáo của chính người cầm bút. Thổ tuỳ bút, với đặc điểm của một lối văn “độc tấu” (chữ dùng của Nguyễn Tuân) đã phát huy tối đa hiệu quả của nó trong việc bộc lộ “cái tôi” trữ tình của nhà văn.

3. Kết bài

Khẳng định cái tài và cái tâm của người nghệ sĩ trong sáng tác văn chương.

Nêu cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về “cái tôi” trữ tình Nguyễn Tuân trong tùy bút Người lái đò Sông Đà.

Niềm vui của nhà văn chân chính là niềm vui của những người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp. Nguyễn Tuân là một nhà văn như thế. Ông quan niệm: “Văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật, và đã là nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo”.

Với tùy bút Người lái đò Sông Đà, ngòi bút Nguyễn Tuân như nở hoa trong sự hòa phối kì diệu giữa cái đẹp của ngôn từ với vẻ đẹp tuyệt mĩ của hình ảnh mang đến cho người đọc một hình dung mới mẻ, độc đáo trong chất vàng của thiên nhiên đồng thời là chất vàng mười đã qua thử lửa nơi tâm hồn con người Tây Bắc. Nguyễn Tuân – Một tác giả của nền văn học Việt Nam hiện đại với những thành tựu xuất sắc ở cả hai giai đoạn trước và sau năm 1945. Nguyễn Tuân là biểu hiện độc đáo, trọn vẹn về hình ảnh người nghệ sĩ: vừa rất tài hoa, vừa rất ngông. Tài hoa là cách thể hiện tài năng, sự am hiểu hơn người của mình. Từ người tử tù tài hoa đến một người lái đò bình thường bỗng trở thành người nghệ sĩ. Ngông là cách biểu hiện khinh bạc, khác đời, khác người.

Nguyễn Tuân là một nhà văn duy mĩ bởi ông quan niệm cuộc đời hành trình đi tìm cái đẹp và khẳng định cái đẹp. Con sông Đà trong tùy bút của Nguyễn Tuân hiện lên với những vẻ đẹp độc đáo, gây ấn tượng mạnh mẽ. Người tử tù không nhìn nhận ở phương diện tội ác mà nhìn nhận của sự tài hoa. Người lái đò không chỉ nhìn nhận ở phương diện nghề nghiệp mà được nhìn nhận trên phương diện của một chiến sĩ, một người nghệ sĩ trên sông Đà. Nguyễn Tuân có một kho từ vựng hết sức phong phú và khả năng sáng tạo từ mới. Với ông, viết văn mà hạn hẹp và thiếu thốn từ ngữ sẽ tạo ra loại văn “thấp khớp”, hời hợt, nông cạn.

Cái tôi của Nguyễn Tuân là cái tôi có cảm hứng mãnh liệt đối với những gì gây cảm giác mạnh, gây ấn tượng sâu đậm, độc đáo. Dữ dội phải tới mức khủng khiếp (con sông Đà hung bạo), đẹp phải tới mức tuyệt mĩ (con sông Đà thơ mộng, trữ tình), tài năng phải tới mức siêu phàm (hình tượng ông lái đò). Không chỉ vậy, cái tôi của ông còn là cái tôi giàu suy tư trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước. Thưởng ngoạn vẻ đẹp sông Đà, lòng tác giả dậy lên cảm giác liên tưởng về lịch sử: nhắc tới đời Lí, đời Trần, đời Lê. Trước vẻ đẹp hoang dại của dòng sông, nhà văn suy nghĩ về về tiếng còi tàu, về cuộc sống hiện đại. Trải lòng, hóa thân vào dòng sông để đắm tình non sông đất nước: Nhớ thương hòn đá thác, lắng nghe giọng nói êm êm của người xuôi, trôi những con đò mình nở chạy buồm vải.

Nguyễn Tuân tài hoa trong việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, câu văn. Uyên bác vận dụng tri thức của nhiều kiến thức về địa lí, lịch sử, văn hóa, điện ảnh để miêu tả sông Đà ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau để tiếp cận và miêu tả con sông Đà và người lái đò. Tri thức về võ thuật, quân sự, thể thao để miêu tả cuộc vượt thác của người lái đò như một trận thủy chiến. Tác phẩm Người lái đò Sông Đà không chỉ có giá trị văn học mà còn có những giá trị văn hóa khác.

Nguyễn Tuân là một cái tôi đầy bản lĩnh, đầy ngạo nghễ trong dòng văn học Việt Nam hiện đại. Bằng nỗ lực không ngừng để làm mới mình, Nguyễn Tuân đã khẳng định được một phong cách riêng độc đáo. Người xưa thường nói: “Văn cũng như người”, Nguyễn Tuân là con người thích cuộc sống tự do phóng khoáng thậm chí đôi lúc còn phóng túng. Ông ham mê du lịch, thích chủ nghĩa xê dịch, không chịu được những cái gì chung chung, bằng phẳng, nhợt nhạt. Một cá tính mạnh mẽ, không ưa sự gò bó, khuôn phép. Cho nên Nguyễn Tuân tìm đến với thể loại tuỳ bút, một thể văn tự do, phóng khoáng là một điều dễ hiểu. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cũng đã từng nhận xét: “Nguyễn Tuân là một nhà văn đứng hẳn ra một phái riêng cả về lối viết, tư tưởng”. Điều này thể hiện nhất quán trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông. Trong đó tùy bút “Người lái đò sông Đà” là một ví dụ mẫu mực cho phong cách đó.

Ai đã từng đọc Vang bóng một thời chắc cảm nhận được cái sắc sảo, lịch lãm, tài hoa của Nguyễn Tuân khi ông nói về thư pháp, về uống trà, chơi đèn trung thu của những nhà nho thuở trước mà lòng thêm thư thái, tự hào về bản sắc tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam được kết tinh trong tâm hồn dân tộc qua qua hàng nghìn năm lịch sử.

Đọc Người lái đò Sông Đà ta vui thú thấy Nguyễn Tuân đã để thơ vào sông nước. Ông đã khám phá sự vật – con sông Đà – ở phương diện thẩm mĩ, đã miêu tả, nhận diện con người – ông lái đò – ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ. Tả cảnh thì biến hóa trong bốn mùa, trong mọi thời gian. Nói về thác ghềnh thì đa thanh, phức điệu bằng tất cả cảm giác tinh tế, bằng những liên tưởng đầy góc cạnh với một kho từ vựng dồi dào, sáng tạo. Văn Nguyễn Tuân đúng là những giọt mật của con ong yêu hoa – cần mẫn, sáng tạo, đem thơm thảo dâng hết cho đời.

Khát khao cống hiến cho nghệ thuật, khát khao đi tìm và thể hiện những cảm giác mạnh mẽ dữ dội, cộng với chất nghệ sĩ đã phóng túng, tự do đã thúc đẩy Nguyễn Tuân đến với sông Đà và bằng “nghệ thuật bậc thầy của ngôn từ”, ông đã sáng tạo nên hình tượng con sông Đà – một trong những kiệt tác của nghệ thuật văn xuôi. Văn học Việt Nam có thêm hình tượng một dòng sông, người yêu văn chương có thêm một tác phẩm để mà yêu dấu, trân trọng. Có lẽ hình tượng con sông Đà trong “Người lái đò sông Đà” là một trong những hình tượng thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.

Tiếp xúc với văn chương của Nguyễn Tuân, ta bắt gặp ẩn tàng trong những trang văn là “cảm xúc mạnh, là hơi thở nồng” (Nguyễn Đăng Mạnh) của cái “tôi” trữ tình nghệ sĩ mang khát vọng cuồng nhiệt, muốn biến những trang văn thành những trang hoa lộng lẫy, yêu kiều vừa mê hoặc, vừa thách đố người đọc.

Trải suốt từ trang đầu đến trang cuối tác phẩm là hình ảnh dòng sông Đà được chụp lại ở nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau. Qua việc tìm hiểu dòng sông, người đọc được hiểu thêm về một con người, một nghệ sĩ “suốt đời đi tìm cái thật và cái đẹp” – nhà văn Nguyễn Tuân, bởi vì hình tượng con sông vĩ đại của vùng đất Tây Bắc xa xôi là sự thể hiện khá đầy đủ phong cách hay cái nhìn cuộc sông của nhà văn, ở đó, bạn đọc đã thấy một con người ưa sự độc đáo trong sự tài hoa – uyên bác; một cá tính mạnh mẽ luôn săn tìm những gì dữ dội. mãnh liệt; một thầy phù thủy ngôn từ, hình ảnh…

Dòng sông Đà trong tác phẩm của Nguyễn Tuân bên cạnh vẻ dữ dội, hung bạo như “kẻ thù số một” của con người, cũng có lúc hiện lên rất bay bổng mơ màng, có nét trữ tình của một con người nồng nàn xúc cảm. Nếu có ai hỏi tôi về đoạn văn tâm đắc nhất tôi sẽ trả lời ngay rằng đó là đoạn văn miêu tả vẻ đẹp của dòng sông hiền hòa “con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình… cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Đoạn văn như một khúc nhạc nhẹ êm ái, lại như một bức tranh thủy mặc mang đến cho tâm hồn người đọc những rung động tinh vi, những xúc cảm nhẹ nhàng. Bằng tất cả tài năng và tâm huyết của mình, dòng sông dữ dội đã mờ phai, chỉ còn hình ảnh của dòng nước nhẹ nhàng, cũng có những rung động yêu thương “dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Dù được tái hiện dưới góc độ thiên nhiên nhưng Nguyễn Tuân đã thổi vào dòng sông Đà những cảm xúc tinh tế của một con người nghệ sĩ tài hoa. Nó cũng biết “dịu dàng”, cũng yêu thương, duyên dáng, cũng hồn nhiên, lặng lẽ… Nguyễn Tuân không chỉ nhìn dòng sông ấy như một con người, mà còn hơn thế, một con người có một tâm hồn nghệ sĩ. Chính vì vậy Nguyễn Tuân mới coi dòng sông Đà như một “cố nhân” (“nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân”), trong nhiều tác phẩm, nhà văn họ Nguyễn đã thể hiện tình yêu với những con người tài hoa, những thiên nhiên mĩ lệ. Tùy bút “Sông Đà” là một tác phẩm như thế là sự kết hợp của tình yêu con người và tình yêu thiên nhiên tập trung trong hình ảnh dòng sông Đà. Từ xưa đến nay đã có ai có niềm vui “như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, như nối lại chiêm bao đứt quãng” khi trông thấy dòng sông. Đó chính là vì Nguyễn Tuân đã nhìn dòng sông như một con người, và hơn thế, một con người tài hoa, một cố nhân lâu ngày gặp lại.

Tình yêu cuộc sống, lòng ham hiểu biết về con sông, cây cầu của non sông đất nước cũng như ý thích đi lại hoạt động…đã tạo cho mỗi trang viết của Nguyễn Tuân ngồn ngộn kiến thức, thể hiện một sự hiểu biết tường tận từng chi tiết được nói tới trong văn mình. Dòng sông Đà có thể được tái hiện rất trữ tình, thơ mộng nhưng cũng có lúc khúc Đà giang vĩ đại hiện lên chính xác trong từng con số. Nguyễn Tuân thoắt trở thành nhà địa lí khi đưa ta về với thượng nguồn sông Đà ở Cảnh Đông tỉnh Vân Nam sau đó chan hòa vào sông Hồng, chảy trên đất Việt 500 cây số trong tổng chiều dài 883 nghìn thước mét, khi kể ra rất chính xác, cụ thể về “những cái thác, những cái ga nước trên sông Đà từ Vạn Yên về xuôi”. Cũng có khi nhà văn trở thành một nhà điện ảnh, với ngôn ngữ của nghệ thuật thứ 7” những thước phim màu cũng xoay tít, cái máy lia ngược contre – pioneer lên cái mặt giếng mà thành giếng…”. Quả thật, khi miêu tả dòng sông Đà, Nguyễn Tuân đã đứng trong vai trò của nhiều nhà khoa học: một người chuyên nghiên cứu lịch sử biết dòng sông dưới thời Pháp thuộc có một “cái tên Tây lếu láo”; một nhà chính trị khi biết “châu Quỳnh Nhai được giải phóng trước tiên ở Tây Bắc”, trở thành “cơ sở bàn đạp ở Tây Bắc” xuyên vào lòng địch… Không chỉ thế Nguyễn Tuân còn huy động những hiểu biết về những môn nghệ thuật gần gũi với văn chương như hội họa (“con sông Đà tuôn dài…”); điêu khắc có chỗ vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”…), ở những lĩnh vực rất xa văn chương, Nguyễn Tuân cũng rất hiểu biết và sử dụng rất linh hoạt qua đó tái hiện Đà giang ở nhiều góc độ khác nhau. Nguyễn Tuân đã sử dụng cả kiến thức võ thuật để dựng một thạch trận dòng sông: kiến thức thể thao khi miêu tả cuộc chiến đấu “các luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác”… Nhờ những hiểu biết này, sông Đà đã hiện lên thật sinh động cụ thể, thật dữ dội cứng cỏi của võ thuật thật bay bổng của hội họa, văn chương… Nguyễn Tuân đã vươn tới văn chương chuẩn mực: trữ tình, sâu lắng mà chính xác, khoa học… Trong quá trình làm sống dậy dòng sông Đà, Nguyễn Tuân không chỉ thể hiện mình là người biết, mà còn rất ham hiểu biết, say sưa khám phá những lĩnh vực mới mẻ trong cuộc sống. Trong Lịch sử văn học, có lẽ chẳng có ai đủ kì công như nhà văn đất Thăng Long khi mấy lần bay qua dòng sông Đà chỉ để hạ bút viết mấy câu: đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân hay trên sông Đà… vì mỗi độ thu về”.

Với lòng yêu say tiếng mẹ đẻ, sự hiểu biết sâu sắc về sự biến đổi từng từ ngữ. Nguyễn Tuân đã trở thành thầy phù thủy ngôn từ với hàng trăm phép biến hòa mà mỗi phép biến hóa có công dụng lạ lùng mặc dù trong cuộc đời, nhà văn chỉ thừa nhận ông là “người viết văn bằng tiếng Việt” chứ không phải “nhà văn” hay bất cứ một danh hiệu cao quý nào khác. Trong tùy bút “Sông Đà” – ông đã dùng hết tài năng, vốn từ ngữ của mình tung ra trang giấy để tái hiện sự hung bạo của dòng sông cũng như vẻ đẹp trữ tình của một nhân lâu ngày lặp lại”. Với sự hiểu biết rộng rãi của mình, Nguyễn Tuân đi dùng từ ngữ trong nhiều lĩnh vực để tái hiện được hết tất cả những góc độ khác nhau của dòng sông. Có ngôn ngữ của điện ảnh (“Contre – plongée”); có võ thuật (“đánh khuýp quật vu hồi”); có cả từ ngữ về ô tô (“sang số nhấn ga” Những từ ngữ này mang đặc trưng của mỗi lĩnh vực nhưng đều tập trung thể hiện dòng sông Đà. Với cách sử dụng từ ngữ như thế, nhà văn đã đưa nhiều lĩnh vực tưởng xa với văn chương trở nên gần gũi đã tập trung thể hiện hình tượng văn học.

Trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” ta còn gặp rất nhiều phép so sánh liên tưởng thú vị và bất ngờ. Để diễn tả cảm giác lạnh lẽo khi ngồi trong khoang đò qua một quãng sông, Nguyễn Tuân đã “cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái lầu nhà thứ mây nào vừa tắt phụt đèn điện”. Có phép so sánh nào độc đáo và hiệu quả đến thế không ? Có những khi Nguyễn Tuân đã lấy lửa để so sánh với nước “thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Hình ảnh so sánh cùng nhịp câu văn ngắn, dồn dập tạo cảm giác sóng gió đang cuồn cuộn dâng trào… Phép so sánh “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa tập trung thể hiện lòng trân trọng giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện lòng yêu say thiên nhiên tươi đẹp, đồng thời thể hiện một cách cảm nhận cuộc sống tươi sáng, trong ngần như pha lê của người chiến sĩ văn hóa.

Mỗi một nhà văn đều được coi như một loài hoa quý tỏa ngát hương thơm đặc biệt trong cánh rừng đại ngàn văn học. Nhà văn Nguyễn Tuân cũng vậy, ông đã đem lại hương thơm ngào ngạt cho nền văn học Việt Nam qua tác phẩm “Người lái đò sông Đà” bằng một “cái tôi” cá nhân riêng biệt bởi tình yêu thiên nhiên.

Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời săn tìm cái đẹp. Phong cách sáng tác của ông nổi bật ở sự ngông ngạo, khác người đó là sự phóng túng, tài hoa, uyên bác. Tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là kết quả của chuyến đi thực tế Nguyễn Tuân thu hoạch được khi đến với vùng Tây Bắc xa xôi. Qua tác phẩm, nhà văn đã thể hiện một “cái tôi” riêng biệt đó là “cái tôi” tài hoa, uyên bác và có ý thức, trách nhiệm sẵn sàng góp một phần chiến công của mình trên mặt trận xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Mở đầu tác phẩm, ta bắt gặp hình ảnh con sông Đà cá tính, ngạo nghễ chảy về hướng Bắc khắc hẳn so với những con sông khác. Đây cũng chính là đối tượng chính để nhà văn Nguyễn Tuân bộc lộ nét chấm phá riêng biệt của ngòi bút tài hoa, uyên bác. Cái “tôi” tài hoa, uyên bác thể hiện qua niềm say mê cái đẹp của Nguyễn Tuân trước vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, đất nước. Nguyễn Tuân đã miêu tả con sông Đà ở nhiều vẻ đẹp khác nhau. Hung bạo là tính cách nổi bật nhất của sông Đà, nhà văn đã sử dụng kĩ xảo ngôn từ vận dụng kiến thức của các ngành khoa học khác nhau để tạo sự cảm nhận mang tính mới mẻ về sông Đà. Tác giả miêu tả và cảm nhận hình ảnh sông Đà để người đọc thấy được sự hùng vĩ ghê rợn của dòng sông. Sông Đà hung bạo, dữ dội ở cảnh thác đá và các trùng vi thạch trận. Thông qua miêu tả sự hung hiểm của thác đá, Nguyễn Tuân đã làm nổi bật lên sự hùng vĩ, hung bạo của sông Đà. Đá bờ sông dựng “vách thành” gợi độ cao lên đến tận cùng và độ hẹp đến mức tối đa khi con nai, con hổ cũng có thể nhảy vọt từ bờ bên này qua bờ bên kia. Tác giả miêu tả dòng sông như một con thủy quái đáng sợ ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng, quãng Tà Mường Vát tàn bạo đến ghê gớm. Với sự tài hoa và tinh anh, nhà văn Nguyễn Tuân đã phát lộ thành tiếng nói nghệ thuật ở những trận thủy chiến trên mặt trận sông Đà. Ở trùng vi thạch trận thứ nhất, nhà văn đã đặt dòng sông ở trận chiến với ông lái đò, nhà văn đã miêu tả từ sự hùng vĩ đến đáng gờm của dòng sông khi chúng huy động cả đá, nước thác hỗ trợ nhau để hạ gục ông lái đò. Sang đến trùng vi thạch trận thứ hai khi cửa tử nhiều hơn cửa sinh thì nhà văn đã miêu tả dòng sông trong thế đối lập với sự đơn độc của ông lái đò để làm nổi bật sự tài hoa của ông lái đò khi vượt qua thác đá an toàn. Sự hung bạo của dòng sông chưa dừng lại ở đó, sang đến trùng vi thạch trận thứ ba thì cả bên phải, bên trái đều là luồng chết cả. Để biến sông Đà thành con thủy quái hung tợn, Nguyễn Tuân đã tả một cách chi tiết, tỉ mỉ, gây cảm giác mạnh. Sông Đà hiện lên trong trạng thái vận động dưới trí tưởng tượng phong phú và khả năng quan sát tinh tường của nhà văn.

Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân thì dòng sông không chỉ nổi bật ở vẻ đẹp hung bạo mà nó còn rất đỗi thơ mộng trữ tình bởi một cái tôi yêu thiên nhiên sâu sắc. Sông Đà đã làm nên nét đẹp riêng biệt của vùng núi Tây Bắc, “con sông tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình”. Nhà văn đã so sánh dòng sông như một người con gái để làm mềm đi văn bản và vô cùng phù hợp với tình cảm, trạng thái của con người Việt Nam. Sông Đà trở nên thơ mộng bởi màu sắc của nước sông còn thay đổi theo từng mùa. Sông Đà còn gợi cảm như là một cố nhân, nó ánh lên vẻ đẹp màu sắc Đường thi, nó giống như một người bạn cố tri để nhà văn gặp được một mảnh tâm hồn mình. Ta có thể cảm nhận được hình ảnh sông Đà được gợi ở nhiều góc độ, dưới sự quan sát tường tận, am hiểu chi tiết của nhà văn. Khi mô tả về sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân đã sử dụng tinh hoa trong ngòi bút của mình, vận dụng kiến thức của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để khắc họa về một dòng sông mạnh mẽ, dữ dội nhưng rất đỗi thơ mộng, trữ tình.

Cái “tôi” Nguyễn Tuân còn thể hiện qua việc phát hiện, ngợi ca vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ của con người lao động thông qua hình ảnh ông lái đò. Ông lái đò là một trong những hình tượng nghệ thuật đẹp trong trang văn của Nguyễn Tuân sau cách mạng Tháng Tám. Ông lái đò là một nhân vật đặc biệt hiển hiện giữa núi rừng Tây Bắc, bình thường, giản dị nhưng có sức mạnh phi thường. Ông lái đò có ngoại hình và tố chất đặc biệt bởi những phác họa về cái tay “lêu nghêu”, cái chân “khuỳnh khuỳnh”, giọng nói thì “ào ào” như tiếng nước trước mặt ghềnh. Chính hoàn cảnh sóng nước hung bạo đã khiến cho ông lái đò có ngoại hình và tố chất như vậy. Trước sự hung bạo của thiên nhiên, ông lái đò là người tài trí và rất mực dũng cảm. Ông có hiểu biết tường tận về tính nết của dòng sông, về quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở. Ông đã chỉ huy các cuộc vượt thác một cách tài tình, khôn ngoan bằng cái nhìn từng trải mà không thiếu đi những nét lãng mạn. Đó cũng chính là quan niệm của nhà văn Nguyễn Tuân về người anh hùng, người anh hùng có ngay giữa cuộc sống đời thường, hiện diện trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên. Bởi vậy, ông lái đò chính là biểu tượng cho vẻ đẹp của con người lao động. Nhà văn đã thu thập hình tượng làm nên một vẻ đẹp khái quát về người anh hùng chinh phục thiên nhiên, ông lái đò mang vẻ đẹp sử thi, đời thường và là một người nghệ sĩ trên sông nước. Ông lái đò chính là hiện diện của “cái tôi” có ý thức, trách nhiệm đối với đất nước.

Qua tác phẩm, ta thấy được Nguyễn Tuân là một nhà văn vừa có tâm lại vừa có tài, nhà văn đã khẳng định vẻ đẹp có ở khắp mọi nơi trên mặt đất chứ không phải chỉ có ở những con người kiệt xuất như trước cách mạng Tháng Tám. Bằng ngôn từ điêu luyện và sự am hiểu tường tận về thiên nhiên, nhà văn Nguyễn Tuân đã phác họa thành công vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc.

“Người lái đò sông Đà” chính là một tuyệt bút của “cái tôi” Nguyễn Tuân. Nhà văn đã khám phá ra vẻ đẹp ẩn chứa bên trong dòng sông hung bạo và bên trong của con người bình thường. Khép lại trang sách, ta vẫn thấy vang vọng trong suy nghĩ một dòng sông dữ dội nhưng rất đỗi thơ mộng trữ tình và một con người tài ba giữa cảnh thác lũ của “cái tôi” Nguyễn Tuân.

Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ. Đối với ông, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật, và đã là nghệ thuật thì phải có phong cách độc đáo. Đúng vậy! Với phong cách tự do phóng túng và ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân, Nguyễn Tuân đã tìm đến tùy bút như một điều tất yếu. Sức hấp dẫn của tùy bút xét đến cùng tùy thuộc vào cái tôi của người cầm bút có thực sự độc đáo, phong phú và tài hoa hay không. Điều ấy nói rằng không phải ai cũng trở thành bậc thầy như Nguyễn Tuân. Chỉ cần một văn phẩm “Người lái đò sông Đà” đã có thể tôn vinh Nguyễn Tuân là một cây tùy bút độc đáo, tài hoa, uyên bác.

Những năm tháng đến với Tây Bắc là ông đi tìm “thứ vàng mười đã được thử lửa”, “chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc” để hát ca về thiên nhiên đất nước, những con người đang ngày đêm thầm lặng trong gian lao vất vả để dựng xây cuộc sống mới ở vùng cao heo hút này.

Tập Tùy bút Sông Đà nói chung và Người lái đò sông Đà nói riêng là bức tranh sinh động về thiên nhiên và cuộc sống của người nơi đây, mang đậm cảm hứng lãng mạn trong sáng và thể hiện rất rõ phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân.

Nét độc đáo, tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân trước hết ở tiếp cận và khai thác đối tượng từ nhiều phương tiện thẩm mỹ, văn hóa. Mở đầu tác phẩm, dòng sông Đà được miêu tả như một công trình mỹ thuật tuyệt vời của hóa công. Con người lao động trên dòng sông thật giản dị, nghèo khó, cần cù nhưng được nhà văn xây dựng như một tài hoa, nghệ sĩ trí, dũng tuyệt vời trong nghề chèo đò vượt thác.

Sau mỗi chuyến đi hiểm nguy, gian lao nhưng ông vẫn bình thản. Mọi hiểm nguy xèo xèo như bọt nước tan trong trí nhớ. Sông Đà chỉ như một chiếc lá thu, và ông đến với nó như đến với một người bạn lắm chứng nhiều tật mà vẫn phải ăn đời ở kiếp. Lao động thật gian nan nhưng tâm hồn người lái đò cũng thật lãng mạn, quả là một nghệ sĩ tài hoa trong nghề chèo đò vượt thác.

Nguyễn Tuân không ưa cái nhìn bằng phẳng, nhợt nhạt, yên ổn. Ông là nhà văn của tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cách tuyệt mĩ, của gió, bão, núi cao rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội…Vì vậy ông soi chiếu đối tượng ở nhiều phương diện. mang đến cho người đọc lượng thông tin phong phú, chính xác và thú vị. sử dụng bút pháp của hội họa, âm nhạc, điện ảnh, điêu khắc huy động vốn kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau như: địa lý, lịch sử, võ thuật, quân sự.

Ông xoay ngắm một dáng sông, dựng nó dậy như một cơ thể sống biết gào thét, lồng lộn trên từng hàng chữ thật kì thú. Và hình ảnh ông lái đò như một dũng tướng gan dạ, mưu trí, quyết liệt. Tay luôn giữ chặt mái chèo, chân kẹp chặt cuống lái, ông nhớ từng cử sinh để điều khiển chiếc thuyền.

Nguyễn Tuân dùng sức mạnh điêu luyện của ngôn ngữ truyền hồn sống vào từng khối đá linh động, biến chúng thành bầy thạch tinh hung hãn trong cuộc giao tranh với con người. Tả về thiên nhiên dữ dội, khủng khiếp cũng chỉ để tôn vinh sức mạnh, lòng quả cảm, sự kì vĩ của con người trong cuộc chinh phục thiên nhiên, đồng thời đem lại cho người đọc những cảm giác thẩm mỹ mới mẻ.

Người lái đò sông Đà đã đạt tới trình độ nghệ thuật bậc thầy về thể loại tùy bút, ở đó, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ một cái tôi độc đáo, tài hoa, uyên bác và phóng túng. Ông đã mang đến cho người đọc những trang văn thấm đẫm một vẻ đẹp tinh khôi mơn mởn, căng tràn nhựa sống của thiên nhiên. Vẻ đẹp ngôn ngữ trong trang văn như thôi miên người đọc vào mê cung của cảnh vật sông Đà đẹp đến mê hồn và những con người lao động bình dị trên sông nước.

Nguyễn Tuân là một người nghệ sĩ tài hoa, đối với sự nghiệp văn chương ông có những nét đặc sắc tiêu biểu mà không phải người nghệ sĩ nào cũng có đó là những vẻ đẹp trong phong cách nghệ thuật nó riêng biệt và độc đáo tiêu biểu trong phong cách sáng tác của ông tiêu biểu nó thể hiện qua bài Người lái đò sông Đà.

Nguyễn Tuân là một người nghệ sĩ tài hoa và cả đời của ông luôn phấn đấu để đi tìm những điểm riêng biệt và những cái đẹp trong phong cách nghệ thuật của mình. Trong bài tùy bút Người lái đò sông Đà ông đã thể hiện rõ được những điều đó, bởi đây là bài mà ông rất tâm huyết và ông đã dùng chính tài năng và phẩm hạnh của mình để sáng tác lên những tác phẩm đậm chất bi tráng này, dòng sông của người lái đò là dòng sông mà ông đã quan sát và ông có cái nhìn sâu sắc về nó, nó không chỉ là một dòng sông biểu hiện cho sức mạnh mẽ của con người mà đó là dòng sông của minh chứng lịch sử. Với tài năng nghệ thuật độc đáo riêng biệt ông đã tạo nên cho mình những sáng tác riêng và đó là những sáng tác cổ xưa và mang bao dấu ấn mạnh mẽ tác giả không chỉ dừng chân ở đây để có những quan sát thấu đáo mà ông đã dùng những cảm xúc thật của mình để viết lên bài thơ này.

Hình ảnh của người lái đò sông Đà đã được thể hiện rất sinh động qua phong cách nghệ thuật của ông, ông đã dùng những sáng tạo nghệ thuật đó để áp vào cho những con người ở nơi đây, hình ảnh về dòng sông của quê hương đất nước đã tạo nên những dấu ấn mạnh mẽ trong lòng tác giả, ông đang thể hiện những điều đó rất nổi bật trong cách sáng tác của chính mình. Hình ảnh về dòng sông của quê hương đã tạo cho ông cảm hứng để viết lên bài tùy bút hay như thế này. Tác giả có cách tạo ấn tượng rất đặc sắc qua cách giới thiệu về dòng sông nó đã tạo nên những ấn tượng mạnh mẽ cho người nghe, tác giả không khỏi hình dung ra những chi tiết đặc sắc khác thể hiện trong tác phẩm này. Hình ảnh về dòng sông nó mang những tính cách của con người. Dòng sông cũng có lúc hung bạo và cũng có lúc trữ tình nó đã làm xoay chuyển mọi tính cách qua những hoàn cảnh khác nhau, hình ảnh về dòng sông cũng giống như về con người, tác giả đã miêu tả và quan sát dòng sông qua những tính cách điển hình và tiêu biểu đó. Trong bài tùy bút tác giả đã thể hiện hàng loạt những chi tiết thể hiện dòng sông hung bạo đó là có những vách đá ngăn thành chết lòng sông Đà như một cái yết hầu.

Và hàng loạt các chi tiết khác cũng thể hiện rõ điều đó dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn, các chi tiết như ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre đã thể hiện được hình ảnh về dòng sông quê hương đất nước. Tác giả đã dùng tài năng của mình để sáng tác lên những hình ảnh hay và sinh động như vậy, hình ảnh đó thật mang dại và chính với khả năng và tài năng của mình ông đã vẻ lên một hình ảnh về dòng sông với vẻ đẹp thật hùng vĩ, với cách so sánh sinh động đã tạo nên cho ông một bài tùy bút hay và nó để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Với cách so sánh hợp tình và hợp lý như vậy hình ảnh về dòng sông cũng đã thể hiện rất chi tiết và đặc sắc nó mang ấn tượng cho người đọc, bởi hàng loạt những hình ảnh tạo ấn tượng riêng biệt, hình ảnh về quê hương của chúng ta đã hiện lên những hình ảnh đẹp và ngày càng thu hút mạnh mẽ tầm quan sát của người đọc, những hình ảnh trên cũng đã mang cho người đọc những cái nhìn sâu rộng và nó trở thành một niềm tin sáng lóe trong cái nhìn của tác giả về chính sản phẩm mà ông đã tạo ra.

Ông là một người có những trí tưởng tượng cũng vô cùng phong phú, cũng có lúc ông đã sử dụng những hình ảnh kỹ thuật của điện ảnh của âm thanh hội họa để thể hiện được những chi tiết tiêu biểu qua tác phẩm này, ông cũng nhân hóa những hình ảnh của dòng sông để miêu tả và có thể cảm nhận được tính cách hung bạo của dòng sông đó, hình ảnh về dòng sông nó mang những dấu ấn mạnh mẽ trong cách sáng tác của tác giả, những thác gập ghềnh và nó mang cho chúng ta cái nhìn sâu sắc hơn về những hình ảnh đó, hình ảnh của dòng sông Đà đã được tác giả thể hiện sinh động và vô cùng ấn tượng cho người đọc, nó không chỉ mạnh mẽ trong đường khối mà nó cũng đã tạo nên những tính cách khác cho người đọc, hình ảnh của dòng sông đã tạo nên những ấn tượng mạnh mẽ trong lòng tác giả bởi tính cách và những nét riêng biệt mạnh mẽ.

Những hình ảnh về một dòng sông hoang dại và hung dữ cũng đã được thể hiện sâu sắc trong nhà văn, ông đã dùng tài năng của mình để nói về những hình ảnh đó, cảm xúc của nhà văn cũng thật sâu sắc và sinh động khi ông nói về cảm xúc của chính mình và dòng sông đó đã mang lại. Và chúng ta nhìn thấy tài năng của tác giả được thể hiện mạnh mẽ trong đó, Nguyễn Tuân đã ca ngợi dòng sông này và nó hiện lên thật độc đáo và sinh động, tính cách của dòng sông đó là dòng sông trữ tình và yêu thương nó đã hiện hữu trong con người của tác giả. Hình ảnh của dòng sông hiền hòa cũng được tác giả thể hiện sâu sắc trong bài tùy bút này, dòng sông được tác giả miêu tả như người con gái có mái tóc dài, màu sắc cũng được thay đổi đặc sắc trong bài thơ, với những nét phong phú và đặc sắc của bài thơ tác giả đã thể hiện được những chi tiết đặc sắc và mang những dấu ấn mạnh mẽ trong lòng của tác giả.

Advertisement

Nghệ thuật xây dựng hình tượng người lái đò của Nguyễn Tuân đã điển hình và nó thể hiện những không khí hào hùng và man dại trong cái nhìn của nhà văn, Nguyễn Tuân là nhà văn đã biết tạo lên hình tượng của dòng sông qua những chi tiết thật và không khí hiện lên cùng man rợ và có những ấn tượng sâu sắc và vang nhộn. Hình ảnh về một dòng sông có những chi tiết rất đặc sắc và nó đúng với không khí và chi tiết mà tác giả đã và đang sử dụng ở đây. Với cái nhìn đầy thiện cảm và nó đã tạo nên những sâu sắc riêng trong con mắt nhìn của tác giả về cái nhìn và cách quan sát của tác giả cũng thật toàn diện nó mang những dấu ấn mạnh mẽ và trang nghiêm, những chi tiết tuyệt vời mà tác giả thể hiện trong tác phẩm này là tác giả đã miêu tả rõ ràng và chi tiết và hình tượng tiêu biểu của tác giả về những hình ảnh đó, hình ảnh về quê hương và với tình yêu quê hương thắm thiết đã tạo nên cho tác giả cái nhìn sâu sắc hơn, ông đã miêu tả dòng sông qua con mắt thấu đáo của mình.

Với tài năng và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ ông đã thể hiện rất nhiều những câu văn nhẹ nhàng và nó đã thể hiện một tình cảm đặc biệt của tác giả đối với dòng sông Đà, dưới ngòi bút thần của tác giả thì hình ảnh đó trở lên thật mỹ lệ và không có gì sánh bằng. Hình ảnh về thiên nhiên cũng được tác giả thể hiện sinh động và hình ảnh về người lái đò sông đà cũng được thể hiện rất chi tiết và đặc sắc nhà văn đã ví thiên nhiên Tây Bắc như một thứ vàng mười, và nó thật quý giá trong con mắt nhìn người và cách quan sát của tác giả về những chi tiết nổi bật đó.

Với tài năng và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của mình thì nó đã mang cho tác giả một cái nhìn toàn diện hơn về phong cách sáng tác của nhà văn, nhà văn không chỉ mang một vẻ đẹp của người nghệ sĩ tài hoa mà ông còn mang những vẻ đẹp của một người có cái nhìn đời sâu sắc.

Người lái đò Sông Đà trích trong tập tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân, sáng tác năm 1960. Đây là kết quả chuyến đi thực tế của tác giả ở Tây Bắc năm 1958. Phong cách, con người Tây Bắc đã đi vào trang sách với một niềm vui sống bao trùm lên tất cả, xen lẫn những cảm tưởng và xúc cảm trữ tình trước vẻ đẹp kì vĩ, lạ lùng của non sống Tây Bắc.

Tác phẩm lấy người lái đò làm nhân vật chủ thể của câu chuyện về Sông Đà nhưng thực chất là cảm nghĩ, nghe nhìn, quan sát, nghiền ngẫm và sáng tạo của Nguyễn Tuân. Mượn lời ông lái đò già nhưng chính là tác giả miêu tả con sống từ nhiều góc độ khác nhau, qua đó bộc lộ tâm tư tình cảm của mình đối với con sông đại diện cho thiên nhiên và con người Tây Bắc.

Với lối viết của Nguyễn Tuân, Sông Đà đã trở thành Sông Đà – Nguyễn Tuân. Đó là con sông có độ dày lịch sử, tạo ra những con người anh hùng của riêng nó. Sông Đà được vẽ nên bằng ngòi bút biến hóa tài tình, độc đáo, thể hiện sự gắn bó với đất nước đến mức sâu xa nhất của tâm hồn tác giả.

Sông Đà dữ, Sông Đà anh hùng ca, bản chất của Sông Đà là vậy. Tài ba của nhà văn càng làm cho bản chất ấy nổi bật lên. Sông Đà hung bạo ở những đoạn có thác dữ, những quãng lòng sông hẹp, bị kẹp giữa hai vách núi cao hay những chỗ có xoáy nước khủng khiếp, hút tất cả những gì sa vào đó và dìm xuống đáy sông.

Ở đoạn này có nhiều chi tiết chính xác, khoa học xen lẫn cảm xúc dạt dào tính trữ tình của tác giả. Sông Đà khi thì dữ dội, nguy hiểm trong cái hùng vĩ không ngờ: nào là chét lại thành cái yết hầu, nào là vách đá dựng đứng cao vút, đúng ngọ mới thấy mặt giời… mùa hè vẫn lạnh… Khi thì pha chút huyền thoại trong những nét nên thơ như con nai, con hổ vọt từ bờ này sang bờ kia, tưởng như lòng sông chỉ còn là dải yếm trong ca dao xưa.

Cái gì của Sông Đà cũng dữ. Cát, gió, đá, thác ghềnh, sóng nước phối hợp với nhau : Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió và gió cứ cuồn cuộn từng luồng. Chỉ nghe tiếng nước ở những quãng lắm thác cũng đã đủ ghê người. Tiếng reo của nước lúc nghe như là oán trách, rồi lại như là van xin, rồi lại là như khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo… Rồi bỗng dưng không biết chuyện gì mà nó rống lên như một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn. Hoặc có lúc nó reo như đun sôi lên một trăm độ muốn hất tung đi một cái thuyền đang phải đóng vai một cái nắp ấm một ấm nước sôi khổng lồ. Nhưng không đâu tiếng nước nghe lạ như ở những cái hút xoáy. Ở đó nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào.

Tiếng nước đã ghê, sức nước còn đáng sợ gấp bội. Mặt sóng cũng có ổ gà như mặt đường kạn, đi vào ổ gà sống là thuyền bị giật xuống bị trồi lên. Thuyền đi vào luồng nước thì chết ngay, hoặc đi không trúng tim luồng thì cũng vẫn có thể là thập tử nhất sinh. Những quãng hiểm trở của Sông Đà mang diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một của con người: hung hãn, nham hiểm và xảo quyệt.

Sông Đà dữ quả là không sai với tiếng đồn. Cát, đá, nước, gió, sóng hùa nhau bẫy người vào chỗ chết. Nguyễn Tuân đã dùng ngòi bút trăm màu để miêu tả hàng loạt những hình ảnh khác nhau mà luôn luôn đắc sách, vừa có chất trí tuệ vừa có tính tạo hình, vượt xa những thủ pháp mà người ta quen gọi là nhân hóa, đi vào bản chất sâu xa nhất, độc đáo nhất của sự vật, tạo thành những trang viết biến hóa khôn lường. Do thế mà cái dữ dội của Sông Đà trở nên môi trường anh hùng ca vô cùng độc đáo.

Sông Đà dữ dội nhưng Sông Đà cũng rất trữ tình. Đó là ở những đoạn xuôi chèo êm ả. Nhìn từ máy bay xuống, Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.

Nước Sông Đà màu sắc thay đổi theo mùa: Mùa xuân dòng xanh ngọc bích,… mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ. Trên sông, những chiếc thuyền then đuôi én xuôi dòng, tạo cho sông vẻ thơ mộng riêng của nó. Là sông mà nó nói với con người bao điều. Nguyễn Tuân nhìn Sông Đà như nhìn một cố nhân, một người thân cũ lâu ngày gặp lại. Nhà văn say mê ngắm màu nắng giòn tan vàng như hổ phách trên sông mà chợt liên tưởng tới màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” trong bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng của thi hào Lý Bạch đời Đường bên Trung Quốc.

Bên trên là thái độ đối với Sông Đà, còn đây là tình cảm của tác giả đối với con người, sản phẩm của dòng sông ấy. Ông lái đò là sản phẩm của Sông Đà được tác giả tập trung mô tả trong cuộc vật lộn với thác nước Sông Đà. Cái dữ dội của Sông Đà đã có ông lái trị được. Hình ảnh ông lái đò: cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cái cuống lái, mặt méo bệch đi mà vẫn cưỡi lên con thác, nắm chặt lấy bờm sóng, ghì cương, đè sấn lên mà chặt đôi con thác… rất sinh động và ấn tượng.

Lên thác phải chống bằng sào. Trên vai người lái đò, đầu sào in vào một khoanh bầm, đó là hình ảnh thực. Tác giả bình thêm: Cái đồng tiền tụ máu cũng là cái hình ảnh quý giá của một thứ huân chương lao động siêu hạng tặng cho người lái đò Sông Đà. Con người dũng cảm, thông minh đã chiến thắng được thiên nhiên dữ dội. Ở người lái đò này, có cái gì mà không in dấu con sông, không là sản phẩm của Sông Đà? Sông Đà đối với ông lái đò quả là một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những dấu chấm câu và những đoạn xuống dòng, ông lái đò đã trở thành một nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác ghềnh. Nguyễn Tuân gọi tài nghệ của ông là tay lái ra hoa.

Đọc văn Nguyễn Tuân, nhất là tùy bút, có người cho rằng như soi trong Ống kính trăm màu. Thực ra, ngòi bút tác giả không chỉ bảy màu mà trăm ngàn màu sắc. Nguyễn Tuân đi rất sâu vào bản chất của sự vật, sự việc, con người để tìm hiểu, khám phá và nắm bắt kì được cái cốt lõi, tinh túy, cái hồn của nó. Đồng thời có sự kết hợp giữa trình độ hiểu biết uyên bác, tác phong làm việc nhanh nhạy, tỉ mỉ, khoa học, giàu chất trí tuệ và cảm xúc đậm đà chất trữ tình được thể hiện dưới những hình thức ngôn ngữ sáng tạo rất độc đáo, rất Nguyễn Tuân, không thể lẫn với bất kì ai khác.

Tùy bút Sông Đà phần nào chứng tỏ bút lực già dặn cùng phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân – cây đại thụ của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại.

……………

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Mẫu Lớp 8: Phân Tích Nhân Vật Hồng Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ 2 Dàn Ý + 16 Bài Văn Mẫu Lớp 8 Hay Nhất trên website Vtlx.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!